TIẾU
NGẠO GIANG HỒ- HỒI 51
Những
Bộ Xương Khô Trong Mật Động
Kim Dung
Lệnh Hồ Xung chuyển ý nghĩ rồi
bụng bảo dạ:
- Hôm ở trong viện Quần Ngọc núi
Hành Sơn, suýt nữa mất mạng
về chưởng lực của Dư Thương
Hải may nhờ Lâm sư đệ giàu
lòng trượng nghĩa, chẳng kể
gì đến sự yên nguy của bản
thân mạnh dạn
đứng ra nói mấy câu hùng
dũng. Thực ra gã có ơn cứu
mạng cho ta. Thế mà ta đem "Tùng Phong
kiếm
pháp" của phái Thanh Thành để
đối phó với "Ngọc nữ
kiếm thập cửu thức" của tiểu
sư muội thì trong
thâm tâm không khỏi có điều
hiềm khích Lâm sư đệ và
tỏ ra Tịch tà kiếm phổ nhà
họ Lâm không đủ
chống lại một đòn.
Hắn nghĩ thế không khỏi ngấm
ngầm hổ thẹn, liền thở phào
một cái nói:
- Lâm sư đệ tư chất thông
minh, lại gắng công rèn luyện, nhất
là mấy bữa nay gã được
tiểu sư
muội chỉ điểm kiếm pháp, chắc
võ công gã tiến bộ dị thường.
Đáng tiếc là trong một năm
tiểu huynh không
hạ sơn được. Gã có
ơn với tiểu huynh, tiểu huynh phải
ráng giúp gã luyện kiếm mới
phải.
Nhạc Linh San giương cặp lông mày
xinh đẹp lên hỏi:
- Tiểu Lâm tử có ơn với
đại sư ca ở chỗ nào? Tiểu
muội chưa từng thấy gã nói
tới.
Lệnh Hồ Xung đáp:
- Dĩ nhiên chẳng khi nào gã lại
kể ra.
Đoạn hắn đem việc bữa trước
thuật lại.
Nhạc Linh San chú ý nghe rồi nói:
- Thảo nào gia gia thường khen gã
là người có khí độ
hào hiệp. Té ra gã cứu đại
sư ca khỏi chết về
tay Tái bắc minh đà. Tiểu muội
thấy gã ngơ ngẩn như mán rừng,
ai ngờ gã dám vì đại
sư ca mà tuốt
gươm viện trợ.
Nàng nói tới đất bất
giác bật lên tiếng cười
hích hích, nói tiếp:
- Tiểu Lâm tử không một chút
bản lãnh đã giải cứu
đại sư huynh phái Hoa Sơn lại ra
tay giết đứa
con cưng của chưởng môn phái
Thanh Thành để giải cứu con gái
chưởng môn phái Hoa Sơn nữa.
Nguyên hai vụ này cũng đủ nổi
tiếng oanh liệt trong võ lâm một thời.
Có điều chẳng ai ngờ là
chàng đại
hiệp giữa đường thấy
chuyện bất bình quyết ra tay can thiệp
đó võ công lại quá tầm
thường, thế mới
nực cười.
Lệnh Hồ Xung nói:
- Võ công có thể luyện mà thành,
còn chí khí hào hiệp là do
ở trời sinh. Người ta phân
loại nhân
phẩm cao thấp là ở chỗ đó.
Nhạc Linh San mỉm cười nói:
- Tiểu muội lúc nghe gia gia cùng má
má đề cập đến tiểu Lâm
tử cũng nói thế đó.
Đại sư ca ơi!
Lại còn một điểm khí phách
nữa tiểu Lâm tử cũng chẳng
kém gì đại sư ca.
Lệnh Hồ Xung hỏi:
- Còn khí phách gì nữa? Hay
là tính ươn gàn?
Nhạc Linh San cười đáp:
- Đó là khí ngạo. Cả hai người
đều kiêu ngạo lắm.
Lục Đại Hữu đột nhiên
nói xen vào:
- Đại sư ca làm thủ lãnh các
sư huynh, sư muội có ngạo khí là
phải. Còn gã họ Lâm là cái
thá gì mà
cũng lên mặt kiêu ngạo được
với phái Hoa Sơn?
Giọng nói của gã đầy vẻ
hằn học đối với Lâm Bình
Chi.
Lệnh Hồ Xung không khỏi ngạc nhiên
hỏi:
- Lục Hầu Nhi! Lâm sư đệ đắc
tội với ngươi ở chỗ
nào?
Lục Đại Hữu hậm hực đáp:
- Gã chưa có chỗ nào đắc
tội với tiểu đệ, nhưng hết
thảy sư huynh, sư đệ không muốn
nhìn đức
tính của gã như vậy.
Nhạc Linh San hỏi:
- Lục sư ca làm sao thế? Vì lẽ
gì sư ca hằn học với tiểu
Lâm tử? Gã là sư đệ,
mình làm sư ca phải
bao bọc cho gã mới phải chứ?
Lục Đại Hữu lắp bắp:
- Gã... gã... gã....
Hắn nói luôn ba tiếng gã rồi
không nói được nữa.
Nhạc Linh San lại hỏi:
- Lục sư ca có chuyện gì mà ấp
úng mãi không nói ra?
Lục Đại Hữu đáp:
- Chỉ mong Lục Hầu nhi này mắt quáng
coi lầm sự việc.
Nhạc Linh San đỏ mặt lên rồi không
hỏi nữa. Nàng quay sang nói chuyện
gẫu với Lệnh Hồ
Xung.
Lục Đại Hữu lại đòi
về. Nhạc Linh San liền cùng gã xuống
núi.
Lệnh Hồ Xung đứng trên sườn
núi bần thần nhìn bóng sau lưng
hai người cho đến lúc họ
rẽ vào
khúc quanh. Đột nhiên sau góc núi
có tiếng ca hát của Nhạc Linh San
vang lên.
Lệnh Hồ Xung kề cận với nàng
từ thuở nhỏ cho đến khi
khôn lớn, đã nhiều lần
nghe nàng hát,
nhưng khúc này thì hắn chưa nghe
qua bao giờ.
Nhạc Linh San trước kia thường
hát những tiểu khúc Thiểm Tây.
Tiếng cuối cùng câu hát kéo
thật
dài, ở trong khe núi càng dài
lê thê. Khúc hát bữa nay lại
tựa hồ như châu rơi nước
bắn chữ nào cũng
tròn trĩnh dứt khoát.
Lệnh Hồ Xung chú ý lắng tai nghe
thì phảng phất mấy câu "Chị
em lên núi hái trà...". Nhiều tiếng
nàng phát âm rất cổ quái.
Mười phần có đến tám
chín chỉ nghe thấy âm mà không
rõ nghĩa. Hắn lẩm bẩm:
- Không hiểu tiểu sư muội học khúc
tân ca này từ bao giờ mà
nghe hay gớm. Lần sau nàng lên núi,
mình phải bảo nàng hát cho nghe từ
đầu mới được.
Bỗng hắn cảm thấy đau nhói
tựa hồ như trước ngực
bị đánh một trùy nặng. Đột
nhiên hắn tỉnh ngộ tự
nói một mình:
- Đây là giọng sơn ca ở
tỉnh Phúc Kiến. Chắc là Lâm
sư đệ dạy nàng rồi.
Đêm hôm ấy trong lòng Lệnh Hồ
Xung lại nhộn nhạo như sóng cồn,
hắn không tài nào ngủ được.
Bên tai hắn giọng hát nhẹ nhàng
mau lẹ của Nhạc Linh San vẫn còn văng
vẳng. Tiếng hát sơn ca
khó bề hiểu rõ.
Mấy lần hắn tự than trách:
- Lệnh Hồ Xung hỡi Lệnh Hồ Xung!
Trước kia ngươi tiêu dao tự
tại không biết chừng nào mà
bây giờ ngươi để cho một
khúc hát làm bận lòng không
sao thoát ra được ư? Ngươi
là nam tử hán, là
đại trượng phu cũng uổng mà
thôi.
Dù hắn tự biết mình chẳng
nên thế mà tiếng hát của
Nhạc Linh San tựa hồ quanh quẩn bên
tai không
ngớt.
Lệnh Hồ Xung trong lòng đau khổ, hắn
cầm trường kiếm chém bừa
đâm ẩu vào vách đá.
Hắn cảm
thấy luồng nội lực từ huyệt
đan điều bùng lên. Hắn vung
kiếm phóng về phía trước.
Tư thế này giống hệt
Nhạc phu nhân ra chiêu "Vô song vô đối
Ninh thị nhất kiếm".
Bỗng một tiếng "kịch" vang lên! Thanh
kiếm ngập vào vách đá.
Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi. Gã
tự lượng dù trong mấy tháng
nay công lực có tăng tiến nhanh
đến mấy đi nữa cũng
quyết không thể đâm một nhát
kiếm ngập sâu vào vách đá
đến tận chuôi được.
Nội
lực tinh thần thâm hậu đến
bực nào mà vân ra mũi kiếm
để đâm vào đá như
vào cây khô bao giờ? Đến
ngay nội lực của sư phụ cùng
sư nương vị tất đã đến
thế được.
Hắn ngơ ngẩn một chút giựt
mạnh thanh kiếm ra. Lập tức hắn
cảm giác được vánh đá
này chỉ có
một lần rất mỏng chừng ba tấc
là đến quãng không. Nguyên
mặt bên kia vách đá trống rỗng.
Lệnh Hồ
Xung nổi tính hiếu kỳ lại cầm
kiếm đâm nhát nữa.
"Chát" một tiếng, thanh kiếm bị gãy
liền. Nguyên lần này hắn vận
kình không đủ, vách đá
dày ba tấc
cũng không xuyên qua được.
Hắn cất tiếng chửi bâng quơ
vài câu rồi ra ngoài thạch động
bê một khối đá lớn bằng
cái đấu
đoạn vận toàn lực gieo vào
vách đá. Những mảnh đá
vụn rớt xuống ào ào.
Đồng thời hắn nghe khối đá
gieo vào vách bật lên tiếng "uỳnh"
và bên kia vách đá văng vẳng
có
tiếng vang. Hiển nhiên phía sau là
một khoảng không khá rộng.
Lệnh Hồ Xung lại vận nội lực
liệng mạnh lần nữa.
Một tiếng "sầm" vang lên. Khối đá
xuyên qua vách thạch động xuống
bên kia. Tiếng lọc cọc vẫn
vang lên không ngớt do khối đá
rớt xuống phát ra còn vang lên
một lúc. Nguyên mặt sau vách đá
này
thoai thoải dốc xuống.
Lệnh Hồ Xung trong lòng thắc mắc
không yên. Hắn phát hiện sau vách
đá còn có thạch động.
Mới trong chớp mắt, bao nhiều
phiền não trong lòng đều mất
hết. Hắn lại lượm đá
liệng thêm mấy
lần. Rồi đầu hắn có thể
chui qua lỗ vách để nhìn vào.
Lệnh Hồ Xung tiếp tục phá cho lỗ
hổng rộng thêm. Hắn bật lửa
đốt đuốc chui vào thì thấy
bên
trong là một cửa hầm chật hẹp.
Hắn cúi đầu nhìn xuống rồi
toàn thân toát mồ hôi lạnh
ngắt vì thấy bên
mình có bộ xương khô nằm
phục tại đó.
Lệnh Hồ Xung chẳng khi nào ngờ
tới bên kia vách đá lại
có bộ xương khô này. Hắn
rán định
thần tự hỏi:
- Phải chăng đây là ngôi mộ
của tiền nhân? Nhưng sao bộ xương
này lại không nằm thẳng thắn
mà
phủ phục thế này? Như vậy cửa
hầm nhỏ hẹp này quyết không
phải là mồ mả.
Hắn cúi xuống nhìn bộ xương
thấy y phục đã nát hết. Bên
bộ xương còn bỏ hai chiếc búa
lớn.
Dưới ánh đuốc sáng rực,
hắn cầm một chiếc búa nhấc
lên, cảm thấy rất trầm trọng,
có tới ngoài bốn
chục cân. Tiện tay hắn cầm búa
chém vào vách đá bên mình.
"Sầm" một tiếng! Một khối đá
lớn lập tức rớt xuống.
Lệnh Hồ Xung ngẩn người ra ngẫm
nghĩ:
- Cái búa này sắc bén như
vậy tất không phải vật tầm thường.
Nhất định nó là binh khí của
một vị
tiền bối võ lâm.
Lệnh Hồ Xung lại nhìn vào chỗ
vách đá vừa chặt thì thấy
nhẵn thín tựa hồ dao cắt đậu
hũ. Hắn ngó
kỹ hai bên vách đá thấy có
nhiều nhát búa chém vào hãy
còn dấu vết, bất giác hắn
ngẩn người ra ngẫm
nghĩ rồi giơ đuốc lên đi
xuống. Quả nhiên vách đá chỗ
nào cũng còn vết tích búa
đẽo.
Hắn ngấm ngầm kinh hãi bụng bảo
dạ:
- Té ra đường hầm đây
do người này dùng lưỡi
búa sắc bén chém đá để
mở đường. Phải rồi!
Không
hiểu vì lẽ gì y bị cầm tù
vào trong lòng núi rồi dùng búa
phá núi mở đường
để tính bề tháo thân, nhưng
không đủ sức. Y rời khỏi
động mới được mấy
tất đã kiệt lực mà chết.
Than ôi số phận con người là
thế
này đây.
Lệnh Hồ Xung đi một lúc nữa
vẫn chưa tới đầu đường
hầm liền nghĩ bụng:
- Người này phá núi mở
đường như vậy thì nghị
lực kiên quyết võ công cao cường
nghìn xưa hiếm có.
Bất giác hắn sinh lòng bội phục.
Lệnh Hồ Xung đi thêm mấy bước
lại thấy dưới đất có
hai bộ xương nữa. Một bộ ngồi
dựa vào
vách đá, còn một bộ như
nằm khoèo.
Lệnh Hồ Xung lẩm bẩm:
- Té ra không phải chỉ có một
người bị cầm tù ở
đây.
Đoạn hắn tự hỏi:
- Chỗ này là trọng địa của
núi Hoa Sơn ta, người ngoài d
gì mà đến đây được?
Chẳng lẽ những bộ
xương này đều là những
bậc tiền bối bản phái phạm pháp
bị cầm tù rồi chết chăng?
Lệnh Hồ Xung đi thêm mấy trượng
nữa. Đột nhiên hắn thấy
mé tả có ánh sáng lọt vào.
Hắn liền
thuận chiều đường hầm đi
về mé tả.
Bỗng trước mắt hiện ra một
thạch động rất lớn có
thể chứa được cả ngàn
người. Góc trên mé
hữu thạch động có một lỗ
hổng rất lớn rộng đến
hơn trượng.
Ánh sáng ban ngày xuyên qua lỗ hổng
này chiếu vào trong. Lúc này trời
mới bình minh, ánh dương
quang chưa có mây mà đã soi
rõ mọi vật trong thạch động.
Trong thạch động còn có tới
bảy bộ hài cốt hoặc ngồi hoặc
nằm, bên người nào cũng
có binh khí.
Cạnh năm bộ xương này có
đặt trường kiếm còn hai
bộ bên hai bộ kia là hai thứ binh
khí rất lạ.
Một thứ giống như lưỡi
tầm sét còn một thứ là
thanh đao hai lưỡi có ba răng
nhọn hoắt như răng chó
sói.
Lệnh Hồ Xung lẩm bẩm:
- Những người sử dụng
hai món binh khí kỳ lạ ở đây
và hai cây búa ngoài kia quyết nhiên
không
phải đệ tử bản môn. Còn
năm vị sử trường kiếm
này chắc là những bậc tiền
bối của bản môn.
Lệnh Hồ Xung cúi xuống lượm
một thanh kiếm lên, thấy nó ngắn
hơn kiếm thường mà lưỡi
lại lớn
gấp đôi. Thanh kiếm cầm vào
tay rất trầm trọng. Lệnh Hồ Xung bụng
bảo dạ:
- Phái Thái Sơn thường dùng
thanh kiếm này. Vậy đây chắc
là một vị tiền bối phái Thái
Sơn.
Lệnh Hồ Xung lại xem đến thanh trường
kiếm kia thì một thanh nhẹ và mềm.
Đó là loại khí giới
của phái Hằng Sơn. Một thanh lượn
thành đường cong. Đó là
một trong ba thứ kiếm mà phái
Hành Sơn
thường sử dụng. Kế đến
một thanh kiếm mũi nhọn và sắc
bén phi thường, Lệnh Hồ Xung nhận
ra đây là
thứ binh khí mà vị tiền bối
nào đó ưa dùng hẳn người
phái Tung Sơn. Thanh kiếm thứ tư
bề dài và
trọng lượng đúng là thứ
kiếm thường dùng của bản
phái.
Lệnh Hồ Xung càng nghĩ càng lấy
làm kỳ tự hỏi:
- Năm vị tiền bối đây đều
là Ngũ nhạc kiếm phái mà
sao đều chết ở chốn này?
Chẳng lẽ các vị
cùng tranh đâu với năm địch
nhân bên ngoài rồi cả hai bên
cùng chết cả hết ư?
Lệnh Hồ Xung soi đuốc lên cả
bốn bức vách động thì
thấy bức vách mé tả có
khắc 16 chữ:
Ngũ nhạc kiếm phái,
Toàn bọn hạ lưu
Tỷ thí không được
Liền ám hại người.
Mỗi hàng bốn chữ, cả thảy
bốn hàng. Chữ nào cũng khắc
sâu vào vách đá bằng lưỡi
kiếm cực kỳ
sắc, chiều sâu vào đến ba
tấc.
Mười sáu chữ này coi rất
hùng hồn, tựa hồ bạt kiếm
giương cung.
Ngoài 16 chữ lớn, ở bên
cạnh còn vô số chữ nhỏ
như: "Ty bỉ vô lại", "Thực là
đáng hổ", hay là
"Đê hèn", "Khiếp nhược".
Khắp cả toàn là những câu
thóa mạ.
Lệnh Hồ Xung coi xong tức giận vô
cùng, bụng bảo dạ:
- Té ra những người này
bị Ngũ nhạc kiếm phái ta bắt
vào cầm tù ở đây. Họ
phẫn uất quá mà
không có chỗ phát tiết liền
viết chữ lên vách đá
để thóa mạ. Hành động
này mới đúng là hành
động ty bỉ
vô lại.
Lệnh Hồ Xung lại tự hỏi không
hiểu bọn này là người thế
nào? Họ đã cừu địch
với Ngũ nhạc
kiếm phái dĩ nhiên chẳng phải
hảo nhân. Nhưng tại sao năm vị tiền
bối Ngũ nhạc kiếm phái ta lại
cùng
chết với bọn họ tại chốn
này?
Hắn lại giơ đuốc lên coi thì
thấy trên vách đá còn có
một hàng chữ:
"Phạm Tùng, Triệu Hạt phá kiếm
pháp phái Hằng Sơn ở đây".
Bên hàng chữ này lại có
vô số hình người. Cứ
hai người vào một tổ. Một
người sử kiếm một người
sử búa. Chỉ đếm sơ qua cũng
rõ ít nhất đến sau bảy trăm
hình người. Hiển nhiên người
sử búa đang phá
kiếm pháp người sử kiếm.
Lệnh Hồ Xung trống ngực đánh
thình thình tự hỏi:
- Chẳng hiểu có đồ hình nào
phá giải được kiếm pháp
của phái Hoa Sơn ta không?
Quả nhiên hắn nhìn thấy bên
những hình người kia có
một hàng chữ rất rõ:
"Trương Thừa Vân, Trương Thừa
Phong tận phá Hoa Sơn kiếm pháp".
Hắn vừa đọc xong đã đùng
đùng nổi giận, lên tiếng thóa
mạ:
- Loài chuột nhắt vô sỉ! Các
ngươi thật là cuồng vọng, lớn
mật. Hoa Sơn kiếm pháp tinh vi ảo
diệu, khắp trong thiên hạ, người
chống đỡ được còn
chẳng mấy, ai mà lớn mật dám
hạ đến chữ "phá"
bao giờ? Đây chúng còn dám
hạ đến chữ "tận phá" thì
thật là hỗn xược.
Hắn xoay tay lại lượm thanh kiếm
trầm trọng của phái Thái Sơn
lên vận toàn lực vào để
bạt hàng
chữ kia đi.
Những tiếng choang choảng vang lên.
Tia lửa bắn ra tung tóe, thì chỉ
thấy chữ "tận" bị sạt mất
một
góc.
Lệnh Hồ Xung phát giác ra đá
núi này cứng rắn phi thường.
Muốn xóa bỏ những đồ
hình cùng chữ
khắc trên vách đá tuy có
lợi khí trong tay, nhưng vạt đi không
phải d dàng.
Lệnh Hồ Xung lại ngưng thần nhìn
vào đồ hình bên hàng chữ
thì người sử kiếm tuy chỉ
phơn phớt
mấy nét thô sơ, song cũng có
thể nhìn ra đây chính là chiêu
"Hữu phụng lại nghi" của bản môn.
Kiếm thế như nhảy múa cực
kỳ linh động. Chiêu này đang
chiết giải với một người
tay cầm một thứ
khí giới thẳng tuột, chẳng hiểu
nó đại diện chi thương bổng
hay cho thương mâu. Chỉ biết đầu
thứ
binh khí này nhằm vào mũi kiếm
đối phương mà tư thế rất
vụng về.
Lệnh Hồ Xung bất giác bật lên
tiếng cười khành khạch tự
nhủ:
- Chiêu "Hữu phụng lai nghi" của bản
môn ẩn dấu ba tuyệt chiêu nữa,
há để cho chiêu thức vụng
về kia phá giải được ư?
|