THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 30
Chơi
hoa đã dễ mấy người biết
hoa
Kim Dung
Vương phu nhân
nói:
- Gã này
vô lễ. Trước hết chặt chân
gã rồi sẽ móc mắt và cắt
lưỡi gã đi.
Một ả thị
nữ cao lớn, nước da ngăm
ngăm khom lưng đáp:
- Xin vâng!
Đoàn Dự
lo thầm: "họ làm thế này thì
giết mình đi còn hơn". Đằng
này họ
chặt chân,
móc mắt, cắt lưỡi, sống
không sống được, chết chẳng
chết cho,
cái đó
mới thực khổ cho mình". Đến
bây giờ chàng quả thấy trong
lòng sợ
hãi. chàng
quay đầu lại nhìn A Châu, A Bích
một lần nữa thì thấy hai mặt
xám như
gà cắt tiết, người đứng
đờ ra như tượng gỗ.
Phu nhân lên
bờ rồi, hai tên thị nữ
áo xanh ở thuyền ra sau rốt, trong
tay
đều cầm
đầu dây lôi một chàng thanh
niên mi thanh, mục tú, có vẻ là
con
nhà giàu
sang và một người nữa, ngoại
hiệu là Nộ Giang Vương Tần
Nguyên Tôn.
Lúc Tần đến vây đánh
Mộc Uyển Thanh thì oai phong là thế
mà bây
giờ bị trói chặt, lão cúi
gầm mặt xuống chẳng khác gì
cái xác không
hồn hay như
cá nằm trên thớt tuỳ người
muốn băm vằm mổ xẻ gì thì
làm.
Đoàn Dự
rất lấy làm kỳ tự hỏi:
"ông này ở Vân Nam sao cũng
bị Vương
phu nhân bắt
về đây?".
Bỗng nghe Vương
phu nhân quay sang hỏi Tần Nguyên Tôn:
- Rõ ràng
mi là người nước Đại
Lý, làm sao không chịu nhận đi?
Tần Nguyên
Tôn đáp:
- Tôi ở
Vân Nam, quê quán tôi không thuộc
về nước Đại Lý.
Vương phu nhân
lại hỏi:
- Nhà ngươi
cách nước Đại Lý bao xa?
Tần Nguyên
Tôn đáp:
- Hơn bốn
trăm dặm.
Vương phu nhân
nói:
- Chưa đầy
năm trăm dặm, thế cũng là người
Đại Lý rồi. Đem y chôn sống
dưới
gốc Mạn đà la để bón
cho cây.
Tần Nguyên
Tôn kêu lên:
- Nhưng tôi
phạm tội gì mới được
chứ? Nếu không nói rõ thì
chết cũng
không nhắm
mắt.
Vương phu nhân
cười lạt đáp:
- Cứ là
người Đại Lý hoặc người
họ Đoàn mà gặp ta là ta chôn
sống, chỉ có
thế thôi.
Tuy ngươi không phải ở Đại
Lý, nhưng là người lân cận
nước Đại
Lý thì
cũng thi hành như nhau.
Đoàn Dự
lẩm bẩm: à ra mụ này nói có
vẻ châm chọc mình. Ta chẳng cần
chờ mụ
hỏi, cứ nhận trước đi
cho rồi. Nghĩ vậy chàng lớn
tiếng nói:
- Ta là người
nước Đại Lý, lại chính
trong họ Đoàn. Ngươi muốn chôn
sống
ta thì hạ
thủ ngay đi!
Vương phu nhân
lạnh lùng nói:
- Ngươi đã
báo danh rồi. Tên là Đoàn
Dự chứ gì? được
lắm! Người họ Đoàn
nước
Đại Lý đâu có được
chết dễ dàng thế?
Phu nhân vẫy
tay một cái, tên thị nữ kéo
Tần Nguyên Tôn đi. Nhưng Tần
vừa bị
điểm huyệt vừa bị trọng thương,
không sao kháng cự được,
lão kêu to
lên:
- Thế gian sao
lại có cái luật lệ kỳ dị
như vậy? Mấy trăm vạn nhân dân
nước
Đại Lý
liệu có giết hết được
không?
Lão kêu
gào thế nào cũng mặc, thị
nữ lôi tuột lão đi vào
rừng trà mỗi lúc
một xa, tiếng
la cũng nhỏ dần. Phu nhân nghiêng
đầu đi một chút nhìn
chàng thanh niên
mày thanh, mắt sáng hỏi:
- Mi có điều
chi muốn nói nữa chăng?
Chàng thanh niên
vội quỳ rạp xuống đất, dập
đầu lạy luôn mấy cái nói:
- Gia phụ làm
quan tại triều, dưới gối chỉ
có mình tôi là con. Xin phu nhân
tha mạng cho. Dù
phu nhân muốn điều chi, gia phụ cũng
nhất định vâng
theo.
Vương phu nhân
lạnh lùng đáp:
- Cha mi làm quan
lớn trong triều, lẽ nào ta không
biết? Ngươi muốn sống
cũng chẳng
khó gì. Chỉ có điều hôm
nay mi phải về nhà giết vợ con
đi, rồi
sáng mai đem
đủ sáu lễ cưới Miêu
thị là người đã có
tư tình với mi. Mi có
bằng lòng
không?
Chàng thanh niên
đáp:
- Về việc
đang tay... chém giết vợ con, tôi
không dám làm. Còn việc cho
mối lái
và cưới xin đàng hoàng
để lấy Miêu thị thì song thân
tôi nhất định
không chịu.
Không phải là tôi...
Chàng chưa
dứt lời phu nhân đã ra
lệnh:
- Đem gã
chôn sống đi!
Tên thị
nữ dắt chàng lúc nãy chỉ
"vâng" một tiếng rồi kéo chàng
đi.
Chàng thanh niên
sợ run bắn người vội nói:
- Tôi... tôi
xin tuân mệnh.
Vương phu nhân
nói:
- Tiểu Thuý!
Mi áp giải gã về thành Cô
Tô và chính mắt mi phải nhìn
thấy
rõ gã
ra tay giết vợ, cùng Miêu cô
nương thành thân rồi hãy về
đây phục
mệnh.
Tiểu Thuý
vâng lời, lôi chàng bỏ xuống
chiếc thuyền nhỏ Đoàn Dự
đang
ngồi. Chàng
thanh niên miệng vẫn năn nỉ:
- Xin phu nhân
mở lượng từ bi, phu nhân
không có thù oán gì với
vợ tôi, lại
không quen biết
Miêu cô nương. Tôi cũng chưa
từng quen biết phu nhân, hà
tất phu nhân
bắt tôi giết vợ để lấy
người khác làm chi? Từ
nay tôi không
dám làm
điều gì để đắc tội
với phu nhân.
Vương phu nhân
nói:
- Mi đã
có vợ con, sao còn đi dùng lời
ngon ngọt để chàng màng với
các cô
gái khác?
Ta không biết thì thôi, một khi đã
biết ra ta đều xử theo đường
lối
này. Vả
mi có phải mới phạm một lần
này mà thôi đâu? Còn oán
hận gì
nữa? Tiểu
Thuý vụ này là vụ thứ
mấy rồi hả?
Tiểu Thuý
đáp:
- Những chỗ
tiểu tỳ quen biết như những vụ
xảy ra ở Đan Dương, Vô Tích,
Gia Hưng cả
thảy bảy vụ. Còn những vụ
nào nữa thì phu nhân hỏi Tiểu
Lan,
Tiểu Thi sẽ
rõ.
Chàng công
tử nghe mà bủn rủn cả người,
luôn miệng kêu than.
Tiểu Thuý
buông mái chèo, bơi thuyền đi
luôn.
Đoàn Dự
thấy Vương phu nhân hành động
cực kỳ khốc liệt, không đếm
xỉa
đến lý
lẽ thì miệng há hốc ra, mắt
mở trừng trừng như người
sắp nổi cơn
điên. Trong
lòng chàng vẫn quanh quẩn với
ý nghĩ: "sao lại có con người
vô
lý đến
như thế?". Bất giác chàng buột
miệng la lên:
- Có lý
nào thế được? Có lý
nào thế được?
Phu nhân "hừ"
một tiếng rồi nói tiếp:
- Mi còn hỏi
việc thiên hạ có lý nào thế
được ? Này này ta bảo còn
nhiều
việc hơn
thế nữa là khác.
Đoàn Dự
vừa thất vọng lại vừa khó
chịu. Chàng nhớ lại bữa
trước chàng vào
thạch động
gần sông Thương Lan, thấy pho tượng
thần tiên mà chàng xiết
bao ngưỡng
mộ, bây giờ chàng thấy Vương
phu nhân tướng mạo giống pho
ngọc tượng
như đúc mà hành vi chẳng khác
gì yêu ma quỷ quái.
Đoàn Dự
đang cúi đầu lầm lỳ chán
nản thì bốn con nữ tỳ chui vào
thuyền bê
ra bốn chậu
hoa. Chàng vừa trông thấy, tự
nhiên tinh thần lại thấy phấn
khởi. Nguyên
bốn chậu hoa này đều là những
thứ sơn trà rất hiếm. Khắp
thiên hạ
đều ca tụng sơn trà Đại
Lý là quý hơn hết. Trong phủ
Trấn Nam
Vương không
biết bao nhiêu là sơn trà có
danh tiếng thì bốn chậu trà này
cũng đứng
vào hàng nhất trong phủ. Từ
thuở nhỏ Đoàn Dự xem trà
đã quen.
Lúc rồi
chàng thường ngồi nghe thợ
làm trà bàn tán phê bình
về tính chất
cùng ưu
liệt điểm của từng thứ
trà. Chàng không học tập nghề
trồng trà
nhưng trong lòng
cũng thuộc như cháo, khác nào
con nhà nông phân biệt
lúa má
hay con cháu ngư ông sành sỏi về
các loại cá tôm? Lúc trước
chàng
đã đi
lại mấy dặm để ngắm xem rừng
trà mà chưa thấy có một gốc
trà nào
vào hàng
giai phẩm, trong lòng chàng đã nghĩ
đến cái tên "mạn đà
sơn
trang" đặt
cho khu trại này thật uổng.
Bỗng nghe Vương
phu nhân gọi:
- Tiểu Trà!
Bốn chậu trà "mãn nguyệt" này
khó kiếm lắm đấy! Mi phải
trông nom chăm
chút nghe!
ả thị nữ
tên gọi Tiểu Trà đáp:
- Vâng!
Đoàn Dự
nghe giọng hách dịch kiêu điệu
thì hề hề cười lạt. Vương
phu
nhân không
thèm nói gì đến chàng lại
dặn tiếp:
- Đi trên
mặt hồ gió to, bốn chậu trà
để luôn trong thuyền mấy ngày,
thiếu
ánh mặt
trời chiếu vào, mi phải đem
ra phơi nắng và gia công bón vào.
Tiểu Trà
lại "vâng" một tiếng.
Bây giờ
thì Đoàn Dự lớn tiếng
cười ha hả. Vương phu nhân
nghe tiếng cười
có vẻ
hỗn xược hỏi:
- Mi cười
gì?
Đoàn Dự
đáp:
- Ta buồn cười
cho mi đã chẳng biết tý gì
về sơn trà lại ưa trồng trà.
Những
thứ trà
quý thế kia lọt vào tay ngươi
thật là uổng, chẳng khác gì
chim cú đậu
cành mai.
Vương phu nhân
nổi giận nói:
- Mi bảo ta không
hiểu sơn trà, dễ thường
cái ngữ mi hiểu được
chăng?
Rồi dường
như phu nhân sực nhớ ra điều
gì lẩm bẩm: ừ mà gã này
là con
cháu họ
Đoàn nước Đại Lý,
không chừng gã hiểu sơn trà
cũng nên. Nghĩ
vậy thì
nghĩ nhưưng phu nhân vẫn ra vẻ kiêu
kỳ:
- Mi không nghe
nói bản trang đây xưng danh "mạn
đà sơn trang" hay sao?
Và không
thấy khắp sơn dã trà mạn đà
chỗ nào cũng tốt như rừng
đấy ?
Đoàn Dự
cười lạt đáp bằng giọng
khinh khỉnh:
- Tuồng chi rừng
mạn đà của ngươi chẳng khác
chi giống người vai u thịt
bắp, vứt
đâu mà chẳng to chẳng lớn?
Ta nói là nói bốn chậu chà
này này,
nếu ngươi
trồng được nó tươi tốt
thì ta quyết không phải người
họ Đoàn.
Vương phu nhân
vốn rất ưa hoa trà, không kể
tốn phí, đi tìm khắp nơi để
mua giống quý
nhưng cứ đem về Mạn đà
sơn trang trồng thì các thứ trà
hiếm có
chỉ được một năm hay dăm
bảy tháng rồi sinh bệnh mà chết.
Phu
nhân thường
buồn phiền về những vụ này.
Giờ thấy Đoàn Dự nói
vậy,
không giận
mà lại mừng thầm, tiến lại
hai bước hỏi:
- Bốn chậu
trà này có gì đặc biệt?
Muốn trồng cho tươi tốt phải
làm thế
nào?
Đoàn Dự
nói:
- Nếu ngươi
muốn thỉnh giáo thì phải có
đủ lễ nghi, còn người
muốn làm
oai làm phước
thì chặt chân ta trước rồi
hỏi cũng chưa muộn mà.
Vương phu nhân
tức mình nói:
- Mi muốn chặt
chân phỏng có khó gì? Tiểu
Thi đâu! Mi đem chặt chân trái
gã đi
nghe!
ả nữ
tỳ tên gọi Tiểu Thi "vâng" một
tiếng rồi chống kiếm bước
ra.
A Bích vội
la lên:
- Thưa phu nhân!
Không nên chặt chân Đoàn quân.
Cậu là người rất quật
cường,
thà chết chứ không chịu nói
đâu.
Thực ra Vương
phu nhân cũng chỉ hăm doạ chàng
mà thôi, liền giơ tay trái
lên, Tiểu
Thi vội dừng bước.
Đoàn Dự
cười nói:
- Sao không chặt
hai chân ta để chôn bên gốc
bốn khóm bạch trà này để
bón
cho tốt? Bốn
khóm trà này quý vô cùng,
hoa nó lớn bằng miệng bát chậu.
Ha ha thật là
thứ trà rất đẹp, rất
quý.
Trong lòng Vương
phu nhân chỉ mong có thứ trà
quý nhưng nghe giọng lưỡi
chàng toàn
là bướng bỉnh, phu nhân không
biết nói thế nào, ngẫm nghĩ
hồi
lâu rồi
bảo:
- Mi chỉ toàn
nói ba hoa. Ta hỏi mi: bốn chậu bạch
trà của ta quý thì quý ở
chỗ nào?
Mi nói cho ta nghe thử! Nếu đúng
ta sẽ theo lễ đối đãi với
mi cũng
chưa muộn.
Đoàn Dự
đáp:
- Vương phu
nhân! Ngươi bảo bốn chậu bạch
trà này tên là "mãn nguyệt"
là
láo toét.
Một thứ tên gọi "Hồng trang tố
lý", một thứ là "trảo phá
mỹ nhân
kiểm"...
Phu nhân lấy
làm lạ ngắt lời:
- "Trảo phá
mỹ nhân kiểm"? tên trà gì mà
kỳ thế? Vậy chậu trà nào có
tên
thế?
Đoàn Dự
nói:
- Ngươi muốn
thỉnh giáo ta thì phải theo đúng
lễ ta mới chỉ bảo cho.
Vương phu nhân
không biết làm thế nào nhưng
thấy mình vô tình lấy được
mấy khóm
trà có những tên đặc biệt
trong lòng hớn hở vui mừng
liền mỉm
cười
nói:
- Hay lắm! Tiểu
Thi đâu! Mi bảo nhà bếp sửa
tiệc tại lầu Vân Cẩm để
ta
khoản đãi
Đoàn tiên sinh nghe!
Tiểu Thi vâng
dạ đi ngay. A Châu, A Bích chỉ nhìn
nhau. Hai nàng thấy
Đoàn Dự
chẳng những không chết lại còn
được Vương phu nhân tiếp
đãi
vào hạng
thượng tân thì khác nào
như mơ mộng.
Phu nhân quay lại
dặn ả thị nữ cầm ba cái
đầu lâu:
- Mi đem ba cái
thủ cấp này chôn xuống bên
khóm hoa hồng trước lâu
Hồng Hà.
Thị nữ
vâng lệnh đi ngay, Vương phu nhân
quay lại nói với Đoàn Dự:
- Nào xin mời
Đoàn công tử lên đây!
Đoàn Dự
đáp:
- Vãn sinh mạo
muội! Xin hiền chủ nhân thứ lỗi.
Vương phu nhân
nói:
- Đại hiền
giá lâm khác nào rồng đến
nhà tôm?
Hai người
vừa đối đáp những
câu khách sáo vừa đi rất
ung dung, khác hẳn
lúc nãy,
tính mạng Đoàn công tử dường
như ngàn cân treo đầu sợi
tóc. A
Châu, A Bích
theo sau. Hai người biết tính Vương
phu nhân hốt hỷ hốt nộ,
nói cười
đấy rồi trở mặt ngay đấy
nên trong lòng vẫn phập phồng lo sợ.
Vương phu nhân
dẫn Đoàn Dự đi qua một chiếc
cầu đá, theo con đường
chật hẹp
đến trước một toà lầu
nhỏ. Đoàn Dự ngẩng đầu
lên trông thấy dưới
mái hiên
có treo tấm biển đề ba chữ
vàng: "Vân Cẩm lâu". Bốn mặt
toà lầu
này trồng
toàn hoa trà. Những bông trà
ở đây đem so với trà
bên Đại Lý chỉ
đáng đứng
vào hàng thứ ba, thứ tư
trở xuống. Đình tạ, lầu
các cực kỳ lịch sự
mà cỏ
hoa lại tầm thường nên mất
cả vẻ tương xứng.
Vương phu nhân
lộ vẻ đắc ý hỏi Đoàn
Dự:
- Đoàn
công tử! Bên quý quốc nhiều
trà thật nhưng có lẽ còn thua
bên này.
Đoàn Dự
gật đầu đáp:
- Vâng! bên
Đại Lý quả không trồng những
thứ trà này.
Vương phu nhân
lại càng tự đắc hỏi:
- Vậy ?
Đoàn Dự
đáp:
- Vì bên
nước tôi từ kẻ dân
dã, ngu phu tục tử cũng rất sành
về các loại trà.
Họ cho trồng
những thứ trà tạp nham này
làm cảnh chơi sẽ làm mất cả
phẩm giá
con người.
Vương phu nhân
tức thời biến sắc hỏi:
- Công tử
nói sao? Những trà của ta đây
là những thứ không ra gì?
Thế thì
công tử
khinh người quá!
Đoàn Dự
đáp:
- Phu nhân không
tin tôi thì đó là quyền của
người.
Chàng vừa
nói vừa chỉ một khóm hoa trà
có vân ngũ sắc trước
lầu nói tiếp:
- Tỷ như khóm
trà này phu nhân cho là quý lắm!
Chà cái lan can bên cạnh
mới thực
là đẹp. Chàng tấm tắc khen
cái giàn hoa đẹp còn chính
cây hoa lại
không đếm
xỉa gì đến, có khác gì
người bình phẩm chữ viết
chỉ khen mực
đen bóng
mà không đả động đến
nét chữ. Khóm hoa trà này
có bông hồng,
bông trắng,
bông tía, bông vàng rất là
sặc sỡ, trước nay Vơng phu
nhân
vẫn cho là
quý báu lắm giờ xem Đoàn
Dự có ý mỉa mai thì tỏ vẻ
không
bằng lòng.
Đoàn Dự
hỏi:
- Thưa phu nhân!
Miệt Giang Nam gọi tên thứ hoa này
là gì?
Vương phu nhân
đáp:
- ở đây
không có tên riêng, chỉ gọi là
ngũ sắc trà hoa.
Đoàn Dự
nói:
- Bên Đại
Lý chúng tôi gọi nó là "lạc
đệ tú tài".
Vương phu nhân
bĩu môi nói:
- Tên gì
mà khó nghe thế? Chẳng qua là công
tử muốn đặt ra vậy thôi.
Khóm hoa này
đủ mầu mỹ lệ đường
hoàng, có vẻ gì gọi là cậu
tú hỏng thi
đâu?
Đoàn Dự
nói:
- Phu nhân thử
đếm coi! Khóm trà đó có
bao nhiêu kiểu hoa khác nhau?
Vương phu nhân
đáp:
- Ta đã
đếm rồi! ít ra cũng có đến
15, 16 thứ.
Đoàn Dự
nói:
- Cả thảy
có 17 thứ mới đúng. Bên
Đại Lý tôi có thứ trà
kêu bằng "thập bát
học sĩ".
Đó là thứ quý nhất
thiên hạ. Cả khóm có 18 bông
mà mầu sắc
không bông
nào giống bông nào: hồng thì
toàn hồng, tía cũng toàn tía,
chứ
không hỗn
tạp. Về hình dạng cũng khác
nhau, mỗi bông có một vẻ đẹp
riêng. Cả
18 bông nở cùng một lúc, tàn
tạ cũng trong một giờ. Phu nhân
đã
được
xem chưa?
Vương phu nhân
lắc đầu đáp:
- Thiên hạ
có thứ trà quý thế kia ? Tôi
chưa từng nghe thấy ai nói đến.
Đoàn Dự
lại nói tiếp:
- Sau hạng "thập
bát học sĩ", còn có những
thứ kém đi từng bậc một,
tỷ như
"bát tiên
quý hải", một gốc sinh ra tám bông
hoa khác nhau, "thất tiên nữ"
có bảy
bông, "phong trần tam hiệp" có ba bông,
"nhị kiều" có hai bông một
trắng một
hồng. Tất cả các bông hoa phải
thuần một sắc, nếu hoa hồng có
pha mầu trắng,
hoặc hoa trắng có pha sắc tía đều
là hạng kém.
Vương phu nhân
vừa nghe vừa gật đầu. Đoàn
Dự lại nói tiếp:
- Riêng về
thứ "phong trần tam hiệp" lại chia ra
làm hai: hạng chánh và
hạng phó.
Trong ba bông thì bông tía phải lớn
hơn hết tợng trưng cho Cầu
nhiêm Khánh,
bông trắng thứ nhì tượng
trưng cho Lý Tĩnh, bông hồng đẹp
và nhỏ
nhất tượng trưng cho Hồng phất
Nữ. Nếu bông hồng lớn
hơn hai
bông kia là
hạng phó, như thế là giá trị
kém đi nhiều.
Vương phu nhân
ngồi nghe ra chiều thú vị, than rằng:
- Ngay hạng phó
tôi cũng chưa được thấy
qua chứ đừng nói đến
hạng chánh.
Đoàn Dự
lại trỏ thứ trà bông ngũ
sắc phê bình:
- Luận về
tư cách loại này so với "thập
bát học sĩ" thì còn thiếu một
bông,
ngoài ra các
mầu sắc lại còn bác tạp, không
được thuần nhất, bông to
bông
nhỏ, hay nở
sớm, nở muộn không đều
phỏng có khác chi bì phấn với
vôi? tỷ
như sĩ tử
văn bài kém cả phân điểm,
lẽ tất nhiên thi rớt nên mới
có cái tên
"Lạc đệ
tú tài".
Vương phu nhân
nghe có lý thích quá, bật cười
nói:
- Kể ra đúng
đấy. Nhưng cái tên có vẻ
mỉa mai khinh bạc.
Vương phu nhân
nghe tới đây biết Đoàn
Dự rất sành sỏi về sơn
trà đem lòng
tín phục.
Phu nhân dẫn chàng lên lầu "cẩm
vân", chẳng mấy chốc đã thấy
gia nhân bày
tiệc rượu. Các món ăn của
A Bích mời chàng thì lấy sự
đơn
giản tinh khiết,
khéo tay khéo chân làm sở trường
còn tiệc của Vương phu
nhân lại
chú trọng về những món ăn
trân tu làm sang. Nhưng Đoàn Dự
đã
sinh trưởng
ở nơi Đế Vương đài
các nên thứ gì chàng cũng
coi là thường,
chàng có
vẻ thích những món ăn của
A Bích hơn.
A Châu, A Bích
được các tỳ nữ bồi
tiếp và ăn uống riêng biệt
ở chỗ khác.
Vương phu
nhân đối với Đoàn Dự
rất mực cung kính. Bà ngồi chỗ
dưới để
bồi tiếp
chàng. Rượu đã ba tuần
Vương phu nhân hỏi:
- Vừa rồi
công tử cho nghe những lời
bình phẩm xác đáng về các
thứ trà tôi
rất đồng
ý, còn bốn chậu trà tôi mới
lấy về đây thì những
thợ trồng hoa ở
đất Cô
Tô này kêu bằng trà "mãn
nguyệt" mà công tử lại bảo
một chậu là
"Hồng trang tố
lý", một chậu "mỹ nhân trảo phá
kiếm", vậy có những điểm
nào để
phân biệt? Xin công tử nói rõ
cho biết!
Đoàn Dự
nói:
- Chậu hoa trắng
mà lớn có vân đen nho nhỏ
mới kêu là "mãn nguyệt"
những vân
đen đó tượng trưng các
cành quế ở cung trăng. Chậu hoa
cánh
trắng mà
có vân hồng gọi là "hồng trang
tố lý". Cánh trắng mà có
điểm một
tia đỏ
nhỏ như sợi tơ là "mỹ nhân
trảo phá kiếm". Thứ giống như
"mỹ nhân
trảo phá
kiếm" nhưng cánh có nhiều tia hồng
thì gọi là "ỷ lan kiều". Phu
nhân thử
nghĩ coi: đã là mỹ nhân thì
phải thuần nhã ôn nhu, trên má
lỡ tay
cào toạc
ra một dây máu thì chả hại gì
nhưng khắp mặt sây xát, tỏ ra
đã bao
phen cùng người
xô xát thì còn đâu là
vẻ mỹ nhân?
Vương phu nhân
đang chăm chú nghe, thốt nhiên sa
sầm nét mặt quát lên:
- Quân này
to gan thật! Mi dám mạt sát ta ?
Đoàn Dự
cả kinh:
- Khi nào tôi
dám thế? Tôi có mạo phạm phu
nhân ở chỗ nào đâu?
Vương phu nhân
hỏi:
- Ngươi nghe
ai sai khiến đến đây nói hươu
nói vượn để nhục mạ
ta? Ai bảo
mi đàn
bà học võ công là mất vẻ
mỹ miều? Nhuần nhã ôn nhu thì
đã hơn ai?
Đoàn Dự
giật mình đáp:
- Vãn sinh nói
đây chỉ là theo lẽ thông thường.
Thiếu gì đàn bà con gái giỏi
võ mà
vẫn kiều diễm đoan trang?
Không ngờ
câu nói này đã làm cho Vương
phu nhân chối tai hơn. Bà hỏi
vặn:
- Ta có đoan
trang hay không?
Đoàn Dự
đáp:
- Đoan trang hay
không thì phu nhân tự biết, vãn
sinh đâu dám nói càn. Đại
khái những
việc như bắt người ta giết
vợ để đi lấy vợ khác
người đoan trang
không làm.
Chàng nổi
cơn bực tức nên mấy câu
sau chàng không kiêng nể gì nữa.
Vương phu
nhân khẽ đập tay ba cái, ba ả
thị nữ vội chạy lên lầu,
bỏ thõng
tay đứng
chờ lệnh. Vương phu nhân nói:
- Bọn mi dẫn
tên này đi tưới hoa.
Bọn thị nữ
vâng lời. Phu nhân quay lại bảo
Đoàn Dự:
- Ngươi đã
ở nước Đại Lý, lại
là người họ Đoàn đáng
chết lắm nhưng hiểu
biết tính
chất các loại trà vậy ta hãy
tạm để tội chết lại, phạt
ngươi phải
trông nom bón
tưới những khóm trà ở
xung quanh trang, nhất là bốn chậu
trà mới
lấy về, lại càng phải trông
nom cẩn thận. Ta bảo cho ngươi biết
trước
nếu trong bốn khóm trà này mà
ngươi để chết một khóm sẽ
bị chặt
một tay, chết
hai khóm sẽ bị chặt hai tay, chết
hết bốn khóm thì chân tay sẽ
bị chặt
hết đó.
Đoàn Dự
cười nói:
- Còn trường
hợp bốn khóm trà sống cả
thì sao?
Vương phu nhân
đáp:
- Nếu bốn
khóm trồng được tơi tốt
cả thì ngươi phải kiếm những
giai phẩm
như "thập
bát học sĩ", "bát tiên quá
hải", "Thất tiên nữ", "nhị kiều"
mỗi thứ
mấy cây,
không kiếm được cho ta sẽ
bị móc mắt.
Đoàn Dự
nói:
- Thế thì
mụ giết quách ta đi còn hơn.
Hôm nay chặt tay, ngày mai móc
mắt, ta chịu
sao nổi?
Vương phu nhân
quát mắng:
- Tên này
giỏi thật, trước mặt ta mà
dám buông lời càn rỡ!
Chúng bay lôi cổ
nó đi!
Ba ả thị
nữ chạy lại, hai ả túm đằng
trước, còn một ả phía sau
đẩy đi. Ba ả
này đều
có võ, Đoàn Dự không thể
kháng cự lại được đành
để bọn thị nữ
kéo xuống
lầu, đưa đến một chỗ trong
vườn hoa. Một ả đa cho chàng
cái
xuổng xới
đất, một ả lấy cho chàng cái
bình tưới và bảo chàng:
- Ngươi đã
nghe rõ lời phu nhân dặn bảo.
Thôi chịu khó ở đây trồng
cây
tưới
hoa để bảo toàn sinh mạng. Thế
là đại phước lắm đó.
Những chàng trai
đã đặt
chân lên Mạn đà sơn trang chưa
có ai sống mà trở về đấy
nhé.
Một ả nữa
nói:
- Ngươi chỉ
biết việc ở đây trồng
tỉa sơn trà, đừng len lỏi
vào các nơi cấm
địa mà
nguy đó! Nếu không nghe lời
ta tức là tự đi tìm lấy
cái chết không ai
cứu được
đâu.
Ba ả thị
nữ dặn dò cẩn thận rồi
mới bỏ đi. Đoàn Dự
đứng thừ người ra,
chàng lâm
vào tình trạng khóc dở mếu
dở. Tại nước Đại Lý
chàng ở vào địa
vị thế
tử, phụ thân chàng là Trấn
Nam Vương, một ngày kia lên kế
vị Bảo
Định Đế,
thì tự nhiên chàng lên bậc
Hoàng thái tử, có ngờ
đâu bị người bắt
đem xuống
Giang Nam định đốt, định giết,
toan chặt chân tay, móc mắt.
Rồi bây
giờ bị người bắt ép
làm kẻ trồng cây tưới
hoa. Tuy nhiên tính chàng
bình dị
vui vẻ, lúc ở nhà tại hoàng
cung cũng như ở Vương phủ thường
nhật
chàng vẫn
xem thợ sửa hoa cắt cỏ, xới
đất bón cây rồi cùng bọn
thợ cười
cười
nói nói. Chàng đang ở địa
vị công tử vương tôn, giờ
phải xuống làm
nghề hạ
tiện nhưng may chàng vốn tính linh lợi
vui tươi nên dù gặp nghịch
cảnh đầy
đoạ chàng có âu sầu chăng
nữa cũng chỉ được một
lúc rồi lại cao
hứng như
thường. Chàng lại khai thác nguồn
hứng thú ở ngay cái việc
hiện
tại đang
đẩy vô mình. Chàng lý luận:
lúc ta vào thạch động đã
hạ bái thần
tiên tỷ
nương nhận làm thầy. Nay Vương
phu nhân tướng mạo giống thần
tiên tỷ
nương, bất quá phu nhân nhiều
tuổi hơn mà thôi, thế thì ta
thờ phu
nhân làm
sư phụ cũng được chứ
sao? Sư phụ đã ra mệnh lệnh, đạo
làm đệ tử
là phải
vì thầy xuất lực có chi quá
đáng? huống chi trồng hoa là công
việc
thanh nhã của
bọn văn nhân so với việc khai thương
múa đao học võ thì
trồng hoa còn
cao thượng hơn nhiều. Thoát khỏi
tay Cưu Ma Trí định đem
mình đốt
sống trước mộ Mộ Dung tiên
sinh để được ra đây
làm cái việc
trồng hoa khoái
lạc này là vinh hạnh lắm rồi.
Chỉ đáng tiếc có một điều
là
các loại
trà hoa kém cỏi này mà phải
dùng đến vương tử nước
Đại Lý ra tay
trồng tỉa
kể cũng hơi phí. Lý luận hồi
lâu lòng chàng khoan khoái, miệng
bật lên
khúc hát vang lừng, vác xuổng
cất bước. Chàng tự nhủ
thầm: "Vương
phu nhân giao
cho ta cái trọng trách phải trồng
cho đặng sống bốn bồn bạch
trà này
phải lắm! Trà này cũng vào
hạng có tên tuổi rồi đây,
phải được tay
văn nhã
như mình trồng mới thành thân".
Đoàn Dự vừa đi vừa
ngắm phong
cảnh đột
nhiên chàng cười ha hả nghĩ
bụng: "Vương phu nhân kể ra cũng
kỳ, chẳng
hiểu mảy may gì về sơn trà mà
lại ưa trà hoa, chỗ nào cũng
trồng
trà, rồi
lại đặt tên cho trang trại của mình
là Mạn đà sơn trang, nghe ra có
vẻ hay ho lắm.
Phu nhân có biết đâu rằng
trà ưa khí âm chứ không
hợp với
khí dương.
Trồng trà vào nơi giải nắng
thì chẳng chết cũng chột, khó
lòng
tơi tốt
được, vun bón thế nào cũng
vô ích. Biết bao nhiêu thứ trà
quý để
phu nhân làm
hỏng hết. Đáng tiếc, đáng
tiếc!". Chàng tránh những lối
nắng
chang chang tìm
vào những nơi rậm rạp âm
u, đi quanh hết hòn núi nhỏ
bỗng nghe tiếng
suối khe róc rách, bên tả toàn
là trúc mọc xanh rì, bốn bề
tịch mịch,
mặt trời không chiếu vào đến
nơi, đúng là khu âm trái núi.
Vương phu
nhân thấy nơi này đất cớm
cho là không thể trồng hoa được
nên
tuyệt không
có một gốc trà nào. Đoàn
Dự cả mừng lẩm bẩm: "chỗ
này trồng
trà tuyệt
diệu". Đoạn chàng rảo bước
quay về chỗ cũ bưng hai chuyến, bốn
chậu trà
đến đó. Chàng khoét lỗ
bên cạnh khóm trúc, ghè cho vỡ
chậu sành
rồi đặt
cả bầu xuống. Tuy chàng chưa làm
qua công việc trồng tỉa nhưng đã
được
xem nhiều, cứ theo cách thức
mà làm cho được chu đáo.
Hồi lâu
chàng trồng
xong cả bốn khóm bạch trà ngay cạnh
rặng trúc: đầu bên trái là
khóm "Trảo
phá mỹ nhân kiểm", đầu bên
hữu hai khóm "hồng trang tố lý"
và "mãn
nguyệt", còn khóm "ỷ lan kiều" thì
trồng chênh chếch mé sau khối
đá lớn
bên bờ suối cho hợp với
câu:
E thẹn ôm
đàn che nửa mặt
Ai kêu ai gọi
cũng mần thinh
Đoàn Dự
rất đắc ý đã trồng
khóm "ỷ lan kiều" vào nơi nửa
kín nửa hở cho
hợp cảnh
và tăng thêm vẻ đẹp.
Người
Trung Quốc từng đem hoa ví với
mỹ nhân, việc trồng hoa cũng như
việc trang điểm
cho mỹ nhân.
Đoàn Dự
xuất thân tại chốn hoàng cung, đọc
thi thư từ thuở nhỏ, cách
thức
trồng cây
cỏ cũng hơn người một bậc.
Trồng xong bốn khóm hoa chàng
xuống suối
rửa sạch chân tay ngồi sau phiến
đá lớn ngắm nghía khóm
"ỷ lan
kiều" lấy
làm khoái chí. Bỗng nghe có tiếng
chân bước sột soạt, hai thiếu
nữ
ngang qua, một
cô nói:
- Chỗ này
tịch mịch, không có ai qua lại...
Đoàn Dự
thoáng nghe đã giật nảy mình
vì chàng nhận ra vị nữ lang mặc
áo
trắng lúc
trước. Đoàn Dự nín
hơi, không dám ho he một tiếng, nghĩ
bụng:
"nàng đã
bảo không nhìn mặt chàng trai nào
không có liên quan gì tới nàng.
Ta chỉ cần
nghe nàng nói mấy câu phỏng có
khác gì được nghe giọng ca
nhạc của
tiên nương, cũng đã phúc
lắm rồi. Nhất quyết ta phải cố
giữ cho
nàng không
trông thấy mình mới được.
Chàng chỉ ngấp nghe nhìn chênh
chếch chứ
không dám nhìn thẳng mặt. Chàng
vừa nghiêng đầu nghẹo cổ
nhìn trộm
vừa sợ đụng chạm phát
ra tiếng làm kinh động nữ lang.
Nữ lang tiếp
tục nói chuyện với thị tỳ:
- Tiểu Thi! Mi
được tin gì về chàng?
Đoàn Dự
nghe hỏi bất giác chua xót trong lòng.
Chàng biết rằng tiếng
"chàng" mà
nữ lang gọi đó là chỉ công
tử Mộ Dung. Chàng đã nghe Vương
phu nhân gọi
gã bằng tên là Mộ Dung Phục
mà thôi. Chàng lại thấy nữ
lang
hỏi vặn
thị tỳ về tin tức công tử
Mộ Dung có vẻ thiết tha mong nhớ.
Chàng
nghĩ thầm:
"Giả tỷ cô nương này đối
với mình tha thiết như vậy thì
dù mình
có phải
chết ngay tức khắc cũng rất
vui lòng. Nực cười Đoàn
Dự là một gã
si tình lạ
lùng. Nào chàng đã được
nhìn rõ mặt nữ lang áo trắng
đâu, chẳng
biết nàng
đẹp hay xấu, chẳng hiểu tên
họ nàng là gì, chẳng rõ nàng
hiền
lành hay hung
dữ tính tình nàng tốt hay xấu.
Từ lúc Đoàn Dự mới
nghe
tiếng nữ
lang áo trắng nói vài câu ngoài
bờ hồ ban nãy chàng đã
nặng tình
rồi. Giả
tỷ chàng có vì nàng mà phải
hy sinh tính mạng cũng không ăn năn
hối hận
chút nào. Tại sao chàng đã
nẩy ra tâm ý như vậy chính chàng
cũng
không hiểu
nữa. Chàng thấy nàng bất cứ
lúc nào hay chỗ nào cũng chỉ
bàn
tới việc
công tử Mộ Dung thì chàng hoặc
ngưỡng mộ nàng hoặc tự
thương
cho mình.
Nghe thiếu nữ
hỏi, Tiểu Thi ấp úng hồi lâu,
dường như sợ không dám
nói
thẳng. Nữ
lang giục:
- Mi nói mau đi!
không bao giờ ta quên lòng tốt
của mi.
Tiểu Thư vẫn
ngần ngừ:
- Cháu sợ...
cháu chỉ sợ... phu nhân trách
phạt.
Nữ lang tức
mình hăm doạ:
- Con này điên
hả? Mi cứ nói cho ta hay. Dĩ nhiên
là ta không kể với phu
nhân đâu.
Nếu mi không nói ta hỏi Tiểu Trà,
Tiểu Thuý sẽ biết, sau phu
nhân có
hỏi đến ta sẽ đổ cho mi mách
ta đó!
Tiểu Thi hốt
hoảng hỏi lại:
- Tiểu thư!
Sao tiểu thư... lại chực đổ
oan cho cháu?
Nữ lang cười
đáp:
- Có gì
là lạ? Kẻ nào làm tâm phúc
cho ta dĩ nhiên ta phải nâng đỡ
và hộ vệ
nó. Đứa
nào không chịu nghe lời ta thì
ta đổ tội cho chứ sao?
Tiểu Thi ngẫm
nghĩ hồi lâu rồi đáp:
- Thôi cháu
đành nói rõ cho cô nương
nghe. Cô nương phải giữ tuyệt
đối bí
mật, chớ
để cho câu chuyện tiết lộ ra ngoài.
Nữ lang nói:
- Ta xem mi không
muốn nói cứ ấp úng hoài.
Ta chỉ tin ngươi được phần
nào thôi.
Giả tỷ mi đừng giấu ta câu
nào thì ta quyết với mi rằng
vĩnh viễn
mi không bị
phu nhân quở trách.
Tiểu Thi thở
dài nói:
- Biểu thiếu
gia đến chùa Thiếu Lâm đó.
Nữ lang giật
giọng hỏi:
- Mi bảo chàng
đến chùa Thiếu Lâm ? Sao A Châu
A Bích lại nói chàng
đến Cái
Bang ở Lạc Dương kia mà?
Đoàn Dự
tự hỏi: "Biểu thiếu gia nghĩa là
gì? à thôi phải rồi! Công tử
Mộ
Dung là biểu
huynh cô nương đây, hai người
là anh em họ với nhau".
Tiểu Thi nói:
- Hôm vừa
rồi, phu nhân ra đi giữa đường
gặp Phong tứ gia bên yến tử
ổ nói
cho biết là
người đi chùa Thiếu Lâm
bên Tung Sơn để tiếp ứng
cho biểu
thiếu gia.
Nữ lang hỏi:
- Chàng đi
chùa Thiếu Lâm có việc gì?
Tiểu Thi đáp:
- Phong tứ
gia kể rằng biểu thiếu gia đưa
tin về có rất nhiều phái võ
đến
chùa Thiếu
Lâm, mở cuộc anh hùng đại
hội gì đó để đối
phó với nhà Mộ
Dung mà thiếu
gia chưa biết rõ có những ai.
Cháu lại nghe nói bên yến tử
ổ
còn có
nhiều người đi tiếp ứng.
Nữ lang lại
hỏi:
- Phu nhân đã
được tin như vậy sao lại quay
về? Không đi giúp biểu thiếu
gia?
Tiểu Thi đáp:
- Điều
đó cháu cũng không hiểu. Dường
nh phu nhân không ưa biểu thiếu
gia.
Nữ lang hậm
hực nói:
- Hừ! ưa
hay không ưa là một chuyện. Dù
sao thiếu gia cũng là người
trong
nhà. Để
thiếu gia mất mặt với người
ngoài thì mình vẻ vang lắm hay sao?
Tiểu Thi nói:
- Đúng
thế!
Nữ lang tức
mình hỏi:
- Đúng
cái gì?
Tiểu Thi run sợ
đáp:
- Đúng
là... chẳng vẻ vang gì.
Nữ lang chạy
đi chạy lại bên rặng trúc xanh
để lo mưu tính kế. Chợt trông
ba khóm bạch
trà Đoàn Dự mới trồng,
mảnh chậu đập ra còn bỏ đó,
nàng
ngạc nhiên
hỏi:
- Ai trồng trà
ở đây thế này?
Đoàn Dự
vội vàng từ sau phiến đá
lớn chạy vụt ra vái dài sát
đất nói:
- Tiểu sinh vâng
mệnh phu nhân, đang trồng trà tại
đây, không ngờ lại gặp
tiểu thư.
Tuy vái dài
tỏ ra rất cung kính nhưng mắt chàng
cứ chằm chặp nhìn thẳng
vào mặt
nữ lang. Vì chàng sợ lại
phải nghe nàng nói một câu dứt
khoát như
lần trước:
"ta không nhìn bất cứ gã trai
nào không có liên can gì đến
ta" rồi
trở gót
đi thẳng thì lại lỡ mất
cơ hội. Đoàn Dự vừa
nhìn thấy mặt nữ lang đã
tai ù mắt
hoa, hai đầu gối nhũn ra không tự
chủ được nữa, quỳ mọp
xuống
đất, nếu
không miễn cưỡng chống lại
thì đến cái đầu cũng
đập xuống đất
mà lạy.
Miệng chàng lắp bắp nói luôn:
- Thần tiên
nương tử ơi! tôi nhớ
nương tử muốn chết đi được.
Nguyên tướng
mạo nữ lang áo trắng này giống
hệt pho tượng ngọc trong
thạch động
bên nước Đại Lý. Vương
phu nhân cũng đã giống pho tượng
này
nhưng cao tuổi
hơn còn nữ lang áo trắng có
khác là chỉ ở bộ áo mặc
ngoài
mà thôi.
Từ mặt mũi, tai mắt, mồm miệng
cho chí tầm vóc, chân tay cùng
màu da đố
ai tìm được chỗ nào khác.
Thực là pho tượng ngọc tái
sinh. Đoàn
Dự như
người đang lạc vào cõi
mộng. Chàng đã trải không biết
mấy ngàn
mấy trăm
lần tưởng nhớ đến
pho ngọc tượng. Lúc này chính
mắt chàng nhìn
thấy người
thật mà chàng chẳng hiểu ở
nơi nao ở trần gian hay thượng
giới.
Nữ lang thấy
cử động cùng cách xưng hô
của Đoàn Dự cho là chàng
mắc
bệnh điên
cuồng vừa khẽ hỏi vừa
lùi lại hai bước:
- Ngươi...
ngươi...?
Đoàn Dự
đứng dậy nói:
- Hôm đó
ở trong thạch động tôi được
bái kiến tiên dung thần tiên nương
tử,
đã mừng
cho mình phúc duyên rất lớn,
không ngờ ngày nay lại thấy
dung
nhan nương
tử thì ra trên đời này
quả có tiên tử không sai.
Nữ lang quay
lại hỏi Tiểu Thi:
- Gã nói
chi đó? Gã là ai vậy?
Tiểu Thi nói:
- Gã là
một anh đồ gàn đến với
A Châu, A Bích. Gã nói nhăng nói
cuội thế
nào mà
phu nhân tin lời mới nực
cười.
Nữ lang quay
ra hỏi Đoàn Dự:
- Tên đồ
gàn kia! Ta vừa nói chuyện với
thị nữ đây ngươi có
nghe thấy
không?
Đoàn Dự
cười đáp:
- Tôi họ
Đoàn tên Dự, người
nước Đại Lý, không phải
là đồ gàn đâu. Vừa
rồi thần
tiên nương tử nói chuyện với
chị Tiểu Thi đây vô tình tôi
đã nghe rõ
cả. Xin thần
tiên nương tử cùng chị Tiểu
Thi cứ yên lòng, tiểu sinh nhất
quyết không
tiết lộ một câu nào cho ai biết
cả và xin bảo đảm cho chị Tiểu
Thi không bị
phu nhân quở trách vì tôi.
Nữ lang sa
sầm nét mặt hỏi:
- Ngươi xưng
hô lăng nhăng như vậy còn cãi
không phải đồ gàn. Ngươi
thấy
ta từ lúc
nào?
Đoàn Dự
hỏi lại:
- Tôi không
xưng hô bằng thần tiên nương
tử thì xưng hô thế nào cho
phải
nhẽ?
Nữ lang đáp:
- Ta họ Vương,
ngươi cứ gọi ta bằng Vương
cô nương là được rồi.
Đoàn Dự
lắc đầu quầy quậy nói:
- Không được!
Không được! Khắp thiên hạ
cô nương họ Vương kể có
hàng
ngàn hàng
vạn còn cô nương đây là
nhân vật thần tiên, phi phàm mà
cũng
chỉ gọi bằng
Vương cô nương như người
thường thế nào được?
Bây giờ biết
xưng hô cách
nào đây? ấy thế mà khó
đấy! Gọi vắn tắt là Vương
tiên tử
chăng? cũng
không được! Nhà Đại
Tống rồi các nước Đại
Lý, Liêu Quốc,
Thổ Phồn
nước nào chẳng có công
chúa nhưng bì với cô nương
thế nào
được?
Nữ lang nghe
Đoàn Dự nói tràng giang đại
hải, toàn những câu gàn gàn
dở
dở. Dù
thấy gã tán dương sắc đẹp
mình một cách quá lố chăng
nữa nhưng
trong lòng nàng
vẫn cảm thấy vui vui, nàng mỉm cười
nói:
- Dù sao thì
ta cũng cho ngươi là tốt phúc
vì chưa bị mẫu thân ta chặt chân.
Đoàn Dự
lại nói:
- Thần tiên
nương tử cùng lệnh đường
phu nhân tướng mạo giống nhau
nhưng tính
tình thực khác xa nhau. Phu nhân động
một tý là giết người,
có
điều không
xứng đáng với thể chất
thần tiên...
Nữ lang nhíu
đôi lông mày ngắt lời:
- Thôi ngươi
tiếp tục trồng hoa đi! đừng
đứng đây bẻm mép nữa.
Bọn ta có
việc phải
bàn.
Nàng nói
câu đó với vẻ mặt coi
Đoàn Dự như một tên thợ
trồng hoa không
hơn không
kém. Đoàn Dự không lấy
làm tủi nhục về thái độ
kiêu căng của
nàng. Chàng
chỉ mong được cùng nàng nói
câu nào hay câu ấy, nhìn phút
nào hay phút
ấy. Chàng tính kế: "muốn cho nàng
bắt chuyện thì không gì
bằng việc
đề cập đến công tử
Mộ Dung. Bụng dạ nàng để cả
vào gã, ngoài
ra nàng không
thiết một việc gì hết". Nghĩ
vậy chàng liền nói:
- Các anh hùng
thiên hạ hội họp cùng phái Tung
Sơn và phái Thiếu Lâm
thương nghị
việc đả phá nhà Mộ Dung. Nhân
vật các phái dĩ nhiên không
phải là
ít, công tử Mộ Dung cô thân,
dấn mình vào nơi hiểm địa,
thật là
đáng lo
ngại.
Quả nhiên
nữ lang giật mình. Đoàn Dự
không dám nhìn thẳng vào mặt
nàng, chàng
nghĩ thầm: "nàng vì cái thằng
khốn kiếp Mộ Dung Phục mà
phải băn
khoăn trong dạ. Ta xem dường như nàng
muốn sa luỵ là khác. Tà
áo trắng
nàng vẫn lay động, rồi bằng
một giọng êm dịu như tiếng tiêu
nàng
hỏi:
- Ngươi có
biết tình hình chùa Thiếu Lâm
ra sao không? nói cho ta nghe.
Đoàn Dự
thấy nàng nhỏ nhẹ cầu khẩn
mình cầm lòng không đậu muốn
đem
hết tất
cả những điều mình hay biết
nói cho nàng nghe. Song chàng nghĩ lại:
"nếu có
điều gì mình đem dốc ra hết,
nàng nghe xong rồi lại giục mình đi
trồng trà
thì mình tìm đâu ra đề
tài để hòng được
nói nữa với nàng, thế
mới
khó chứ!
Chi bằng mình phải tìm cách kéo
dài câu chuyện, mỗi ngày cho ra
một mẩu
để ngày ngày nàng phải đến
tìm mình hỏi chuyện. Hễ tìm đến
mình không
được tất phải nóng ruột
khó chịu. Nghĩ vậy chàng đằng
hắng
rồi bắt
đầu vào chuyện:
- Về võ
công tôi chẳng biết tý gì
cả. Cả những thế võ tầm
thường như "kim
kê độc
lập", "hắc hổ thâu tâm" gì gì
đi nữa tôi cũng không hay nhưng
trong
nhà tôi
có anh bạn họ Chu, tên gọi Chu Đan
Thần, ngoại hiệu là "nghiên
sinh". Trông bề
ngoài anh ta cũng chỉ là gã văn
nhược thư sinh như tôi này
thôi, hay gọi
là tên đồ gàn cũng được.
Hà hà thế mà võ công anh
ta đáo để
lắm. Một
hôm anh ta cầm cái quạt quay ngược
đầu lại đánh "chát" một
tiếng, cán
quạt trúng vào bả vai một gã
đại hán, thế mà gã này
người co rúm
lại, chẳng
khác gì một đống đất
lù lù, không sao nhúc nhích được
nữa.
Nữ lang nói:
- ừ đó
là đòn thứ 38 để đánh
vào huyệt đạo trong phép "thanh lương
phiến,
trở đầu
quạt đánh xéo vào huyệt "kiên
trinh", vậy thì Chu tiên sinh là đệ
tử
dưới
trướng Tam Nhân Quán, một chi nhánh
phái Côn Luân đó. Võ công
phái này
dùng bút cũng lợi hại như
dùng quạt thôi. Ngươi nói vào
cốt
chuyện đi
đừng nói về võ công
với ta nữa.
Giả tỷ mà
Chu Đan Thần được nghe chuyện
nàng nói tất phải phục sát
đất
và không
những nàng gọi rõ tên cúng
cơm thế võ mà thôi, nàng còn
nói rõ
ràng cả
lai lịch tông chỉ người dạy
môn đó nữa. Không những
Chu Đan
Thần đến
ngay những nhà võ học uyên thâm
tỷ như bá phụ Đoàn Dự
là
Đoàn Chính
Minh, phụ thân chàng là Đoàn
Chính Thuần, cũng phải giật
mình tự
hỏi: "cô nương nhỏ tuổi này
mà sao kiến thức về võ học
đã sâu rộng
đến thế?".
Nhng đối với anh chàng Đoàn
Dự chẳng biết tý võ công
nào nên
mấy lời
phác hoạ nàng nói vừa rồi
chỉ thoáng qua tai chàng mà thôi.
Giả tỷ
câu chuyện
này đưa ra ngoài tất làm chấn
động giang hồ, thành một đề
tài
sốt dẻo
và trọng đại bậc nhất đối
với các phái võ.
|