THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 4
Rõ
ràng mở mắt còn ngờ
chiêm bao
Kim Dung
Lần này
Đoàn Dự men theo bờ hồ,
xem xét kỹ càng, lách cả vào
những nơi
mịt mờ,
rậm rạp. Song sau bao nhiêu đám hoa cỏ,
cây cối um tùm, chỗ nào
cũng vách
đá kiên cố, dựng đứng
lên cao ngất trời. Đừng
nói đường lối đi
ra, cả đến
một hang dã thú hay một lỗ rắn
chui cũng không có. Giọng hát
mỗi lúc
một thấp, đầu óc mỗi lúc
một nặng trịch. Chàng quay trở
về đến
chỗ thác
nước thì cặp giò đã
mỏi nhừ, ngồi phịch xuống đất,
vẻ mặt bơ phờ
mệt nhọc.
Trong lúc thất
vọng, chàng đâm ra nghĩ vơ vẩn,
ước ao biến thành con cá,
lội ngược
dòng thác lên chơi đỉnh núi.
Thế rồi chàng để ý ngắm
kỹ thác
nước
từ dưới lên, chợt thấy
mé hữu có một phiến đá
sáng bóng như ngọc,
chàng suy luận
ra rằng: hàng ngàn vạn năm trước
kia thác nước này lớn
hơn
bây giờ
nhiều, dòng nước chảy xiết
đã lâu năm lắm mài mặt
đá phẳng lỳ, và
mãi về
sau dòng thác hẹp lại, tảng đá
trong suốt như thuỷ tinh, bóng loáng
như gơng đồng
đó mới chìa lên.
Đoàn Dự
chợt nhớ ra Song Thanh đạo cô,
chưởng giáo phe tây phái Vô
Lợng, lúc
thua cuộc đấu kiếm nội bộ với
phe đông có hỏi móc Tả Tử
Mục,
chưởng
giáo phe thắng cuộc rằng: "Mấy năm
nay việc nghiên cứu của sư
huynh ở
cung Kiếm Hồ về phiến ngọc bích
đã được tường
tận cha?". Rồi
Tả Tử
Mục vẻ mặt tức giận, trách
Song Thanh đạo cô đã quên cả
luật lệ,
đem việc
bí mật của bổn phái ra đề
cập trước mặt người ngoài
nên đạo cô
không dám
hỏi gì nữa. Chàng nhớ
cả việc đảng Thần Nông thâm
thù phái
Vô Lượng
về việc không cho ra phía sau núi hái
thuốc. Nhưng xét cho cùng,
nếu phía
sau núi Vô Lượng chỉ toàn
núi non trùng điệp, hoang sơn dã
lĩnh
thì có
quan hệ chi? Sẵn trí minh mẫn chàng
đâm ra nghi ngờ, rồi chàng
đem
tất cả
mọi điều mắt thấy tai nghe từ
khi tới cung Kiếm Hồ ra suy ngẫm:
lúc
nàng Chung Linh
đề cập tới hai chữ "ngọc
bích" Tả Tử Mục giải thích
hàm
hồ "Hay là
trong núi Vô Lượng có thứ
ngọc quý báu gì chăng?" thế
rồi nàng
cười
lạt mãi. Nay xem ra thì chữ bích
đó không phải là ngọc mà
nghĩa là
vách. Ngọc
bích là phiến đá vách núi
trong như ngọc. Hơn nữa phiến ngọc
bích đó
lại ở phía sau núi Vô Lượng
thì rõ ràng có một mối quan
hệ rất lớn
đến mọi
điều bí ẩn của phái Vô
Lượng.
Đoàn Dự
liên tưởng đến lúc mình
sắp lăn xuống vực thẳm, Cam Nhân
Hào
còn gọi
giật lại bảo đây là cấm
địa của phái Vô Lượng,
cố ý ngăn lại không
cho vào. Đoạn
chàng ôn lại việc trước:
lúc mình theo Mã Ngũ Đức
đến cung
Kiếm Hồ,
có lần mình đã hỏi Mã
tiên sinh vì sao cứ năm năm lại
có một
cuộc tỷ
thí nội bộ giữa ba phe: đông,
nam, bắc phái Vô Lượng và
phe thắng
cuộc ở
lại năm năm để làm gì?
Thì tiên sinh lắc đầu đáp:
"đó là một điều bí
mật trọng
đại của môn phái Vô Lượng,
người ngoài không ai hiểu được".
Rồi mình
không tiện hỏi vặn nữa.
Sau khi sắp đặt
những đầu mối với nhau
và suy luận, chàng tỉnh ngộ đoán
ra
rằng: trên
phiến đá vách núi kia hẳn
có khắc những điều bí
mật về kiếp
pháp. Sở
dĩ đời trước phái
Vô Lượng có đặt ra lệ
một trong ba phe thắng
cuộc đấu
kiếm được ở cung Kiếm
Hồ năm năm là để kháp
phá điều bí ẩn
đó. Chàng
đoán ra điểm chính yếu này
tự nhiên sẽ tìm được
lời giải đáp các
nghi vấn khác:
vì sao mà các phe phải gắng tranh
đấu cho được ở cung
Kiếm Hồ?
Vì sao không thuận cho đảng Thần
Nông ra phía sau núi hái
thuốc? Vì
sao khu này đặt vào khu cấm địa
bất khả xâm phạm? Vì sao Song
Thanh đạo
cô đề cập đến việc nghiên
cứu kiếm pháp? Vì sao Tả Tử
Mục
tìm câu
giải thích hàm hồ?
Từ thuở
nhỏ Đoàn Dự đã được
thấm nhuần sâu xa Phật học và
Nho học,
chàng vốn
ngán ngẩm nghề võ. Phen này cũng
vì không chịu học võ mà
phải bỏ
nhà bỏ cửa ra đi. Trong một ngày
trời, nào bị cực nhục nào
bị ép
uống thuốc
độc mà đều do bọn võ
biền khinh khi, ức hiếp chàng cả
nên
chàng càng
ghét cay ghét đắng môn học
bất lương này. Đồng thời
chàng
ghét luôn
cả phiến đá có liên quan đến
nghề võ. Chàng bèn ngoảnh mặt
đi,
chẳng muốn
nhìn nó làm chi nữa. Chàng
kết luận: tất cả những cuộc
tranh
giành, xáo
trộn ở trên đời đều
do võ lực mà ra. Phải chi trên
phiến ngọc
bích kia có
ghi khắc những bí quyết vô địch
về võ công thì nó sinh ra mối
tai vạ cho người
đời mà thôi, so với con
Kim linh và Đoạn trường tán
thì nó
còn tệ
hại hơn nhiều.
Chàng quanh đi
quẩn lại mãi trên bờ hồ,
bỗng nổi tính hiếu kỳ, ngồi
phân
tích giọng
lưỡi của Song Thanh cùng Tả Tử
Mục khích bác nhau. Dường
như bí quyết
này cực kỳ nan giải, không thì
sao trong năm năm trời cha
nghiên cứu
được tường tận? Ta cũng
muốn coi chơi thử xem có gì bí
hiểm
đến thế?
Nghĩ vậy chàng lại ngẩng đầu
lên nhìn phiến thạch bích thì
chỉ
thấy sáng
bóng, tuyệt không có một dấu
vết, khác nào tờ giấy trắng
mà
thôi? Chẳng
có bí quyết võ công, kiếm
thuật hay hoạ đồ gì ráo. Đoàn
Dự
nhìn thẳng,
nhìn nghiêng một lúc rồi nghĩ
thầm: "một là lời cố nhân
nói
chưa chắc
đã là sự thật, hoặc giả
bậc tiền bối phái Vô Lượng
muốn thêu dệt
ra trò này
để khích lệ đệ tử về
sau cố công luyện kiếm, hay là mình
đoán
sai...".
Đoàn Dự
nhìn ngắm hồi lâu, vừa đói
vừa nhọc chàng lăn ra ngủ. Sáng
hôm
sau tỉnh dậy,
đói như cào ruột, trong khe núi
này trái cây chẳng có, rau rong
hạt dẻ cũng
không. Đến tra chàng đói quá
không chịu được nữa
đành bẻ
nắm cánh
hoa trà bỏ vào mồm nhai. Thứ
hoa này sắc đẹp thế mà mùi
vị lại
đắng ngắt.
Nhưng đói quá, chàng phải nhai
liều. ăn độ chừng tám
chín chục
bông mới
đỡ đói lòng được
đôi chút. Chàng lại nằm liền
vài tiếng đồng hồ
thì mặt
trời đã xế về tây,
trên mặt hồ mờ ảo nổi
lên ánh cầu vồng trông tuyệt
đẹp. Đoàn
Dự cho đó là do thác nước
phản chiếu ánh mặt trời mà
ra, chàng
nghĩ bụng
lúc mình chết đến nơi, được
ngắm cảnh tuyệt đẹp, tuyệt mỹ
thì
trời đối
đãi với mình cũng là
hậu lắm, lại còn được
chết bên bờ hồ hoa tươi,
cỏ đẹp
thế này thật là phong nhã quá
rồi. Chàng cảm thấy khoan khoái
trong lòng, ngủ
đi lúc nào không biết.
Chàng ngủ
một giấc dài, tỉnh dậy vào lúc
nửa đêm, lại ngẩng đầu
lên nhìn
phiến ngọc
bích. Lúc đó trên phiến đá
in hai vật rất rõ trông như người
vẽ
vào, chàng
ngạc nhiên tưởng mình loé
mắt liền ngồi dậy, dụi mắt
nhìn kỹ
lại thì
rõ ràng hai cái bóng đen sì,
một bóng hình cánh cung phảng phất
như
hình cầu
vồng lúc ban ngày, còn một bóng
nữa là hình thanh kiếm lại rõ
ràng lắm,
đủ cả từ chuôi kiếm, vòng
đỡ tay cho đến thân kiếm,
mũi kiếm
không thiếu
sót chỗ nào. Chàng để tâm
suy xét, đoán là phía trước
phiến
ngọc bích
tất có thanh kiếm thật do ánh trăng
phản chiếu in hình vào đó.
Thấy mũi
kiếm chỉ vào hình cánh cung, chàng
chú ý nhìn hình này, càng
nhìn càng
thấy rõ hệt nh hình cầu vồng.
Lát sau gió thổi tan đám mây
nhỏ
lảng vảng,
trăng sáng vằng vặc, hình kiếm
càng đen hơn trước còn
hình
cung lộ ra bảy
màu sặc sỡ, tầng lớp
rất phân minh rõ rệt, chẳng khác
chi
cầu vồng
thật.
Đoàn Dự
rất lấy làm kỳ tự hỏi:
"Tại sao hình bóng lại có mầu
sắc được?".
Chàng đa
mắt nhìn sang vách đá phía
đối diện với phiến ngọc
bích, thấy
lng chừng
có ánh rực rỡ, chập chờn.
Bấy giờ chàng mới tỉnh
ngộ nói một
mình: "Phải
rồi lưng chừng vách bên kia có
đặt một thanh kiếm vào chỗ
hổng vách
đá, ngoài ra còn một tảng bảo
thạch lớn đủ bảy màu sắc.
ánh
trăng chiếu
mầu sắc bảo thạch bên kia in qua phiến
ngọc bích bên này nên
hiện ra đủ
màu sắc rực rỡ đẹp
tuyệt.
Chỉ còn
một điều rất khó là chỗ
để bảo vật cao đến mấy
chục trượng, thì
không có
cách nào lên coi tận nơi cho biết
rõ. Đứng dưới trông
lên chỉ thấy
hào quang rung
rinh khi ẩn khi hiện, mà nhìn sang bên
phiến ngọc bích thì
thật là
kỳ ảo, quyến rũ. Nhưng cảnh
đẹp chẳng đợc bao lâu, ánh
trăng xê
dịch đi
chỗ khác, hình ảnh rực rỡ
nhạt dần rồi mất hết, còn
trơ lại phiến
ngọc bích
trắng ngần.
Nhân sự
bất ngờ, Đoàn Dự phát
giác những sự kiện trên đây,
chàng nghĩ
thầm: "Té
ra những điều bí mật núi
Vô Lượng là ở chỗ
đó. Nếu không sa
vào hang sâu
vực thẳm này thì làm gì
mà biết được những
hình ảnh kia?
Nhờ lúc
ánh trăng soi chênh chếch đi mới
hiện ra. Hàng năm mấy khi gặp
được
lúc ánh đá rực rỡ
phản chiếu lên phiến ngọc bích?
Người phái Vô
Lợng phần
nhiều là nghiên cứu phiến ngọc
bích giữa ban ngày thì còn thấy
cóc gì?
Dù cho họ có trông lên đỉnh
vách núi, đào đất quật
đá để hòng
khám phá
ra diều bí ẩn cũng chẳng ăn
thua gì". Nghĩ tới đây, chàng
bất giác
bật lên
tiếng cười khanh khách. Rồi
chàng cho rằng: "dù lấy được
thanh bảo
kiếm cùng
cái vật hình cánh cung vân thất
sắc kia đi chăng nữa cũng chỉ
để
làm đồ
chơi mà thôi, phỏng có ích gì
mà phải lao tâm phí lực làm
chi cho
uổng? Thiên
hạ sao lại có những người
ngốc thế?". Thần trí bình thản,
chàng nằm
xuống nghỉ rồi ngủ quên đi.
Đang ngủ
say, bỗng nhiên chàng giật mình tỉnh
dậy, tự hỏi: "ồ sao mũi
kiếm lại
chỉ vào đầu dưới hình
cầu vồng, tựa hồ nh có điều
bí mật ở chỗ
đó? Người
đem thanh bảo kiếm cùng bảo vật
gắn vào vách núi làm chi để
mất công
như thế? Không những phải là
người võ công tột bậc mà
còn phải
có khúc
dây thật dài ròng xuống mới
trèo lên mà làm được.
Họ đã hao tổn
tâm lực
an bài nh vậy tất có dụng ý
gì đây? Phải chăng điều
bí mật ở chỗ
hình cầu
vồng? Cứ xem hai hình bóng in vào
phiến ngọc bích thì không tìm
đâu ra
được lối giải thích nào
khác nữa. Về cái hình cầu
vồng thấy lúc ban
ngày thì
một đầu lơ lửng trên không,
một đầu dính xuống mặt hồ
chỗ thác
nớc đổ
vào, giả tỷ điều bí mật
lớn lao ở chỗ này thì
không có cách nào
nắm được".
Đoàn Dự
ngây người ra suy nghĩ hồi lâu,
lẩm bẩm một mình: "Cầu vồng
biến ảo
không nhất định, hôm nay hiện
lên chỗ này, mai chưa chắc đã
đúng
chỗ ấy,
khó mà căn cứ vào đó
được".
Hôm sau Đoàn
Dự nhịn đói ngồi mong chờ
cầu vồng xuất hiện. Đến lúc
hoàng hôn,
cầu vồng từ từ hiện lên.
Đoàn Dự nhìn kỹ lại thì
đúng như hôm
trước,
không sai tý nào, một đầu lơ
lửng trên không, một đầu
dính xuống
mặt hồ,
chàng lại càng thất vọng chạy
ra bờ hồ chỗ thác nước
đổ xuống,
sóng vỗ
bì bòm, nghe đến đinh tai nhức
óc. Chỉ trong khoảnh khắc, nước
bắn toé
lên ướt cả quần áo. Chỗ
nước xoáy trong hồ rất lớn,
nước chảy vòng
tròn rất
là mau lẹ. Đi lại gần chỗ này
thì không thấy hình bóng cầu
vồng
đâu nữa.
Đoàn Dự tính lại thì từ
hôm sa vào khe núi này đến
nay là ngày
thứ ba,
chỉ còn bốn ngày nữa nếu
không chết đói thì đoạn
trường tán cũng
làm cho mình
đứt ruột ra mà chết, Chung Linh
tất cũng sẽ bị bọn Thần
Nông sát
hại. Đằng nào mình cũng chết
chi bằng nhảy xuống vũng nước
xoáy này
xem có gì lạ không?
Một là
chàng đã lâm vào tuyệt địa
chỉ còn tìm cách biến chuyển
trong chỗ
liều mình,
hai là chàng tính tình hào sảng
nói làm là làm không cần
suy
tính.
Đoàn Dự
rớn người nhảy xuống vũng
nớc xoáy, toàn thân bị sức
mạnh
ghê gớm
cuốn đi. Chàng nín thở nhưng
vẫn mở mắt nhìn ra thấy một
mầu
trắng toát
mù mịt, thác nước giờ
đã biến thành dòng nước
chảy xiết kéo tuột
chàng xuống
đáy hồ. Đoàn Dự tuy biết
bơi lội nhưng không tự chủ được,
để
mặc cho dòng
nước lôi cuốn. Chỉ trong khoảnh
khắc, bị nước vào đầy
miệng, chàng
mê man nh say như tỉnh, chẳng biết đã
bị nước cuốn đi bao
xa. Bất thình
lình chàng cảm thấy thân mình
bị đẩy mạnh một cái, tung lên
khỏi mặt
nước. Đang lúc chơi vơi,
chàng quờ tay may vớ được
một túm dây
leo, chàng liền
nắm lấy, định thần nhìn ra
thì bốn bề tối đen như mực.
Chàng đưa
chân phải ra sờ soạng, bỗng đạp
trúng một vật. Chàng liền đưa
nốt chân
trái đặt vào đó, nhưng
cha dám buông tay ra, vẫn nắm lấy
túm
dây leo, dò
dẫm cất bước. Chỗ này
nước chỉ ngập vế đùi,
mà không chảy
xiết nữa.
Chàng buông tay đứng thẳng người
lên, bỗng đánh "binh" một
tiếng, đầu
chạm phải vật gì cứng rắn.
Chàng đau điếng người
bất giác kêu
lên: "Chết
rồi! Chết rồi! Sao mà mình vô
ý đến thế?". Chàng cố nhịn
đau,
đưa tay ra
sờ soạng, thấy vật trên đầu
giá lạnh và cứng nhắc thì
ra toàn là đá
núi.
Đoàn Dự
ôn lại những sự vừa qua,
nhớ rằng mình nhảy xuống vũng
nước
xoáy, lúc
đầu bị thác nước chảy
mạnh cuốn xuống đáy hồ. Từ
đáy hồ trôi
theo một luồng
chảy ngầm để thoát nước
hồ đi, rồi bỗng sức nước
đẩy mạnh
một cái,
bắn tung mình vào khe này. Cứ
xem cục diện trước mắt thì
dữ
nhiều lành
ít nhưng cũng chẳng biết làm
thế nào được, đành
là nhắm mắt
đưa chân
tới đâu hay đó. Nghĩ
vậy rồi, chàng quỳ hai gối xuống
cho khỏi
đụng đầu,
lần lần tiến về phía trước.
Hai tay hết đưa lên đầu lại
đưa ra trước
mặt để
đề phòng những sự va chạm.
Bên tai vẫn nghe nước chảy róc
rách
lúc mau, lúc
khoan. Chàng quỳ gối, lần bước
một hồi xem chừng đá núi
ở
trên đầu
đã khá cao có thể cúi lom
khom đi được. Khom lưng đi một
đoạn
nữa thì
đứng ngay người lên. Đang
đi có khi gặp nhũ đá rủ
xuống nhưng
may lúc nào
chàng cũng đưa tay ra sờ trước,
không thì nhiều phen va chạm
đến phải
vỡ mặt sứt mày.
Đoàn Dự
chợt nhớ đến con thanh linh, sờ
lại thấy nó vẫn nằm im quanh
lưng mình,
mới hơi yên dạ. Chàng tự
hào bữa nay một chuyện hi hữu
đã đến
với chàng.
Không những mình từ nhỏ
tới giờ cha từng được
gặp, mà người
đời
cũng ít ai đợc trải qua những
vụ ly kỳ nh vậy. Nhất là bè
lũ thầy trò
phái Vô
Lượng kiếm trải qua mấy đời
và phí bao nhiêu ngày giờ chỉ
đứng
trên mà
nhìn, mà ngắm, mà nghiên cứu
phiến ngọc bích một cách vô hiệu
quả, chưa
chắc có tay nào nhảy xuống vực
sâu, quan sát dới ánh trăng
đặng thấy
hình ảnh thanh bảo kiếm cùng ảnh
bảo thạch như cầu vồng. Đến
chuyện nhảy
xuống vũng nước xoáy, chắc
cũng chỉ có một mình mình lâm
vào tình
trạng nắm vững cái chết trong
tay mới có cuộc mạo hiểm này.
Chàng càng
ngẫm nghĩ lại càng đắc ý,
bất giác nổi lên một trận cười
ha hả,
rồi nói
huyên thuyên, mình tự nhủ mình:
"Gã tiểu tử Đoàn Dự
kia! Bữa nay
ngươi chắc
chết trăm phần trăm, nếu may măn
mà ngươi sống sót, ra khỏi chỗ
này thì
tha hồ mà cười thầy trò
Tả Tử Mục, Cam Nhân Hào một
phen cho
thoả thích".
Chàng sung sớng quá cười
rộ lên khanh khách, chợt nghe phía
bên có
tiếng cười khanh khách đưa
đến.
Đoàn Dự
giật mình kinh hãi, không dám cười
nữa thì bên kia cũng im lặng
như tờ.
Đoàn Dự lớn tiếng hỏi:
- Ai đó?
Bên kia cũng
có tiếng ồm ồm:
- Ai đó?
Đoàn Dự
lại hỏi:
- Người
hay là ma đó?
Bên kia cũng
có tiếng hỏi:
- Người
hay là ma đó?
Đoàn Dự
lắng tai nghe, bất giác bật cười
nói:
- Mình cứ
tưởng là ma quỷ, té ra là
tiếng
vang.
Rồi chàng
nghĩ thầm: "Chỉ khi nào nói ở
trong gian nhà lớn hoặc trong hang
núi mới
thành tiếng vang. Vậy thì mé bên
phải này tất có khoảng trống
rộng
lớn. Ha
ha, mình thích chí cười vang thế
mà cũng được việc. Nếu
không
cười
lên mấy tiếng sao biết nơi đây
có hang động? Thế rồi chàng
kêu loạn
lên, lần
mò đi theo về phía có tiếng
vang. Vừa sờ lần vừa đi
chẳng mấy tý,
quả nhiên
đến một khoảng trống không.
Chàng đưa tay lên cao và đưa
ra hai
bên sờ
soạng không thấy gì cả. Đang
đi dò dẫm có chỗ bấu vịn
giờ ra quãng
không tối
mò, chàng cảm thấy hơi sợ
đành cứ bước một tiến
về phía trước.
Dưới
chân không còn vướng vấp
gì cả. Bỗng nhiên tay chàng chạm
phải một
vật tròn
tròn, lạnh lạnh, phát lên tiếng
leng keng trong như tiếng đồng hồ.
Chàng thò
tay sờ lại thì cái vòng đồng
này giống như vòng ở trước
cửa các
nhà thường.
Chàng tự
nhủ đã có vòng cửa, tất
có cánh cửa. Chàng nghĩ vậy
rồi cứ lần
mò, sờ
soạng mãi, quả thấy đến chục
cái đầu đinh lớn thì
vừa mừng, vừa sợ
tự hỏi:
"Chẳng lẽ phía trong này lại có
người ở thì lạ quá".
Chàng liền lắc
mạnh cái
vòng cho nó bật lên tiếng kêu
leng keng rồi chờ xem bên trong có
ai thưa không.
Chờ một lát chẳng thấy gì,
lại gõ mạnh vào cái vòng ba
tiếng
nữa cũng
chẳng thấy ai tha. Chàng liền đưba
tay ra đẩy cửa. Cánh cửa
này
dường
nh đúc bằng kim khí, nên rất
nặng nề. Nhưng không cài then trong
nên chàng
cố hết sức đẩy, cánh
cửa từ từ hé mở.
Chàng lớn
tiếng nói:
- Tại hạ
là Đoàn Dự, không được
lệnh vời mà dám đường
đột tới quý phủ,
thật là
có lỗi, xin chủ nhân khoan thứ
cho!
Chàng chờ
một lát, không thấy phía trong có
tiếng đáp lại, đành cất
bước
mạnh dạn
tiến vào. Đoàn Dự vào
trong cửa rồi, tuy chàng mở mắt
thật to mà
trông cũng
chẳng rõ chi hết, chỉ thấy nơi
đây không còn khí ẩm ớt
như ở
bên ngoài
nữa. Chàng tiếp tục đi vào,
bỗng đánh kịch một tiếng trán
chàng
chạm phải
vật gì rồi, cũng may mà chàng
đi thong thả nên không bị đau
mấy. Chàng
đưa tay lên sờ thì ra đây
cũng là một tầng cửa. Lại
cố sức đẩy
đợc
hé mở ra, bên trong vẫn tối
om. Bất tất phải thuật dài dòng,
chàng đi
như thế
qua cả thảy sáu lần cửa, có
lần mở được ngay, có
lần bị đất bùn vít
chặt thì
phải cố sức đẩy khá lâu
cánh cửa mới hé ra đủ
nghiêng người đi để
lách vào.
Qua lần cửa thứ sáu, chợt
thấy ló ra chút ánh sáng, chàng
giật
mình hồi
hộp nhủ thầm: "Ta thoát ra đến
chỗ có ánh mặt trời rồi
chăng?".
Chàng nhìn
kỹ thì đây là một toà
thạch thất. Từ bên trái lọt
vào một tia sáng
mờ ảo,
chứ không phải ánh sáng mặt
trời. Chàng nhằm phía có ánh
sáng đi
tới, chợt
thấy một con tôm hùm rất lớn
đi ngang qua bên ngoài cửa sổ.
Chàng rất
lấy làm kỳ, đi thêm mấy bước
nữa lại thấy một con cá chép
có vân
rực rỡ
vụt qua. Bấy giờ chàng mới
để ý nhìn kỹ cửa sổ,
thì ra là một khối thuỷ tinh rất
lớn gắn vào vách đá.
Khối này gồm ba phiến lớn
bằng miệng chậu ghép liền vào
nhau. ánh sáng bên ngoài lọt qua cửa
sổ thủy tinh chiếu vào trong nhà.
Đoàn Dự
lại đứng bên cửa sổ
nhìn ra, thấy bên ngoài mịt mờ
xa thẳm không rõ đâu là cùng
thì biết rằng mình đang ở
đáy sông chứ không phải
đáy hồ. Chàng lại nghĩ đến
người chủ tòa thạch thất
này đã tốn biết bao nhiêu
tâm cơ để kiến tạo nên
nó, cùng nghĩ cách lấy ánh
sáng ở ngoài nước sông
rọi vào trong nhà. Ba phiến thủy tinh
kia là vật báu hiếm có, khó
lòng kiếm được. Chàng lại
quay vào xem trong nhà thấy có một
cái bàn đá, trước bàn
để cái ghế đá, trên
bàn có đặt một tấm gương
đồng, bên gương còn để
mấy thứ nào lược đầu,
nào vòng xuyến, rõ ràng là
một nhà khuê các. Tấm gương
đồng đã ăn gỉ xanh lè
mà mặt bàn cát bụi dầy đến
đốt ngón tay đủ tỏ rằng
trong nhà đã bao lâu nay không có
người đặt chân tới.
Trước
cảnh tượng đó Đoàn
Dự không khỏi ngơ ngẩn nghĩ
thầm: "Mấy năm về trước,
tại đây nhất định đã
có một vị tiểu thư ở ẩn.
Không hiểu nàng đau buồn nỗi
gì mà phải xa cõi nhân gian, lánh
mình vào nơi tĩnh mịch này?".
Chàng thầm suy nghĩ một lúc rồi
lại xem khắp mọi chỗ trong nhà. Trên
vách đá gắn la liệt những
gương đồng, chàng đếm
được hơn ba chục chiếc thì
lấy làm lạ, đoán ra rằng:
"Vị tiểu thư ở đây trước
là bậc tuyệt thế giai nhân, ngày
ngày ngắm bóng thương thân trách
phận". Nghĩ vậy chàng cũng vì
ai thổn thức can trường.
Đoàn Dự
quanh quẩn trong nhà thạch thất, lúc
lẩm bẩm một mình, lúc thở
dài sườn sượt thương
cho thân phận con người mình chưa
từng thấy mặt.
Bỗng chàng
sực nhớ lại chuyện mình, bất
giác than rằng: "trời ơi! Từ
nãy tới giờ mình chỉ vơ
vẩn nghĩ chuyện đâu đâu,
quên cả lo tính việc mình. Trong buồng
này không có ngõ ngách nào,
làm sao tìm được lối ra?".
Chàng nhìn
khắp một lần nữa, tuyệt không
thấy một cửa ngõ nào cả.
Chán nản chàng ngồi phịch xuống
ghế đá, than thở: "Đoàn
Dự này là một gã xấu trai,
nếu chết ở đây hoá ra
mạo phạm giai nhân! Sao chẳng chết ngay
ở lối đi lúc nãy có
hơn không? Trước khi hồn về
chín suối ta thử ngó qua lại bộ
mặt xem sao?".
Chàng bèn
lấy vạt áo lau hết gỉ đồng
trên gương. Gương đã hiện
ra chút ánh sáng, nhưng chàng ngồi
trên ghế, mà gương đặt xa
quá, soi không rõ mặt. Chàng liền
đưa tay ra kéo tấm gương lại
gần. Không ngờ tấm gương
nh gắn chặt vào mặt bàn, chàng
phải ra sức lay mạnh một cái, bỗng
tự nhiên thấy ghế đá chuyển
động. Đoàn Dự cả mừng
đứng phắt dậy, gia sức lay
thật mạnh tấm gương đồng,
chợt nghe tiếng lách cách, ghế
đá dời đi chỗ khác,
lộ ra một cái động. Chàng cúi
nhìn thì thấy có bậc đá
thông xuống.
Đoàn Dự
mừng rỡ khôn xiết kêu
lên: "Tạ ơn Trời, Phật, quả
có đường ra rồi". Đoạn
chàng theo bậc đá đi xuống.
Không ngờ xuống được
vài chục bậc, các bậc đá
ngoắt lại, đi ngược lên, càng
đi càng lên cao. Lên đến một
gian phòng Đoàn Dự thấy phía
trước có tia sáng lóe ra, chàng
bỗng giật nẩy mình kêu to lên
một tiếng, vì chàng trông thấy
một trang mỹ nữ tay cầm thanh trường
kiếm, mũi trỏ thẳng vào bụng
chàng. Nhác trông thật là một
vị thanh nhã khác thường, diễm
lệ vô song. Chàng chưa từng thấy
người nào đẹp đến
thế.
Đứng
trước một trang sắc nước
hương trời, chàng như người
mất hồn, há miệng muốn nói
mà líu lỡi không thốt ra được
câu nào. Hồi lâu thấy mỹ
nhân vẫn đứng yên không
nhúc nhích. Đoàn Dự định
thần nhìn kỹ thì ra mỹ nữ
này tuy có vẻ đẹp mê hồn
nhưng không phải là người
thật, mà là một pho tượng
ngọc thạch, chạm chổ rất tinh vi. Pho
tượng lớn bằng người
thật, mình mặc đồ tơ lụa
mềm mại, tà áo rung rinh. Kỳ nhất
là đôi mắt có tia sáng long
lanh như sóng gợn mùa thu, linh động
dị thường, khiến cho Đoàn
Dự phải ngây ngời ra mà
nhìn. Hồi lâu mới biết là
đôi mắt pho tượng chạm bằng
thứ đá đen có vân, càng
nhìn càng thấy sâu thăm thẳm.
Sở dĩ pho tượng này giống
ngưuời thật như in là ở
đôi nhỡn tuyến mà ra. Mặt
pho tợng mỹ nhân bằng thứ
ngọc trắng có vân hồng ẩn hiện,
trông chẳng khác gì mầu da người
thật. Khi Đoàn Dự nghiêng mình
ngắm, hình như luồng nhỡn quang
pho tượng cũng đổi hướng
chăm chú nhìn chàng, chẳng khác
chi một vị thần nữ. Đoàn
Dự giật mình ngoảnh đầu sang
phía hữu thì tia mắt pho tượng
cũng quay sang phía chàng. Tóm lại
bất luận chàng đứng đâu
ngây ngất nhìn pho tượng, thủy
chung vẫn bị đôi mắt tượng
thần thu hút. Thần sắc pho tượng
hiện ra ở đôi mắt nhưng khó
mà mô tả cho đúng. Đôi
mắt có một trạng thái khác
thường: mừng không ra mừng,
lo không ra lo; dường như thoáng
qua một vẻ buồn, lại tựa hồ
có điều chi hờn mát; còn
có thể nói là một đôi
mắt linh tư, hay đôi mắt chứa
một mối sầu lai láng cũng không
sai.
Đoàn Dự
chuyển hướng ngắm đi ngắm
lại pho tượng rồi xá dài
cung kính tha rằng:
"Tha thần tiên
nương tử! Hôm nay kẻ tiểu sinh
là Đoàn Dự này được
chiêm ngưỡng phương dung dù
có phải là chết cũng không
còn điều chi oán thán nữa.
Nương tử xa lánh trần tục,
một mình ẩn tại nơi đây,
chẳng cũng hiu quạnh lắm ru?".
Tia sáng đôi
mắt pho tượng thần dường
nh biến ảo khôn lường, nghe lời
chàng nói tựa hồ ra chiều xúc
động. Đoàn Dự tâm thần
ngây ngất, đôi mắt như mờ.
Chàng bần thần nhìn pho tượng
nói tiếp:
- Tiên sinh không
biết cách xưng hô với Nương
Tử thế nào cho phải phép. Rồi
chàng nghĩ bụng: "Ta thử nhìn kỹ
lại, hoặc giả thấy chỗ nào có
thể phương danh Nương Tử chăng?
Chàng nhìn đi nhìn lại xung quanh rồi
chợt nhìn lên đầu pho tượng
thấy mớ tóc đúng là
tóc người. Một làn tóc
mây óng mượt quấn lại thành
búi. Bên mơ mái tóc có cài
một chiếc vòng ngọc, mặt trên
giát hai hạt minh châu lớn bằng
đầu ngón tay út, chiếu ra một
thứ ánh sáng huyền ảo. Trên
tường cũng gắn vô số
hạt minh châu, kim cương đua nhau chiếu
sáng hào quang. Tường mé tây
có tám chữ lớn: "Vô Lượng
bí ảo, Giải y nải kiến" gắn
bằng những hạt kim cương nhỏ
sáng rực. Đoàn Dự cả
kinh nghĩ thầm: "Ai mà dám cởi
áo Tiên Nương bao giờ?". Dù
đây chỉ là một pho ngọc tượng
không phải người thật nhưng
từ lúc chàng ngó thấy, tâm
trí đã từng phen đảo lộn,
không dám mảy may hỗn xược.
Chàng tự nhủ: "Bổn tâm ta có
cần đến đây để tìm
ra điều bí ẩn mầu nhiệm gì
đâu? Giả thử ta có nhất
tâm như vậy chăng nữa cũng
không đời nào dám xúc
phạm đến tiên nương. May mà
chưa ai vào đây trước ta,
không thì đã có kẻ phàm
phu, tục tử mạo phạm đến một
trang tuyệt thế gian nhân rồi còn
gì? Âu là ta đem san phẳng tám
chữ này đi đề phòng
kẻ đến sau khỏi đụng chạm
tới con người ngọc". Chàng
ngó xuống chân tường thấy
vô số gương đồng bỏ đó,
có đến mấy trăm tấm liền
cầm một tấm nạy hết những
hạt kim cương ghép thành tám chữ
kia cho rơi xuống hết. Chàng lại đập
hết cả những lỗ nhỏ gắn
kim cương vào, đến không còn
một chút dấu vết gì nữa
mới thôi.
Làm xong việc
đó, Đoàn Dự tự coi
mình đã có chút công lao nhỏ
mọn đối với pho tượng
người ngọc, lòng chàng âm
thầm khoan khoái. Chàng trở lại
trước mặt pho tượng, như
ngây như dại, trong lòng dường
nh có âm hồn ám ảnh, mũi
tựa hồ ngửi thấy mùi xạ
hương phảng phất. Chàng đi từ
chỗ yêu đến chỗ kính cẩn,
rồi từ chỗ kính cẩn đến
chỗ mê mẩn tâm thần, chàng
cất tiếng gọi:
- Thần tiên
nương tử ơi! Nếu nương
tử có phép mầu chỉ nói
với tôi một lời, chỉ một
lời thôi, thì dù tôi có
phải vì nương tử mà tan xương
nát thịt cũng hoan hỉ chẳng khác
gì bước sang thế giới cực
lạc. Đoạn tự nhiên chàng
quỳ gối xuống lạy. Quỳ rồi
chàng mới biết rằng ở
dưới đất, trước pho
tượng có trải sẵn hai cái
chiếu, dường như để cho người
vào tham bái. Chân chàng quỳ lên
chiếc chiếu lớn, dưới
chân pho tượng cũng có chiếc
chiếu nhỏ hơn, phải chăng để
người cúi đầu xuống lạy?
Đoàn Dự vừa phục xuống,
bỗng nhìn mé trong gót hài tựa
như có thêu chữ. Chàng định
thần nhìn kỹ quả thấy hài
chân trái có tám chữ: "Khẩu
thử thiên biến, Cung ngã khu sách".
Hài chân phải có tám chữ:
"Tất tao kỳ họa, Thân bại danh liệt".
Pho thần tượng đi đôi hài
màu nước biển, mười
sáu chữ trên đây nhỏ như
đầu ruồi lại thêu bằng thứ
chỉ màu xanh, thâm hơn mầu nước
biển một chút, nếu không cúi
đầu sát xuống thì không tài
nào nhìn rõ được. Hoặc
giả có người khác nhìn
thấy thì câu
"Khấu thử
thiên biến, Cung ngã khu sách" tất
chạm lòng tự ái khiến họ
nổi hung, có khi đá phốc pho tượng
đi, còn câu "Tất tao kỳ họa,
thân bại danh liệt" thì bất cứ
ai cũng chẳng muốn nhìn. Nếu người
ngó mưới sáu chữ này
là bậc lão thành, việc đời
lịch duyệt đã nhiều, coi thường
những câu bất lợi đó,
sẽ mỉm cười bỏ đi. Nhưng
Đoàn Dự đã bị dung nhan
pho tượng mê hoặc, chàng lấy
làm thú vị được khấu
đầu ngàn lạy vì bản tính
chàng ưa thờ phụng sắc đẹp,
đến việc cầm roi ruổi ngựa
cho giai nhân thì đối với chàng
là một điều rất hân hạnh.
Cầu khẩn vị tất đã được?
Sau cùng là việc vì mỹ nhân
mà bị đại họa đến phải
thân danh tan nát lại là điều
sở nguyện của chàng, dù phải
muôn thác cũng không hối hận.
Tâm hồn chàng say mê điên đảo,
đọc xong mấy câu chàng khấu
đầu rất cung kính vừa lạy
vừa đếm.
Chàng lạy
được năm, sáu trăm lạy,
bắt đầu thấy lưng mỏi, xương
đau, sái đầu sái cổ nhưng
chàng vẫn cố gắng đến cùng,
lạy cho đủ số mới thôi.
Lạy được hơn tám trăm
lạy thì cái chiếu trên bắt
đầu thụt xuống, rồi từ
đó mỗi lần dập đầu
là một lần chiếu thụt dần.
Đoàn Dự lạy được
mấy chục lạy nữa, chiếu thụt
xuống
hõm, chợt thấy lộ ra ba đầu
mũi tên nhỏ, chênh chếch nổi
lên, nhằm đúng trán chàng.
Đầu mũi tên lấp lóe xanh
biếc, chuôi tên buộc vào cơ quan
có lò xo. Đoàn Dự thoáng
qua đã hiểu ngay, nghĩ thầm:
"Ghê quá!
Những mũi tên này đều
tẩm thuốc độc, cũng may là
mình kính cẩn khấu đầu làm
lễ, cái chiếu thụt xuống từ
từ, tên độc không phóng
ra. Ví phỏng mình bước dẫm
lên chiếu, chân thụt xuống đụng
mạnh vào cơ quan, tất bị tên
độc bắn trúng bụng rồi. Thôi
ta hãy cứ lạy đủ ngàn
lạy rồi có xảy ra biến cố
gì hãy hay". Chàng vừa nghĩ
vừa lạy đều mấy chục lạy
nữa, chiếu thụt xuống sâu hơn,
lộ ra một miếng đồng có khắc
chữ, nhưng chàng không xem vội,
chăm chú lạy cho đủ ngàn rồi
mới đưa tay vào nhấc tấm
đồng ra một cách nhẹ nhàng.
Tấm đồng này để rời,
không dính vào cơ quan nào cả.
Chàng cầm
lên xem, tấm đồng đã nổi
gỉ xanh lốm đốm, trên mặt khắc
bằng mũi kim nhỏ mấy hàng chữ
sau đây: "Ngươi đã lạy đủ
ngàn lạy, vậy ta nhận ngươi làm
đệ tử. Từ đây sắp
tới còn gặp nhiều tai nạn thê
thảm nói không xiết được,
ngươi đừng hối hận. Võ
công hơn đời của phái
ta ở khắp nơi trong toà thạch
thất, mong rằng ngươi ráng tĩnh
tâm nghiên cứu cho ra".
Đoàn Dự
xem xong rất là thất vọng. Bản tâm
chàng không muốn học võ nê
phải lìa cửa lìa nhà ra đi,
khi nào còn chịu trở lại đây
nghiên cứu cái võ công hơn
đời chi chi đó nữa? Chàng
cầm tấm đồng đặt lại
cẩn thận nguyên vào chỗ cũ,
rồi đứng dậy, hai chân mỏi
quá cơ hồ suýt ngã. Ba ngày
không được ăn chàng cảm
thấy nhọc mệt vô cùng, nghĩ thầm:
"Ta phải gấp rút tìm đường
trở ra, không thì bỏ mạng. Trong
lòng vẫn còn quyến luyến pho tợng
mỹ nhân, chân bước đi mặt
còn ngoảnh lại. Chàng định nhìn
lần nữa rồi thôi, nhưng vừa
nhìn lên gặp ngay đôi mắt pho
tượng ngọc đang nhìn mình,
lòng chàng lại thẫn thờ, đầu
óc lại quay cuồng, đứng ngây
ra một lúc rồi vái dài sát
đất nói:
- Thần tiên
nương tử ơi! Tôi chẳng làm
đồ đệ nương tử mà
cũng không học cái võ công
hơn đời của nương tử
đâu. Bữa nay vì trong mình có
việc khẩn cấp, tôi xin tạm biệt.
Sau khi cứu được Chung Linh ra rồi,
tôi sẽ trở về đây cùng
nương tử đoàn tụ".
Nói xong chàng
cảm thấy lòng thổn thức nhưng
phải cất bước ra đi. Ra khỏi
thạch thất, chàng theo bậc đá
đi chếch lên. Chàng vừa đi
vừa do dự, mấy phen toan quay trở
lại ngắm tượng ngọc mỹ nhân.
Chàng phải quả quyết lắm mới
chế phục được cõi lòng.
Đoàn Dự
đi được hơn trăm bậc,
chuyển qua ba khúc quanh, văng vẳng có
tiếng sóng vỗ bì bõm, chàng
đi hơn hai trăm bậc nữa, tiếng
sóng nghe đã chói tai, phía trước
đã thấy ánh sáng rọi vào.
Chàng càng đi mau hơn cho đến
bậc đá cuối cùng thì thấy
trước mắt có một cái hang
vừa đủ một người đứng.
Chàng ló đầu ra ngoài, giật
mình hồi hộp, run lên cầm cập.
Bên ngoài nước chảy băng
băng, sóng vỗ ầm ầm, một con
sông lớn hiện ra trước mắt
Đoàn Dự. Hai bên bờ sông
là hai rặng núi đá bích lập
cao chót vót, cực kỳ hiểm trở.
Chàng nhận ra đây đã đến
bờ sông Lan Thương, thì nửa
mừng nửa sợ, cúi rạp
xuống bò ra cửa động, nhìn
thấy chỗ mình nằm cao hơn mặt
nơức đến mời trượng.
Dù mực nước sông có
lên cao cũng không thể tràn tới
được. Chỉ còn một điều
khó khăn là phải vượt qua
mấy tầng đèo cao, vực thẳm
mới ra tới chỗ đất bằng.
Chàng cởi con thanh linh ra nhờ nó
giúp sức, vận dụng cả chân
tay lúc trèo lên, khi tụt xuống. Tuy
trải qua những cơn nguy hiểm hồi
hộp, chàng vẫn lu ý nhìn rất
kỹ mọi địa thế, ghi nhớ
vào lòng để sau này cứu
người xong, sẽ trở lại chốn
này vào thạch thất thăm... pho tượng
mỹ nhân.
Bờ sông
toàn là núi đá lởm
chởm, không có lấy một con đường
nhỏ, Đoàn Dự phải rất vất
vả mới đi đợc bảy
tám dặm. Đến một gốc cây
đào mọc tự nhiên, trên cành
trái chín lúc lỉu, chàng mừng
quá, trèo lên hái ăn kỳ no
bụng. Lại thấy tinh thần phấn khởi,
đi chừng hơn mời dặm nữa
mới thấy một lối đi xuất
hiện. Chàng lần theo lối nhỏ này
đi cho tới lúc mặt trời
xế bóng thì đến một cái
cầu sắt bắc qua sông. Đầu
cầu dựng một tấm bia đá
khắc ba chữ: "Thiện nhân độ".
Đoàn Dự trông thấy ba chữ
"Thiên nhân độ" cả mừng
vì trước Chung Linh đã dặn
chàng đường lối khởi
đầu từ cầu này.
Cầu gồm
bốn sợi dây sắt: hai sợi
dới gác ván gỗ để đi,
còn hai sợi trên dùng làm tay
vịn. Đoàn Dự bước chân
lên cầu thấy đu đi đu lại
đã sợ. Ra đến giữa
sông cầu lúc lắc mạnh hơn, chàng
nhìn xuống sông chỉ thấy nớc
chảy veo veo, tựa như từng đàn
ngựa đuổi nhau dưới chân.
Chỉ sểnh một chút té nhào xuống
thì dù có biết bơi lội cũng
không toàn tánh mạng. Chàng càng
kinh hãi bội phần không dám trông
xuống nữa, cặp mắt chỉ nhìn
về phía trước, vừa đi
vừa run. Lần từng bước
một, sang tới đầu cầu bên
kia bấy giờ mới hoàn hồn.
Chàng ngồi nghĩ một lúc, ôn
lại lời dặn của Chung Linh. Cứ
lời nàng nói thì hang núi
nàng ở tên là hang Vạn Kiếp.
Cổng vào nhà nàng là một ngôi
mả lớn.
Đoàn Dự
thấy trong người đã đỡ
mệt liền đứng dậy đi, lúc
rẽ ngang, lúc lượn vòng, khi quanh
khe núi, khi vào rừng sâu nhất
nhất theo đúng lời chỉ dẫn
của Chung Linh. Đi đến bãi tham ma
thì trời tối mịt, chàng rẽ
qua mé tả, vừa đi vừa đếm
cho đến ngôi mộ thứ bảy.
Trên ngôi mộ lớn này có
dựng tấm bia đá khắc năm
chữ: "Vạn cừu Đoàn chi mộ".
Chàng sợ run bắn lên, rất lấy
làm kỳ tự hỏi: Sao lại tên
là Vạn Cừu Đoàn? Chàng
nhớ lại lúc chia tay, Chung Linh chỉ
dặn tới bãi tham ma, đi rẽ về
mé tả đến ngôi mộ lớn,
nhưng nàng không nói đến tên
người chết khắc trên bia. Giờ
chàng trông thấy ba chữ Vạn Cừu
Đoàn không khỏi chột dạ.
Ngoảnh nhìn
bốn mặt, sương chiều bao phủ âm
thầm, bóng cây lay động, phóng
tầm mắt nhìn xa hơn nữa, toàn
là mả con mồ lớn, cao thấp
lô nhô, chàng không dám chần
chừ, y theo lời dặn của Chung Linh
ra sức lay chuyển tấm bia đá.
Mé tả lay một cái, mé hữu
lay hai cái, lần thứ hai cũng lay
theo kiểu đó. Sau cùng là lấy
chân đá một cái thật mạnh
vào chữ giữa tấm bia. Chữ
thứ ba lại chính là chữ
Đoàn. Đoàn Dự vốn tính
xuề xoà, không câu nệ, chàng
vừa đá vừa cười
thầm: "Nếu dịch địa là gia
gia ta thì người nhất định
không bao giờ đá vào chữ
Đoàn".
Đoàn Dự
đang suy nghĩ về mấy lời Chung
Linh dặn bảo sao cha thấy hiệu nghiệm,
bỗng hai tảng đá lớn bên
mả tự nhiên ngả xuống, hở
ra một lối đi vào. Chàng cúi
xuống nhìn nhưng bên trong tối om, không
trông thấy gì cả, chàng mạnh
dạn bước vào. Sờ lần
từng bước, lượn hết
khúc quanh, chợt thấy cách chỗ
mình vài trượng, có một ngọn
đèn nhỏ xíu, bé bằng hạt
đậu, ánh sáng vàng khè, ảm
đạm yếu ớt. Chàng trông
về phía ngọn đèn đi tới.
Đột nhiên chàng giật mình đánh
thót một cái, vì bên ngọn đèn
có đặt cỗ quan tài. Nhớ
lời dặn của Chung Linh chàng thổi
tắt phụt đèn đi, bốn bề
lại tối mù tối mịt.
Chờ một
lát chàng nghe có tiếng lịch kịch,
nắp quan tài hé mở, văng vẳng
có tiếng một cô gái hỏi vọng
ra:
- Tiểu thư
về đấy ạ?
Đoàn Dự
đáp:
- Tại hạ
là Đoàn Dự vâng mệnh Chung
cô nương xin đến bái kiến
chúa động.
Cô gái
bỗng bật lên một tiếng "Ô hay",
ra chiều kinh ngạc hỏi:
- Ngươi...
ngươi là người ngoài sao
lại nhận lời uỷ thác của
tiểu thư ta?
Đoàn Dự
đáp:
- Chung cô nương
hiện đang bị nguy khốn, tại hạ
đến để báo tin.
Cô gái
nói:
- Ngươi chờ
đây để ta vào bẩm lại
phu nhân.
Đoàn Dự
nói:
- Vậy càng
hay!
Chàng nghĩ
thầm: "Cung cô nương dặn ta đến
ra mắt mẫu thân nàng trước,
thế này thì có hy vọng đây".
Đoàn Dự
đứng ngoài chờ một lúc
khá lâu, chợt nghe có tiếng
chân người đi tới. Cô
gái lúc nãy trở ra lên tiếng:
- Phu nhân mời
cậu vào.
Đoàn Dự
nói:
- Tôi không
trông rõ đường lối chi
hết, làm thế nào đi được?
Rồi thấy
một bàn tay đưa ra nắm lấy tay
trái chàng. Chàng liền bước
vào trong quan tài, theo sau cô gái, noi
những bậc đá đi vào. Đi
chừng vài trăm bước thì
ra tới một khu rộng rãi, sáng
sủa, có trồng vô số hoa cỏ.
Cô gái buông tay chàng ra nói:
- Xin tôn khách
đi theo tôi!
Dưới
ánh trăng, Đoàn Dự trông
cô gái chừng mười bảy,
mười tám tuổi, cách ăn
mặc theo kiểu cô hầu thì chắc
là đứa nữ tỳ hầu
hạ Chung Linh liền cất tiếng hỏi:
- Tôi gọi
chị bằng gì cho phải?
Cô gái
ngoảnh lại, lắc đầu, đưa
tay ra hiệu cho chàng đừng lên
tiếng. Đoàn Dự thấy y có
vẻ sợ sệt nên không hỏi han
gì nữa cứ lẳng lặng theo
sau.
Nữ tỳ
dẫn chàng xuyên qua một rừng
cây, men theo lối đi nhỏ hẹp về
mé tay trái đến một căn nhà
ngói. Y đứng ngoài gõ cửa
ba tiếng "cạch cạch cạch". Cánh cửa
từ từ mở ra, y đưa tay
ra vẫy Đoàn Dự rồi đứng
tránh sang bên, nhường lối cho
chàng vào trước.
Đoàn Dự
bước vào trong nhà nhìn xem thì
đây là một phòng khách nhỏ.
Trên bàn đặt một cây nến
sáp lớn, thắp sáng trưng. Bàn
ghế rất tinh khiết. Trên vách treo
mấy bức hoạ, trên án trần
thiết đỉnh đồng cùng những
đồ bằng ngọc. Căn nhà này
tuy không rộng lắm song cách bày trí
cực kỳ tao nhã.
Chàng vào
ghế ngồi, nữ tỳ bưng trà
lại mời:
- Xin mời
công tử xơi nước đi!
Phu nhân tôi sắp ra đó.
Đoàn Dự
nâng chén trà lên uống, chợt
nghe tiếng ngọc đeo kêu leng keng, một
thiếu phụ mặc áo lụa xanh uyển
chuyển bước ra, trạc tuổi bốn
mươi, dong nhan diễm lệ, đôi mắt
giống Chung Linh như hệt. Chàng biết
đó là Chung phu nhân liền đứng
dậy vái dài thưa rằng:
- Vãn sinh là
Đoàn Dự xin bái kiến bá
mẫu.
Chung phu nhân
hơi có vẻ hoảng hốt, chắp tay
đáp lễ nói:
- Chào công
tử!
Phu nhân vừa
chào vừa nhìn diện mạo Đoàn
Dự, bất giác biến sắc, rùng
mình, thở hổn hển, lắp bắp:
- Ngươi...
ngươi...
Đoàn Dự
thất kinh:
- Bá mẫu!
Chung phu nhân:
- Ngươi...
ngươi... họ Đoàn phải không?
Đoàn Dự
sực nhớ lời Chung Linh căn
dặn mình chớ nói thật họ
Đoàn. Nhng chàng lại nghĩ bụng:
"Thiên hạ thiếu gì người
họ Đoàn, ngay một tỉnh Vân Nam
cũng có đến hàng ngàn hàng
vạn. Chẳng lẽ cứ họ Đoàn
là biết phép điểm huyệt "Nhất
Dương Chỉ" cả hay sao?". Nên chàng
chẳng để ý đến lời
nàng dặn. Bây giờ chàng thấy
Chung phu nhân có vẻ hoảng hốt hiện
ra mặt mới biết lời Chung Linh
dặn tất có thâm ý gì đây,
chàng muốn nói dối là mình
họ khác, nhng đã lỡ mất
rồi, đành thưa lại:
- Bẩm phu nhân,
vãn sinh họ Đoàn.
Chung phu nhân
lại hỏi:
- Công tử
quê quán tại đâu? Đại danh
lệnh tôn là gì?
Đoàn Dự
nghĩ thầm: "Hai câu này mình phải
nói dối mới được,
để phu nhân khỏi biết rõ tông
tích nhà mình". Chàng nghĩ vậy
liền đáp:
- Vãn sinh quê
ở phủ Lâm An, tỉnh Giang Nam, gia phụ
tên gọi Đoàn Long.
Chung phu nhân
thở phào một cái, ra chiều yên
dạ nói:
- Mời công
tử ngồi chơi!
Hai người
an tọa rồi, Chung phu nhân nhìn đi nhìn
lại từ đầu đến chân
chàng, dường như để soi mói
điều gì. Đoàn Dự thấy
phu nhân chăm chú nhìn mình, chàng
không giữ được vẻ tự
nhiên nữa, liền cất tiếng tha:
- Lệnh ái
hiện đang bị nguy khốn, vãn sinh đến
báo tin.
|