THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 32
Trổ
tài miệng lưỡi áp đảo
quần hùng
Kim Dung
Bình má
má đưa ngón tay ra ấn vào nút
cơ quan tự động đã giữ
chặt Vương
Ngọc Yến
tiểu thư nhng cơ quan này vẫn trơ
ra đó, không nhúc nhích tý
nào. Đoàn
Dự cả giận hỏi:
- Mi không chịu
tha tiểu thư phải không?
Bình má
má vẻ mặt sầu khổ đáp:
- Tôi kiệt
lực mất rồi.
Đoàn Dự
tự mình thò tay vào gầm bàn
sờ nút bấm, ấn đánh
"toách" một
tiếng, cái
vòng thép chịt ưlng Vương Ngọc
Yến tự động mở ra rồi
co về nằm
trong cột sắt.
Đoàn Dự cả mừng nhưng
cha dám thả Bình má má ngay.
Chàng lượm
thanh đao ở dưới đất,
chí vào cắt đứt dây trói
tay A Bích. A
Bích rảnh
tay rồi đón lấy thanh đao cắt
đứt dây trói cho A Châu, hai
người
lại móc
hết hạt trái cây trong miệng ra rồi
vừa mừng vừa sợ, hồi
lâu không
nói ra tiếng.
Vương Ngọc
Yến trừng mắt nhìn Đoàn
Dự mấy lần, nét mặt nàng
lộ vẻ kỳ
dị hỏi:
- Ngươi biết
phép "hoá công đại pháp" ?
Đoàn Dự
lắc đầu đáp:
- Đó không
phải là môn "hoá công đại
pháp" đâu!
Rồi chàng
toan thuật hết đầu đuôi cho
Vương Ngọc Yến nghe nhưng một là
vì câu
chuyện rất dài hai là vị tất
Vương Ngọc Yến đã tin nên
chàng bịa ra
một tên
gọi cho xuôi chuyện:
- Đây chỉ
là môn "thái dương dung tuyết
công" do phép Nhất Dương Chỉ và
Lục mạch
thần kiếm biến hoá ra mà thôi.
Môn "thái dương dung tuyết
công" cùng
môn "hoá công đại pháp" khác
nhau ở chỗ một đằng chính
một
đằng tà,
một đằng thiện, một đằng
ác, không thể coi là một được.
Vương Ngọc
Yến tin ngay, mỉm cười nói:
- Quả là
ta có điều không phải với
ngươi, vì kiến văn hẹp hòi.
Về phép Nhất
Dương Chỉ
của họ Đoàn nước Đại
Lý ta có biết được chút
đỉnh còn phép
Lục mạch
thần kiếm thì mới biết tiếng
mà thôi. Sau này sẽ xin thỉnh giáo.
Đoàn Dự
chỉ mong mỹ nhân hỏi tới đã
cho là mình có phước lắm
rồi, vội
vàng đáp
ngay:
- Nếu tiểu
thư hỏi đến tôi xin trình bày
gan ruột, đâu dám giấu diếm?
A Châu, A Bích
thật không khi nào ngờ đến
phút khẩn cấp cuối cùng Đoàn
Dự tới
giải cứu, lại thấy chàng cùng
tiểu thư trò chuyện thân mật đều
lấy
làm kỳ
dị. A Châu nói:
- Thưa cô
nương! cháu xin cảm tạ cái ơn
cứu mạng! bây giờ ta phải
bắt cả
mụ Bình
má má đưa đi để khỏi
lo mụ tố giác những điều
bí mật.
Bình má
má nói:
- Tôi... tôi...
Mụ chưa dứt
lời, A Châu một tay giữ chặt
đầu, một tay cầm hạt trái cây
nhét vào
miệng mụ. Đoàn Dự nói:
- Phải lắm!
đúng với thủ đoạn nhà
Mộ Dung "gậy ông đập lưng ông".
Vương Ngọc
Yến nói:
- Ta đi với
bọn ngươi một chuyến xem tình hình...
chàng ra sao.
A Châu, A Bích
cả mừng nói:
- Được
cô nương ra đi viện trợ cho
công tử thì còn gì hay bằng?
Hai ả lôi
Bình má má đến cạnh cột
sắt rồi bấm nút tự động
đưa vòng thép ra
giữ chặt
lấy mụ. Đoạn bốn người
lẹ làng đẩy phiến đá
đóng cửa thạch ốc
lại, lanh chân
chạy ra bờ hồ. Bốn người
chạy ra đến hồ may chẳng gặp
một
ai, cùng nhau
bước xuống thuyền nhỏ. A Châu,
A Bích hạ mái chèo, quay
mũi thuyền,
chèo đi. Vương Ngọc Yến rút
kim thoa trên đầu ra, vạch một
chiếc la bàn
64 cách, đặt cành kim thoa vào trung
tâm la bàn, ánh mặt trời
chênh chếch
chiếu vào bóng cành thoa, ánh xuống
mặt la bàn, Vương Ngọc
Yến giơ
tay ra trỏ nẻo. Con thuyền ở giữa
vùng khơi sóng bao la trên mặt hồ
đầy lá
lăng, vòng mé đông rồi quay
sang mé tây đi ra.
Đoàn Dự
rất là khâm phục khen nàng:
- Cô nương
tuy chưa ra khỏi cửa mà hiểu biết
cả thiên văn, địa lý.
Vương Ngọc
Yến mỉm cười nói:
- Đó là
những điều ta xem trong sách, chẳng
hiểu công dụng có hiệu
nghiệm không?
A Châu cùng
A Bích chèo hồi lâu, con thuyền nhỏ
lúc lướt dọc, lúc đi
ngang, lúc lượn
vòng vũng vịnh mà không thấy
quay trở lại Mạn đà sơn
trang, bấy giờ
ai nấy mới vững tâm.
Đoàn Dự
hỏi Vương Ngọc Yến:
- Cô nương!
tôi còn có điều này chưa
hiểu. Tỷ dụ chúng ta trốn đi
ban đêm,
không có
mặt trời để chiếu la bàn
thì làm thế nào?
Ngọc Yến
mỉm cời đáp:
- Dễ lắm!
Tinh tú trên trời là la bàn
đó. Cứ ngẩng đầu lên
nhìn là biết.
A Châu, A Bích
cùng Đoàn Dự ba người
luân phiên nhau chèo thuyền ra
khỏi miền
phụ cận Mạn đà sơn trang. Hết
các nẻo quanh co cùng vũng vịnh
thì hai ả
A Châu, A Bích đã biết đường
đi trên mặt hồ. Trời đã
xế bóng, trên
mặt hồ
sương chiều mỗi lúc một dày,
A Châu nói:
- Thưa cô
nương! Đây đã gần đến
chỗ cháu ở rồi. Cô nương
hãy tạm trú lại
đây đêm
nay để thương nghị việc đi
tìm công tử nên chăng?
Ngọc Yến
nói:
- Cũng đành
thế vậy.
Thuyền đi
càng xa Mạn đà sơn trang phong cảnh
lại càng tịch mịch. Đoàn
Dự thấy
gió thoảng mặt hồ làm lay động
tà áo Ngọc Yến. Lúc đó
trời đã
hoàng hôn,
sương lạnh lăm lăm, Đoàn
Dự cảm thấy nỗi thê lương
tràn ngập.
Những cảm
giác vui tươi lúc mới ra đi
nhạt dần. Chèo thuyền một lúc
nữa,
trông mặt
mũi mọi người đã có
vẻ đờ đẫn như buồn
ngủ. Chợt phía đông
nhìn thấy
ánh đèn le lói A Bích nói:
- Chỗ có
ánh đèn lửa kia là Thính
hương tinh xá của A Châu tỷ nương.
Thuyền liền
nhắm thẳng phía có ánh lửa
bơi tới. Đoàn Dự lẩm
bẩm:
- Đời
ta khó lòng lại có được
một buổi như hôm nay. ước gì
con thuyền cứ
lênh đênh
mãi trên mặt hồ, vĩnh viễn
đừng đến chỗ sáng đèn
lửa kia có phải
hay không?
Bất thình
lình trước mặt một tia sáng
loé ra, bên trời một vì sao đổi
ngôi xẹt
qua, kéo thành
một cái đuôi rất dài. Vương
Ngọc Yến miệng rì rầm nói điều
gì, Đoàn
Dự nghe không rõ. Lúc đó
trời đã tối mịt, không
nhìn rõ mặt, chỉ
nghe thấy nàng
thở dài rất não ruột.
A Bích an ủi
nàng bằng một giọng rất êm ái:
- Cô nương
hãy yên lòng. Công tử thường
gặp dữ hoá lành. trước
nay biết
bao nhiêu lần
gặp nguy hiểm mà rồi công tử
đã qua khỏi được hết.
Ngọc Yến
nói:
- Nếu chàng
đi Cái Bang, thì ta chẳng có gì
quan tâm cho lắm, còn đi chùa
Thiếu Lâm
thì không phải chuyện chơi. Về
72 môn tuyệt kỹ của phái này
chàng đã
hiểu cả nhưng đó là từ
trước. Phái này đã nổi
tiếng mấy trăm năm
nay, giả tỷ
họ còn học thêm được
môn gì khác biệt thì ôi thôi...
Nàng dậm
chân nói tiếp:
- Bữa nay
gặp sao đổi ngôi, ta xem ra thì điều
ước nguyện không thể thành
tựu được.
Theo tục truyền
tại miệt Giang Nam, khi sao đổi ngôi ngời
nào cầu nguyện
khấn khứa
tất lời rồi thì việc khó
đến đâu cũng được
toại nguyện. Nếu sao
lướt
ngang lời cầu còn giang dở,
sao đã biến mất rồi thì việc
không thành.
Hàng ngàn
năm nay, nhiều cô gái Giang Nam chiêm
nghiệm điều đó mà hy
vọng tràn
trề hoặc vì đó mà sinh thất
vọng. Vương Ngọc Yến tuy là người
hiểu biết
rất nhiều lại cực kỳ tinh thông
võ nghệ cũng chưa thoát khỏi
thường
tình của cô gái quê mùa.
Đoàn Dự
nghe nàng than vãn trạnh mối thương
tâm. Tuy chàng biết rõ điều
ước
nguyện của nàng nhất định có
liên quan đến Mộ Dung công tử
và hẳn là
cầu cho gã
đặng bình yên, mọi sự như
ý. Đoàn Dự tự hỏi:
"ở trên đời này
bao giờ
có cô gái nào như Vương
cô nương đây khấn thầm
cầu khẩn cho ta
chăng? trước
kia có Mộc Uyển Thanh rất yêu ta nhưng
sau khi nàng biết ta
là anh ruột
dĩ nhiên sẽ có mối tình cùng
người khác, không biết hiện
giờ y ở
đâu? Và
đã gặp được ai nh ý
lang quân chưa? còn Chung Linh! Vị tiểu
cô
nương này
hãy còn ngây thơ, chưa biết mùi
thế sự. Có lúc nàng tưởng
tới ta
thì cũng
chẳng qua là ngẫu nhiên tâm động
trong chốc lát rồi chuyện đâu
bỏ
đó, quyết
không bằng Vương cô nương tha
thiết với ý trung nhân, mối
tình
dường
như đã chép xương, ghi dạ.
Ôi bá phụ cùng gia gia lại còn
hỏi Cao
tiểu thư
cho ta làm vợ. Ta chưa từng gặp
tiểu thư lần nào. Nàng xấu
đẹp,
thấp cao ta cũng
không biết nữa. Ta không tưởng
nhớ nàng tất nhiên nàng
cũng chẳng
tưởng nhớ đến ta".
Con thuyền đi
mỗi lúc một gần lại, A Châu
nói khẽ bảo A Bích:
- A Bích! Em thử
coi! Dường như có sự gì
lạ lắm!
A Bích gật
đầu nói:
- Sao đèn
đuốc nhiều thế kia?
Rồi nàng
mỉm cười nói tiếp:
- A Châu tỷ
nương ơi! trong nhà chị làm gì
náo nhiệt như đêm nguyên tiêu
vậy? Đèn
đuốc sáng trưng, không chừng
họ ăn mừng ngày sinh nhật chị.
A Châu lẳng
lặng không nói gì. Nàng chỉ nhìn
ánh đèn lửa chiếu xuống
mặt
hồ. Lúc
đó Đoàn Dự đã nhìn
thấy rõ tám chín gian nhà dựng
trên một cái cù
lao nhỏ, trong
đó có hai căn nhà lầu. ánh
đèn lửa do các cửa sổ
chiếu ra
ngoài. Chàng
thầm nghĩ: "chỗ A Châu ở đây
gọi là thính hương tinh xá cũng
tương đương
với cầm vận tiểu trúc của
A Bích. Mộ Dung công tử đối
đãi với
hai cô nữ
tỳ này thật là công bằng.
Cầm vận tiểu trúc thì cách
bài trí thanh
nhã còn
thính hương tinh xá lại ánh lửa
huy hoàng, mỗi nơi một vẻ khác
nhau".
Thuyền còn
cách thính hương tinh xá chừng
một dặm, A Châu dừng chèo
nói:
- Vương cô
nương! kẻ địch vào nhà
rồi!
Vương Ngọc
Yến giật mình hỏi dồn:
- Sao kẻ địch
đến à? Sao ngươi biết? Ai vậy?
A Châu đáp:
- Chưa biết
bọn nào nhưng ngửi thấy mùi
rượu xông lên nồng nàn thì
đúng
là hạng
khách bất nhân đến phá quấy
rồi.
Vương Ngọc
Yến hít hơi thật mạnh để
ngửi xem nhưng chẳng thấy gì. Cả
A
Bích, Đoàn
Dự cũng chẳng thấy mùi gì
khác lạ. Chỉ có mình A Châu rất
thính mũi,
nàng ngửi thấy mùi lạ từ
đằng xa. Nàng nói tiếp:
- Hỏng bét!
Thật là hỏng bét! Bọn chúng
lấy cả rượu hoa nhài cùng
Mai quế
lộ ra uống.
Trời ơi! khổ rồi! Cả vô
hàn mai hoa lộ chúng cũng đem ra uống
vung uống vãi.
Mấy câu
sau nàng nói như muốn khóc, Đoàn
Dự rất lấy làm kỳ hỏi:
- Mắt cô
tinh đến thế kia ? Nhìn thấy rồi
hay sao?
A Châu nghẹn
ngào đáp:
- Không phải
tôi trông rõ nhưng ngửi thấy
rồi. Tôi tốn bao tâm cơ mới
chế
được
thứ rượu đó, bọn gian
ác này đem ra uống mất rồi.
A Bích hỏi:
- A Châu tỷ
nơng ơi! chị tính sao đây? Ta tránh
đi hay lên bờ động thủ?
A Châu nói:
- Chưa rõ
bọn địch có lợi hại lắm
không?
Đoàn Dự
cũng xen vào:
- Phải đó!
Nếu chúng lợi hại quá thì
ta tránh đi là hơn. Băng chúng
chỉ là
hạng tầm
thường thì mình lên giảng
giải cho chúng để những vật
báu của
chị A Châu
đã bị tổn hại...
Ba thiếu nữ
thấy chàng nói thế đều sửng
sốt. Ai nấy trừng trừng nhìn
chân
tay con người
quờ quạng dường như chẳng
biết chút võ công nào mà
sao tại
hoa phì phòng
Bình má má hung hãn là thế
vừa mó vào chàng dây lát
đã
mất hết
nội lực, tuyệt không kháng cự
được chút nào. Chẳng biết
chàng có
phải vào
hạng võ công thượng thừa
mà cố ý làm bộ một gã
thư sinh yết ớt.
Vương Ngọc
Yến hỏi:
- Ngươi lên
bờ mà gặp phải bọn võ
nghệ ghê gớm chúng đánh
ngươi giết
ngươi thì
làm thế nào?
Đoàn Dự
đáp:
- Họ đánh
giết thì tôi đành chịu nhưng
xem ra vận hạn tôi rất tốt việc
gì
cũng gặp
dữ hoá lành cả.
Trong lòng chàng
tự nhủ: "giả tỷ ta có vì
nàng mà phải bỏ mạng cũng cam
tâm".
Vương Ngọc
Yến vẫy tay trái một cái, ngón
tay nàng đã điểm tới
huyệt thái
dương chàng.
Thái dương là một trong các huyệt
đạo sinh tử của con người,
chỉ điểm
mạnh một cái là chết liền.
Bất luận là người có võ
công cao cường
đến đâu
cũng không thể để huyệt đạo
này bị phong toả được. Trong
đêm
tối, Đoàn
Dự mờ mịt chẳng biết chi
rằng mình bị nguy trong khoảnh khắc.
A Bích trông
thấy giật mình kêu rú lên còn
A Châu thì hiểu rằng chẳng qua
Vương Ngọc
Yến thử xem Đoàn Dự là
người không biết võ công
thật hay
giả vờ
nên nàng chỉ chú ý nhìn chứ
không nói gì. Ngón tay Vương Ngọc
Yến chỉ
còn cách thái dương huyệt Đoàn
Dự không đầy một tấc mà
Đoàn
Dự chẳng
biết gì cả, vẫn nói tự
nhiên:
- Ba vị cô
nương còn nhỏ tuổi thế này
mà lên gặp chúng thì không được
đâu.
Ngọc Yến
từ từ rút tay về hỏi:
- Ngươi chưa
học qua võ công thật ?
Đoàn Dự
cười đáp:
- Nếu cái
môn "thái dương dung tuyết công"
mà chưa phải là võ công thì
ngoài ra tôi
chưa học môn nào cả.
A Châu nói:
- Tôi có
kế này. Bây giờ bọn ta tìm
quần áo cải trang là lũ ngư
ông, ngư bà.
Nàng chỉ
về phía đông nói tiếp:
- Mấy nhà
chài lưới kia tôi quen lắm.
Đoàn Dự
vỗ tay cả cười nói:
- Tuyệt diệu!
Tuyệt diệu!
A Châu bèn
trở chèo bơi quay sang phía đông.
Một dải dân chèo này ở
gần
thính hương
tinh xá , ngày thường họ vẫn
đi lại chơi với A Châu. A Châu
đưa Ngọc
Yến, A Bích vào mượn quần
áo để cải trang. A Châu trá
hình làm
một bà
lão chài, Ngọc Yến, A Bích hoá
trang thành hai ngư bà đứng tuổi,
đoạn gọi
Đoàn Dự vào sau, mặc quần
áo giả làm ngư ông ngoài bốn
chục
tuổi. Thuật
hoá trang của A Châu thật tinh diệu tuyệt
luân. Nàng trát phấn,
trát bột
cho cả bốn người một loáng
đã xong cả, người nào
người ấy không
còn ai nhận
ra được bộ mặt cũ nữa.
Nàng lại mượn nào thuyền
nào lưới nào
cần câu
nào cá sống. Đoạn chèo thuyền
về thính hương tinh xá.
Đoàn Dự
cùng Ngọc Yến tuy tớng mạo cải
trang được nhưng giọng noi và
cử chỉ
vẫn lòi đuôi, học đòi
A Châu thế nào được?
Ngọc Yến
cười nói:
- A Châu! Mọi
việc đều do ngươi ứng phó,
bọn ta chỉ có giả câm là tài.
A Châu cũng
cười đáp:
- Phải đó!
Cô nương đừng nói gì
xen vào!
Thuyền bơi
đến gần tinh xá thấy xung quanh
chỗ nào cũng trồng toàn
dương liễu.
Trong nhà vẳng ra những tiếng thô
lỗ cùng tiếng gọi nhau ơi ới
làm cho căn
nhà u nhã, hoa lệ rối loạn cả
lên, mất cả ý nghĩa của nó.
A Châu bật
lên những tiếng thở dài
ngao ngán. A Bích ghé vào tai nàng
nói
nhỏ:
- A Châu tỷ
nương! Để tống cổ bọn địch
đi rồi, em sẽ giúp chị một
tay để
sắp xếp
lại.
A Châu nắm
chặt tay A Bích để thầm cảm ơn
mỹ ý của nàng. A Châu dẫn
ba người
lên bờ, đi quanh vào nhà bếp
thì gặp trù sư của mình tên
gọi Lão
Cố, mặt
mũi đầy mồ hôi mồ kê,
đang nhổ bọt giãi phì phì vào
chảo thức ăn
rồi không
ngớt xoa tay cho ghét cáu rớt
xuống chảo. A Châu trông thấy vừa
tức vừa
buồn cười bảo:
- Lão cố!
Ngươi làm gì đó?
Lão cố
giật mình đánh thót một cái,
quay ra hỏi:
- Mụ... mụ...
A Châu cười
nói:
- Ta là A Châu
cô nương đây mà!
Lão Cố
cả mừng nói:
- Cô nương
ơi! một bọn phá gia ở đâu
đến, bắt ép tôi phải thổi
cơm và nấu
thức ăn
cho chúng! Cô nương lên mà xem!
Lão vừa
nói vừa xì mũi, ném toẹt
vào chảo thức ăn, rồi toét
miệng ra cười
hềnh hệch.
A Châu cùng
A Bích đang lúc phải chú ý
hết sức để đối phó
với cục diện
cực kỳ
nghiêm trọng mà thấy cử chỉ
trẻ con của lão trù sừ béo
ỵ cũng không
thể nhịn
cười được.
Nguyên bọn
địch này ở đâu đến
kẻ réo người quát, uy hiếp
lão phải nấu ăn
và hầu
hạ chúng. Lão không làm thế
nào được đang tức mình
pha những thứ
dơ bẩn vào
món ăn thì A Châu về tới
nơi. A Châu chau mày hỏi:
- Sao ngươi
làm đồ ăn dơ bẩn thế?
Lão cố
vội đáp:
- Món ăn
của cô nương thì lúc tôi
nấu nướng tôi phải rửa
thật sạch. Còn cho
những quân
phá gia này ăn phí của nên
tôi pha những thứ dơ bẩn
vào cho
chúng ăn.
A Châu nói:
- Từ nay
ngươi làm món ăn cho ta, ta cũng
ghê tởm quá.
Lão cố
nói:
- Cô nương
xơi thì khác hẳn, đâu dám
làm thế?
A Châu tuy làm
thị nữ cho Mộ Dung công tử
nhưng là chủ nhân thính
hương tinh
xá. Dưới quyền cũng đủ
đầy tớ, đầu bếp, phu
bơi thuyền, thợ
trồng hoa phục
vụ cho nàng.
A Châu hỏi:
- Bọn địch
có bao nhiêu tên?
Lão cố
đáp:
- Bọn trơức
đến chừng 15, 16 đứa, bọn
sau đến 20 đứa.
A Châu lại
hỏi:
- Những hai
bọn kia à? Chúng thuộc về hạng
nào? Coi cách ăn mặc và giọng
nói có
biết chúng ở đâu không?
Lão cố
hậm hực:
- Mẹ chúng
nó.
Câu chửi
tục vừa ra khỏi cửa miệng,
lão tự biết là vô lễ,
vội đa tay bịt
miệng, sợ
hãi tiếp:
- Xin lỗi cô
nương. Lão cố này tội thật
đáng chết. Hai toán này thì
một toán
là loài
man mọi phương bắc, có vẻ toàn
là cường đạo, còn một
toán nữa
người
Tứ Xuyên, tên nào cũng mặc
bào trắng, không rõ chúng thuộc
về đạo
nào.
A Châu hỏi:
- Họ đến
đây tìm ai? Có người nào
bị thương không?
Lão cố
đáp:
- Toán cường
đạo thứ nhất cũng như toán
cổ quái thứ hai khi vào tới
nơi là
chúng tra hỏi
công tử ở đâu? Tôi
bảo công tử vắng nhà nhưng
chúng không
tin, lùng khắp
nơi tìm kiếm một hồi. Các nha
hoàn trong nhà chạy trốn hết,
còn mình
tôi tức quá, mẹ...
Lão toan chửi
câu nữa nhưng kịp rút lỡi
lại, chưa tuôn ra hết câu. A Châu
thấy mắt
bên trái lão tím bầm, còn
một nửa mặt sưng vù lên chắc
là bị
chúng đánh
đau, trách nào lão chẳng nhổ
đờm giãi cùng xoa tay dơ vào
các
món ăn
cho hả giận? A Châu trầm ngâm một
lát rồi nói:
- Thôi đợc!
Để chúng ta lên coi.
Lão cố
nói không minh bạch. Nàng dẫn Ngọc
Yến, Đoàn Dự, A Bích ba
ngời theo
cửa ngách ra khỏi nhà bếp, xuống
dàn hoa, chui qua cổng tò vò
đi về
phía cửa nhà đại sảnh.
Đoàn Dự
là Vương tử nước Đại
Lý, giàu sang từ nhỏ, nên nhìn
hoa cỏ cùng
cách kiến
trúc thính hương tinh xá không
lấy gì làm lạ mắt nếu là
người
thường
mà trông thấy phong cảnh huy hoàng
của cô hầu còn thế này tất
cho
là chính
nơi công tử Mộ Dung ở, có
lẽ sang trọng hơn cả bậc vương
hầu.
Còn cách
cửa sổ phía sau nhà khách sảnh
chừng vài trượng đã
nghe tiếng
người
huyên náo rất phức tạp. Chẳng
những Đoàn Dự ở tận
chốn biên thuỳ
hẻo lánh,
Vương Ngọc Yến chưa từng ra
khỏi phòng the nên nghe tiếng nói
líu lo thì
tưởng họ là những hạng
người cổ quái mà chính
A Châu người đã
chuyên tìm
hiểu về các loại thổ âm vừa
nghe họ nói cũng nhận thấy ngay
những đặc
điểm kỳ dị. Bọn người
đang la ó om sòm này toàn giọng
thổ
khàn. A Châu
tuy đã hiểu nhiều tiếng địa
phương mà cũng nghe không rõ.
Cứ như
lời Lão cố thì trong bọn này
có nhiều người Tứ Xuyên
mà sao bây
giờ nàng
không nghe thấy một giọng nào Tứ
Xuyên cả. A Châu thoăn thoắt
lại bên
hàng dài cửa sổ, đưa ngón
tay chọc thủng giấy dán vè ghé
mắt nhòm
vào thấy
trong nhà đèn lửa sáng trưng
về đầu phía đông. Mười
tám gã đại
hán to lớn
lực lưỡng đang ăn uống
lu bù. Trên bàn thì chén bát
bừa bãi, dưới
đất thì
ghế đổ ngả nghiêng, gã ngồi
chồm hỗm trên bàn, còn gã
không dùng
đũa, tay
cầm đùi gà hoặc miếng thọt
bò to tớng cắn ăn. Có gã
cầm thanh
đao dài
để cắt thịt, cá ra từng
miếng rồi dùng mũi nhọn đao
xiên vào đa
lên miệng
ăn. A Châu xem cách cử chỉ của
bọn này rõ ràng là những
tay
hào kiệt
bên ngoài quan ải. Nàng nhìn bọn
người ngồi đằng đông
một lúc
rồi lại
nhìn đầu đằng tây. Ban đầu
nàng không lưu ý nhng nhìn lâu
một
hồi, bất
giác mình sởn gai ốc, sau lưng
lạnh toát như bị gáo nớc
lạnh dội
vào. Nguyên
hơn hai mươi người trên này
đều mặc áo bào trắng, ngồi
nghiêm chỉnh,
trên bàn thắp một cây nến nhỏ,
ánh sáng yếu ớt chiếu ra
bất
quá độ
vài thước vuông. Sáu bảy
người ngồi gần ngọn nến
nên trông rõ,
người
nào cũng khô đét, thân hình
gầy khẳng kheo, mặt trơ như gỗ,
đã
không lộ
vẻ vui mừng lại không ra chiều
giận dỗi, trông tựa như xác
chết cả.
A Châu càng
nhìn càng sợ, những người
này ngồi ỳ ra chẳng nói câu
gì, họ
chỉ khác
những thây ma ở chỗ mí
mắt thỉnh thoảng còn hơi mấp
máy một
chút.
A Bích đến
gần A Châu, cầm lấy tay nàng thì
thấy bàn tay lạnh ngắt mà hơi
run. A Bích cũng
chọc thủng cửa sổ để ngó
trộm. Nàng vừa nhìn vào cũng
giật mình
kinh sợ, khẽ kêu lên một tiếng
"trời ơi".
Hai tiếng "thình
thình" vang lên, cửa sổ đã
bị phá vỡ. Bốn người
trong đại
sảnh nhảy
vọt ra là hai gã đại hán ngoài
ải bắc và hai quái khách ở
Tứ
Xuyên.
Hai gã đại
hán quát hỏi:
- Ai đó?
A Châu đáp:
- Chúng tôi
vừa bắt đực mấy con cá
tươi, đến hỏi xem lão đầu
có mua
không? hôm
nay có cả tôm tươi nữa.
Nàng bắt
chước tiếng thổ âm người
Tô Châu. Hai gã đại hán nghe
không
hiểu nhưng
thấy bốn người ăn mặc theo
kiểu dân chài, tay cầm cá cầm
tôm
đang giãy
ngoay ngoảy thì biết ngay là bọn đến
bán tôm cá. Một gã đại
hán
giật lấy
con cá ở trong tay A Châu và gọi
rối rít:
- Nhà bếp!
Nhà bếp! đem mấy con cá này
xuống nấu cháo ăn cho giã rượu.
Còn gã
nữa đón lấy con cá trong tay
Đoàn Dự. Hai gã đại hán
lấy cá rồi
không nói
năng gì nữa, quay gót đi vào
nhà khách. Lúc đi qua mình A Bích
một mùi
hôi thối tựa như mùi cá
ơn đã mười ngày xông
vào mũi nàng. A
Bích không
nhịn được, giơ tay áo lên
bịt mũi. Tay áo nàng tụt xuống
để lộ
cánh tay nhỏ
nhắn, trắng như tuyết. Một gã
ngừi Tứ Xuyên nhanh mắt
trông thấy,
sinh nghi: một bà già đứng tuổi,
sao da dẻ lại nõn nà. Gã liền
quờ tay
ra nắm lấy A Bích hỏi:
- Mụ già
này bao nhiêu tuổi?
A Bích giật
mình hất tay gã ra nói:
- Mi làm trò
gì vậy?
Tiếng nàng
êm ái trong lanh lảnh, cái hất tay
lại lẹ làng mà gã người
Tứ
Xuyên đã
cảm thấy tê dại. Gã vội nhảy
ra xa mấy bước. Bốn gã thấy
vậy
kêu váng
lên. Hơn mười người
từ trong nhà khách nhảy ra, vây
lấy bọn
Đoàn Dự.
Một gã đại hán thò tay ra rứt
bộ râu giả của Đoàn Dự,
bộ râu rớt
xuống đất,
một gã đưa tay ra chụp xuống A
Bích. A Bích né người đi
rồi
đẩy mạnh
một cái làm cho lão té lăn
xuống đất. Một gã đứng
đường sau đa
kiếm ra phạt
ngang. A Bích cúi đầu tránh khỏi,
nhưng nàng quên rằng trên
đầu mình
còn có mớ tóc giả búi
ngược lên đỉnh đầu,
cao đến hơn một tấc so
với ngày
thường. "Soạt" một tiếng, mớ
tóc hoa râm giả tuột xuống để
hở
mái tóc
đen láy của nàng ra.
Gã đại
hán càng la lớn tiếng hơn:
- Có gian tế!
Có gian tế! Bọn chúng cải trang lọt
vào đây. Phải bắt nó đem
ra tra khảo đã.
A Châu giận
lắm hỏi lại:
- Đây là
nhà ai? Kẻ nào là gian tế?
Bọn hán
tử xúm lại đẩy bốn người
vào nhà khách đến trước
mặt một ông già
ngồi đầu
phía đông bẩm báo:
- Thưa trại
chủ! Đã bắt được
bọn gian tế hoá trang làm dân chài.
Xin đa
vào trình
trại chủ.
Ngọc Yến
cùng A Châu, A Bích thấy trong nhà
khách nhốn nháo cả lên. Ba
nàng đều
là tay võ nghệ siêu quần nhưng
còn non tuổi, kiến thức còn
kém
cỏi, phân
vân chưa biết nên động thủ
ngay hay hãy để xem chừng, chờ
đến
lúc bất
đắc dĩ sẽ ra tay. Đoàn Dự
thì lại mù mịt về võ công,
trông tướng
mạo chẳng
biết ai mạnh, ai yếu. Bốn người
ngơ ngác nhìn nhau chưa biết
tính thế
nào cho phải đành đứng
trước mặt lão già để
xem lão phát lạc ra
sao.
Lão già
này tướng mạo khôi ngô hùng
vĩ, một chòm râu bạc dài trùng
xuống trước
ngực. Trong tay trái lão có ba trái
nhạc sắt kêu leng keng. Lão
quát hỏi
bọn Ngọc Yến:
- Bọn mi làm
gian tế ở đâu đến mà
giở trò tinh quái ranh ma? Chắc không
phải hạng
tử tế.
Ngọc Yến
nói với A Châu:
- Hoá trang làm
một bà già chẳng thú gì cả.
A Châu! Ta chẳng hoá trang
nữa đâu.
Nói rồi
nàng bỏ món tóc giả ra, lại
giơ tay lên xoa mặt một cái những
phấn
bột nhồi
thành vết nhăn rơi xuống lả
tả. Bọn hán tử thấy mụ chài
đứng tuổi
đột nhiên
biến thành một vị nữ lang nhan
sắc tuyệt trần đều miệng há
hốc,
giương mắt
ra mà nhìn. Trong sảnh đường
bỗng trở nên im phăng phắc.
Những quái
khách bào trắng ngồi ở đầu
đằng tây cũng trố mắt toé
lửa ra
nhìn nàng.
Ngọc Yến bảo đồng bọn:
- Các ngươi
cũng trút bỏ hết đồ hoá
trang đi!
Rồi nàng
quay lại nhìn A Bích cười nói:
- Chỉ tại
ngươi làm tiết lộ.
Mặc dù xung
quanh bao nhiêu mắt hung dữ đổ
dồn vào mình Ngọc Yến vẫn
coi như không
thấy gì. Nét mặt thản nhiên,
dường như không thèm để
tâm
đến bọn
người lợi hại này. A Châu,
A Bích, Đoàn Dự nghe lời
Ngọc Yến
đều xoa
hết những thứ bôi mặt đi.
Mọi người đã thấy Ngọc
Yến tuyệt đẹp,
lại thấy
A Châu, A Bích cũng là những
vị cô nương hoa nhường nguyệt
thẹn
đều sửng
sốt, không ngờ trên thế gian
lại có những người kiều
diễm đến thế.
Một lúc
lâu lão già khôi ngô lại cất
tiếng hỏi:
- Các ngươi
là ai, đến đây có chuyện
gì?
A Châu cười
nói:
- Tôi là
chủ nhân Thính hương tinh xá này
mà lại có người ở
đâu đến hỏi tôi
là ai mới
kỳ chứ? Bây giờ tôi hỏi
lại: các ông là ai? đến đây
có chuyện gì?
Lão già
nói:
- Thế à?
Nếu cô là chủ nhân đây
càng hay. Phải chăng cô là Mộ
Dung tiểu
thư? Mộ Dung
Bác có phải là gia gia cô không?
A Châu mỉm
cười đáp:
- Tôi chỉ
là một tên nha hoàn. Làm gì
có diễm phúc được làm
con gái lão
gia tôi? các
hạ là ai? đến đây có
việc gì?
Lão gia thấy
A Châu tự xưng là một nha hoàn
có ý không tin, trầm ngâm
giây lát
rồi mới nói:
- Cô mời
chủ nhân cô ra đây, ta sẽ nói
cho hay đến đây làm gì.
A Châu nói:
- Chủ nhân
tôi đi vắng. Các hạ có điều
chi cứ nói với tôi cũng
thế. Tôn tính
đại danh
chẳng lẽ cũng không cho tôi biết
được hay sao?
Lão già
đáp:
- Tôi là
Diêu trại chủ Tần gia trại ở
Vân Châu. Diêu Bá Đương
chính thị là
ta.
A Châu nói:
- Tôi đã
từng được nghe đại danh
và rất đem lòng ngưỡng
mộ.
Diêu Bá
Đương cười nói:
- Cô còn
là cô bé nhỏ xíu đã
biết gì?
Ngọc Yến
nói:
- Tần trại
gia ở Vân Châu có môn võ
nổi tiếng là "ngũ hổ đoạn
môn đao".
Ngày mà
Diêu Công Vọng tự sáng chế
ra nó có tất cả 64 thế. Người
sau
quên mất
năm thế, tôi lại nghe nói ngày
nay chỉ còn 59 thế! Diêu trại chủ!
Trại chủ
học bao nhiêu thế?
Diêu Bá
Đương cả kinh buột miệng hỏi
ngay:
- Môn "ngũ
hổ đoạn môn đao" của Tần
trại gia 64 thế sao cô nương lại
biết?
Vơng Ngọc
Yến lạnh lùng đáp:
- Tôi xem sách
nói rõ như vậy chẳng biết có
đúng không? 5 thế thiếu mất
đi
là "bạch
hổ thiêu giản", "nhất khiếu phong
sinh", "tiễn phác tự nh", "hùng
bá quần
sơn" và "phục tượng thắng
sư" có đúng vậy không?
Diêu Bá
Đơng vuốt râu ngẫm nghĩ. Lão
biết rằng đao pháp của phái
mình
có khiếm
khuyết mất 5 thế rất quan hệ nhưng
5 thế bị thất truyền đó thì
bất
luận là
ai cũng không hiểu là những
thế gì. Bây giờ lão nghe Vuơng
Ngọc
Yến đọc
ra vanh vách thì trong bụng vừa kinh
ngạc vừa hoài nghi nên không
biết đáp
lại ra sao.
Trong đám
khách bào trắng ngồi ở mé
tây có một gã hán tử tuổi
ngoại tứ
tuần thuộc
về môn hộ âm dương quái
khí cất tiếng hỏi Ngọc Yến:
- Môn "ngũ
hổ đoạn môn đao" của Tần
gia trại oai danh chấn động đất
Hà
Sóc dù
có khiếm khuyết mất 5 thế tưởng
cũng chẳng quan hệ gì đến đại
thể?
Xin hỏi cô
nưg gọi Mộ Dung Bác bằng gì?
Vơng Ngọc
Yến đáp:
- Mộ Dung lão
gia là cữu phụ tôi. Còn tôn
tính đại danh các hạ là gì?
Gã hán
tử cười lạt đáp:
- Cô nương
là một học giả uyên thâm, mới
trông qua Diêu trại chủ đã biết
tờng tận
võ công của ông. Vậy lai lịch
tại hạ thế nào cô nương thử
đoán
coi!
Ngọc Yến
mỉm cười đáp:
- Các hạ
trổ ra cho coi một vài ngón may ra tôi
có đoán được chăng?
chứ
chỉ nói
suông vài câu thì tôi không
đoán ra đợc.
Gã hán
tử gật đầu đáp:
- Đúng
thế!
Đoạn gã
đút tay trái vào trong áo bên
phải và tay phải vào trong tay áo
bên
trái, tựa
như trời rét phủ tay cho ấm,
nhng lúc gã rút tay ra thì trong mỗi
tay cầm một
thứ khí giới. Tay trái cầm
một ngọn thiết chuỳ dài chừng
sáu
bảy tấc,
mũi chuỳ nhọn mà có hai chỗ
cong. Tay phải cầm một cây bát giác
tiểu truỳ,
dài chừng một thước, đầu
cây trùy này không lớn bằng
nắm tay
người
thường. Hai thứ binh khí này
nhỏ bé xinh xắn và lóng lánh,
tựa như
đồ chơi
của trẻ nít. Cứ trông bề
ngoài thì những thứ này
dùng vào việc chiến
đấu không
tiện chút nào.
Trong đám
đại hán ngoài ải bắc ngồi
ở phía đông trông thấy
hai thứ binh
khí cổ
quái này có mấy ngời phải
phì cời. Một gã cời vang
lên nói:
- Đây là
những đồ chơi của trẻ nít
ở Tứ Xuyên bày ra cho mọi
ngời coi đó.
Vương Ngọc
Yến nói:
- ồ đây
là môn "lôi công oanh". Chắc các
hạ sở trường về môn
khinh công
và sử
dụng ám khí. Trong sách nói "lôi
công oanh" là môn độc nhất có
thứ
binh khí đặc
biệt của phái Thanh Thành ở Tứ
Xuyên. Trong hai chữ Thanh
Thành ghép
lại đem tách riêng ra thì chữ
"thanh" có 18 thế, chữ "thành" có
36 thế. Toàn
là những thế kỳ lạ biến
trá không biết đâu mà lờng
được. Phải
chăng các
hạ họ Tư Mã?
Gã đứng
tuổi vừa nghe lời Ngọc Yến
đã biến sắc. Gã cùng hai
gã phụ tá, ba
người
nhìn nhau một hồi rồi mới đáp:
- Võ học
nhà Mộ Dung ở Cô Tô quả
là uyên thâm không ai bì kịp,
tiếng
đồn thật
chẳng sai. Tại hạ là T Mã Lâm
xin hỏi lại cô nuơng: phải chăng
chữ "thanh"
có 18 thế đánh còn chữ
"thành" có 36 thế phá?
Vơng Ngọc
Yến đáp:
- Các hạ
nêu ra câu hỏi này là phải.
Tôi cho là "thanh" phải 19 thế mới
đúng
vì hai thế
"bồ đề tử" và "thiết
liên tử" bề ngoài tuy giống
nhau nhưng cách
ứng dụng
lại khác nhau xa không thể hợp
vào một được. Còn 36 thế
phá chữ
"thành" thì
ba thế "phá giáp", "phá thuẫn",
"phá bài" chẳng có gì là
kỳ dị
đặc biệt
nên bỏ đi mà chỉ để 33
thế mới hay.
Bọn Tư Mã
Lâm nghe đoạn đều phải sửng
sốt. Về chữ "thanh" họ mới
học
được
11 thế đánh. Còn những thế
"thiết liên tử", "bồ đề
tử" gì gì đó và khác
nhau thế nào
họ chẳng hiểu gì cả. Đến
"phá giáp", "phá thuẫn", "phá bài"
là
ba thế họ
đắc ý nhất và tự cho
là những tuyệt kỹ bí truyền
của môn phái thì
không ngờ
bị thiếu nữ lại bảo bỏ
đi vì không ích gì. Họ rất
kinh ngạc về sự
hiểu biết
của Vơng Ngọc Yến và rất tức
giận về sự chê bai ba thế phá
thích
nhất của
họ. Họ nghĩ thầm: "nhà Mộ Dung
định làm nhục mình, thêu dệt
nên những
thuyết quái quỷ nh vậy và cho một
cô gái nhỏ tuổi ra liến
thoắng bịp
mình". T Mã Lâm là một tay rất
thâm, y vẫn giữ thái độ
bình
tĩnh đáp:
- Đa tạ cô
nơng chỉ giáo. Khác nào ở
chỗ tối tăm đợc nhìn thấy
ánh sáng?
Y trầm ngâm
một lát nghĩ ra đợc một kế
quay sang bảo gã phụ tá ngồi mé
tả:
- Chử s đệ!
S đệ ra lĩnh giáo cô nơng đi!
Gã phụ tá
mặt đầy sứt sẹo trông thật
xấu xa, chừng ngoài 50 tuổi, mình
đã
mặc áo
bào trắng, đầu còn quấn
khăn trắng, chẳng khác chi ngời
vận hiếu
phục. Dới
ánh sáng lờ mờ bầu
không khí càng trở nên ảm
đạm. Tên y là
Chử Bảo
Côn, y đã biết võ rồi tìm
thầy học thêm, đến làm môn
hạ phái
Thanh Thành.
Y lớn hơn T Mã Lâm 10 tuổi nhng
nhập môn sau nên đành
làm s đệ.
Bản tính y thâm trầm, đến T
Mã Lâm cũng không hiểu lai lịch
y. Có hỏi
thì y trả lời một cách hàm
hồ. T Mã Lâm chỉ biết đại
khái là y võ
công rất
giỏi không kém gì mình mà thôi.
Giờ sai ra hỏi Vơng Ngọc Yến
tởng đã
đắc sách: nếu Vơng Ngọc Yến
không biết gốc tích y thì làm
cho
đối phơng
mất kiêu ngạo, mà Ngọc Yến có
biết rõ lai lịch thì cũng giải
đợc
mối hoài nghi cho mình từ trớc
tới nay.
Chử Bảo
Côn đứng lên, thò tay vào
trong tay áo, lấy ra hai thứ binh khí:
một
ngọn chuỳ
ngắn và một cây búa nhỏ cũng
giống hệt binh khí "lôi công
oanh" của Tư
Mã Lâm rồi nói với Ngọc
Yến:
- Xin cô nương
chỉ điểm cho!
Những người
xung quanh đều mắng thầm: "binh khí
của mi chẳng khác gì
binh khí của
Tư Mã Lâm, cô gái này đã
hiểu rõ Tư Mã Lâm chẳng lẽ
lại
không biết
mi hay sao?".
Vương Ngọc
Yến cũng đáp:
- Các hạ
đã sử dụng binh khí "lôi
công oanh" thì dĩ nhiên cũng trong
phái
Thanh Thành chứ
gì?
Tu Mã Lâm
nói ngay:
- Chử s đệ
đây đã biết võ nghệ
rồi mới đến Thanh Thành nhập
môn. Gốc
tích y ở
môn nào xin cô nương chỉ thị
cho.
Ngọc Yến
nghĩ thầm: "vấn đề này nan
giải đây". Nàng chưa kịp đáp
thì Tần
trại chủ
Diêu Bá Đương ngồi bên
kia đã cướp lời:
- Tư Mã chởng
môn! Chởng môn yêu cầu cô
nơng nói rõ bộ mặt ngày
trớc của
lệnh s đệ là có ý gì
vậy? Tôi thấy điều ấy thật
vô thú vị.
Tu Mã Lâm
ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại vô
thú vị?
Diêu Bá
Đương cười châm chọc:
- Bộ mặt của
lệnh sư nay đã chạm trổ tinh vi,
thế thì còn gì để mà
khảo cứu
ra được
cái dĩ vãng của nó nữa?
Bọn đại
hán ngồi đầu phía đông
nghe Diêu Bá Đương nói nhìn
lại mặt Chử
Bảo Côn
thấy đầy sứt sẹo tức
thời cời vang lên. Tiếng cười
to đến nỗi
những ngọn
đèn lửa phải tạt đi tạt
lại. Chử Bảo Côn bản tính
thâm độc. Bình
nhật y ghét
cay ghét đắng kẻ nào cười
y mặt rỗ sứt sẹo. Người
nào vô ý nhìn
mặt y nhng giữ
mặt thản nhiên nh không chú ý
thì không sao, bằng lộ vẻ
kinh dị hoặc
chau mày, nhăn mặt ra vẻ khó chịu
thì y phải làm người đó
thành sống
giở chết giở mới nghe.
Bây giờ y nghe Diêu Bfá Đương
công
nhiên chế
diễu mình trước mặt mọi ngời
thì nhịn sao đợc? Hơn nữa
mặt
mũi y đã
xấu lại ở trước mặt
một bọn nam nữ thanh lịch trách
nào y chẳng
căm hận
những người cứ hau háu
nhìn y? Thế là y chẳng nể mặt
Diêu Bá
Đơng vừa
là một vị anh hào đất bắc
vừa là một vị trại chủ,
tay trái y cầm
mũi cơng
chuỳ nhắm thẳng phía trước
Diêu Bá Đương, tay phải cầm
mẩu
dây buộc
ở đuôi chuỳ phóng mạnh
ra đánh véo một tiếng nh xé
bầu không
khí bắn
đến trớc ngực Diêu. Diêu
Bá Đương tuy đã biết trớc
mình buông
lời chế
diễu tất đối phơng chẳng chịu
để yên nhng không ngờ đối
phơng
hạ độc
thủ phóng ám khí lanh nh thế. Trong
lúc nguy cấp, không kịp rút
đao ra gạt
vội cầm cái đế đèn
trên bàn nhằm ám khí đánh
bật lại. Một tiếng
"keng" vang dội
ám khí bắn lên trần nhà.
Nhìn ra thì là một mũi cơng
châm tuy nó
chỉ dài hơn ba tấc nhng sức mạnh
vô cùng. Chả thế mà nó
đụng vào
đế đèn làm cho hổ khẩu
Diêu Bá Đơng phải tê nhức,
đế đèn rơi
xuống đất.
Bọn Tần trại gia vừa rút đao
ra loảng xoảng vừa la lên:
- Dùng ám
khí hại ngời, thật là đồ
hèn nhát.
Một gã béo
ỵ còn văng những câu tục
ra chửi mắng thậm tệ. Mọi ngời
bên
Thanh Thành nguyên
thuộc môn hộ "âm dơng quái khí"
vẫn nín thinh.
Quần hào
Tần gia trang muốn chửi mắng thế
nào thì chửi họ cũng lờ
đi như
không nghe tiếng.
Diêu Bá
Đương để rơi cái đế
đèn xuống đất, theo quy củ
võ lâm thế là thua
một đòn
rồi. Lão nghĩ bụng: "võ công
bên đối phơng có nhiều tà
đạo mà
bên mình
chỉ biết đem gơm đao ra tranh đấu
một cách quang minh chính
đại. Cứ
như lời tiểu cô nưng đây
vừa nói thì 18 thế thuộc về
chữ "thanh"
tựa hồ
những thế đánh này có
điều ám muội bên trong, bọn mình
chỉ sơ ý
một tý
là bị chúng ám toán.
Nghĩ vậy
Diêu Bá Đương khoát tay ra hiệu
cho đồng đảng yên lặng rồi
hỏi
Chử Bảo
Côn:
- Vừa rồi
Chử huynh đệ cho ra một đòn
cực kỳ lợi hại, cái đòn
hiểm độc đó
gọi là
gì vậy?
Chử Bảo
Côn chỉ cười khành khạch
chứ không trả lời. Gã
đại hán béo ỵ bên
Tần trại
gia nói móc:
- Chắc gọi
là đòn "ám tiến hại người,
cần chi thể diện?".
Mấy gã
khác cũng nhao nhao lên mạt sát Chử
Bảo Côn. Ngọc Yến thấy vậy
lắc đầu
lên tiếng bằng một giọng êm ái:
- Diêu trại
chủ! Trại chủ có điều lầm
lỗi rồi.
Diêu Bá
Đơng hỏi:
- Cô nơng
bảo sao?
Ngọc Yến
đáp:
- Bất luận
là ai khó lòng giữ cho thân
thể khỏi bị tàn tật. Có người
vì bệnh
hoạn mà
tàn tật, người thì sơ ý
té một cái cũng có thể bị
què chân. Giao
chiến với
người khác, không địch
nổi cũng có thể bị đui mắt,
cụt tay là
thờng.
Bạn hữu trong võ lâm, thân thể
bị tổn thơng phỏng có chi là
lạ? Có
phải thế
không trại chủ?
Diêu Bá
Đơng chỉ đáp gọn một tiếng:
- Vâng
Ngọc Yến
lại nói:
- Chử gia
đây thuở nhỏ bị bệnh, thân
thể thành vết ngấn thì có
gì đáng cời?
Bàn về
nhân phẩm các bậc kỳ nam tử
đại trợng phu thì thứ nhất
là đạo đức,
thứ hai
là tài năng sự nghiệp, thứ
ba là văn học võ công. Chử
gia đây có
phải giả
trang làm đàn bà đâu, vậy
thì dong mạo có tuấn tú hay không
cũng
chẳng can hệ
gì.
Diêu Bá
Đương bị Vương Ngọc Yến
dồn cho một hồi, câm họng không
còn
biết nói
sao, đành cuời khà khà đáp:
- Tiểu cô
nuơng nói thật đúng lý. Đã
thế thì xin lỗi Chử huynh đệ
về câu nói
diễu cợt
vừa rồi.
Ngọc Yến
mỉm cời nói:
- Lão gia thản
nhiên nhìn nhận lỗi mình, đủ
biết nư người là bậc quang
minh
lỗi lạc.
Nàng quay lại
lắc đầu nói với Chử
Bảo Côn:
- Đừng
hành động nữa! cái đó
vô dụng!
Nàng nói
câu này với nét mặt ôn
nhu, lại có vẻ về bè với
Chử, tựa hồ chị
khuyên em trong
lúc vội giận mất khôn. Lời
nói của nàng ngụ ý cực
kỳ thân
thiết.
|