THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 29
Mạn
Đà sơn trang
Kim Dung
A Châu hát
đi hát lại ba lần câu:
Gió heo sông
Dịch lạnh lùng
Ra đi tráng
sĩ còn mong đâu về?
Đoàn Dự
nhìn đoá hoa nhỏ cài bên món
tóc mai nàng lúc nào cũng động
rung rinh, đôi
môi tươi thắm biến thành lợt
lạt, chàng sực nhớ ra lẩm
bẩm
một mình:
"Phải rồi! A Châu sở dĩ hát
đi hát lại hai câu thơ này là
nhủ ta
làm cái
việc Kinh Kha hành thích Tần Thuỷ Hoàng.
Nội lực A Bích không
thể địch
nổi lão hòa thượng này,
nếu cứ miễn cưỡng chống
chọi hoài thì e
rằng nàng
tất bị nội thương nguy kịch". Nghĩ
vậy chàng ngấm ngầm ôn lại
các thế
Lục Mạch Thần Kiếm. Chàng thử
vận động khí lực ra thì đã
thấy
thông đồng
lu loát, không bị vấp váp ngăn
trở chỗ nào. Chàng đọc
sách
thánh hiền
từ thuở nhỏ, lại thêm thấm
nhuần kinh Phật, chí khí không khỏi
có đôi
phần ngạo nghễ. Chàng nghĩ rằng:
"các bậc đại trượng phu làm
việc
phải cho quang
minh lỗi lạc, thừa cơ người
ta không phòng bị để đánh
lén là
hành động
đê hèn. Trong lòng đang còn
phân vân chưa quyết, bỗng nghe
đánh "binh"
một cái, một sợi dây đàn
của A Bích đứt, nàng rùng
mình một
cái. A Châu
cũng im bặt tiếng hát, đôi
đũa cầm trong tay toan ném vào Cưu
Ma Trí, thì
lại "bục" một tiếng, một sợi
dây đàn nữa đứt.
Thôi Bách
Kế cùng Quá Ngạn Chi rú lên
những tiếng kinh hồn. Đoàn
Dự
thấy tình
thế cực kỳ cấp bách, miệng
lẩm bẩm: "vì việc cứu người
ta đành
phải tòng
quyền hành động đê hèn
một chút vậy". Chàng vươn tay phải
lên,
hai luồng kình
lực ở ngón tay trỏ phóng
ra nhằm Cưu Ma Trí đâm tới
nhanh
như chớp.
Đó là hai thế kiếm khí "thương
dương" và "trung xung".
Giả tỷ Cưu
Ma Trí đang công nhiên đấu kiếm
cùng Đoàn Dự thì dù những
thế kiếm
cấp bách hơn nữa lão cũng
chống dễ như chơi. Nhưng lão yên
trí
rằng huyệt
đạo chàng mới bị phong toả,
chưa làm gì được nên
lão đem hết
nội lực
ra đấu với tiếng đàn
của A Bích. Giữa lúc lão chiếm
được ưu thế,
những tưởng
dùng tiếng đàn phản kích làm
cho tâm thần A Bích phải mê
loạn, rồi
quay sang hạ chốt A Châu là xong. Lão
tuyệt nhiên không ngờ tới
chuyện Đoàn
Dự phóng kiếm khí ra đâm
mình. Lão kêu rú lên một tiếng,
người
bắn tung đi. Đồng thời dây
đàn A Bích đứt luôn năm
sợi. Những tia
máu đỏ
phun ra như tới, đó là lưỡi
thần kiếm do Đoàn Dự phóng
ra đã đâm
trúng vai bên
phải Cưu Ma Trí.
A Bích tay trái
kéo A Châu, tay phải níu Đoàn
Dự nhảy vọt ra. Ba người
nhảy qua cửa
sổ ra ngoài, rơi đúng vào con
thuyền nhỏ. A Châu đưa tay ra
dúi đầu
Đoàn Dự thấp xuống, rồi
cầm luôn lấy mái chèo bơi
thuyền đi.
Đoàn Dự
bỗng nghe thấy thùm một tiếng rất
lớn, chiếc thuyền tung lên rồi
lại hạ xuống,
chẳng khác gì đang đi ngoài
biển cả sóng to. Nước hồ
bắn lên
tung toé, khắp
mình mẩy ướt đẫm. Chàng
quay đầu nhìn lại thấy Cưu Ma
Trí đứng
trên bờ, đang lấy bàn đá,
ghế đá ném xuống không ngớt.
Cũng
may A Châu đã
chèo thuyền ra xa một chút và Cưu
Ma Trí đã bị trúng kiếm
khí bị
trọng thương, kình lực kém đi
nên liệng không tới thuyền.
A Châu thấy
hoà thượng sức khoẻ như
thần, nàng sợ hãi vô cùng
khấn thầm:
"cầu trời
cho lão đừng đuổi kịp".
Nàng bơi thuyền xa thêm vài chục
trượng
nữa, nhìn
lại thấy Cưu Ma Trí không đuổi
kịp nữa rồi. A Bích thở
phì phì
nói:
- Đoàn
công tử ơi! Nhờ công tử
mà nay tôi được thoát nạn
nếu không thì đã
chết về
tay lão hoà thượng này rồi.
Đoàn Dự
nói:
- Đáng
lý tôi phải tạ ơn cô mới
đúng. Lão hoà thượng này
nói sao là làm
được
vậy, lẽ ra tôi bị lão đem đi
đốt sống rồi.
A Châu vội
gạt đi:
- Hãy khoan nói
đến chuyện cô tạ ơn cậu,
cậu tạ ơn cô đã! Việc trốn
sao
cho thoát khỏi
tay lão trọc còn gấp hơn nhiều.
Giữa lúc
ấy Đoàn Dự nghe có tiếng
mái chèo bơi nước đang
đuổi theo,
chàng giật
mình la lên:
- Trời ơi!
Lão sư đang đuổi theo chúng ta
rồi.
A Bích đã
mệt nhoài, không thể lấy ngay lại
sức lực trong chốc lát được.
Nàng tựa
vào mạn thuyền nói:
- A Châu tỷ
nương! bọn ta đến tạm lánh
tại trang Lục đại gia.
A Châu có
vẻ bực tức đáp cộc
lốc:
- Đành
là thế vậy.
Rồi nàng
lại tiếp:
- Thật là
bực mình. Lục đại gia thường
cười chị em mình võ công
chẳng ra
gì. Bây
giờ gặp kẻ đại địch
túng thế phải vào ẩn trong nhà
y, chắc rồi y cười
mình suốt
đời.
Từ khi Đoàn
Dự tăng nhiều nội lực trong
người, chàng rất thính tai. Nghe
rõ
tiếng mái
chèo bơi mỗi lúc một lại gần
thêm liền cầm lấy một mái
chèo để
phụ A Châu
bơi thuyền cho lẹ hơn. Thuyền thêm
một mái chèo nên lại cách
xa chiếc thuyền
đuổi theo hơn được ít
nữa.
Đoàn Dự
nói:
- Bản lãnh
lão sư này ghê gớm lắm.
Hai vị tỷ nương còn nhỏ tuổi
thế này
thua lão cũng
chẳng có gì là nhục.
Bỗng nghe có
tiếng gọi từ đằng xa vọng
lại:
- A Châu, A Bích
hai cô bơi thuyền trở lại mau!
bần tăng đã là bạn với
công
tử Mộ
Dung có lý đâu lại làm khó
dễ các cô?
Đúng là
tiếng Cưu Ma Trí. Mấy câu nói
cực kỳ êm dịu thân mật, khiến
người
nghe bất giác không tự chủ được
nữa, khó mà chống cự lại,
quả nhiên
muốn theo ý
lão.
A Châu giật
mình nói:
- Lão gọi
chúng ta trở lại, tất không gia
hại đâu.
Đoạn nàng
dừng chèo không bơi nữa,
trong lòng dường như có vẻ
xao
xuyến.
A Bích cũng
nói:
- Vậy chúng
ta quay lại quách.
Đoàn Dự
vì nội lực rất mạnh nên giọng
nói Cưu Ma Trí không mê hoặc nổi
vội nói:
- Lão bịp
đấy! Tin thế nào được?
Lại thấy
Cưu Ma Trí tiếp tục gọi bằng một
giọng rất hòa hoãn rất êm
tai:
- Hai vị cô
nương ơi! Công tử nhà các
cô đã về tới, cần gặp
các cô ngay, các
cô mau mau bơi
thuyền trở lại.
A Châu nói:
- Vâng!
Rồi bơi
thuyền quay đầu lại. Đoàn Dự
nghĩ thầm: "nếu quả công tử
Mộ
Dung trở
về thì chính y lên tiếng gọi
A Châu, A Bích hà tất phải mượn
lão
sư gọi hộ?
Đúng là lão giở phép
thu hồn phách cực kỳ lợi
hại ra đây. Chàng
liền nghĩ
được một kế, vội xé
mảnh áo đút nút lỗ tai A
Châu, A Bích lại.
A Châu định
thần được ngay thất thanh la lên:
- Trời ơi!
Chết cha!
A Bích cũng
tỉnh táo lại nói:
- Lão sư
này biết cả phép thu hồn phách
người ta. Ta bị lão lung lạc mất
rồi.
A Châu ra sức
chèo thuyền nói:
- Đoàn
công tử! Chèo cho mau! chèo cho mau!
Hai người
chèo thuyền thẳng vào chỗ dầy
đặc hồng lăng. Hồi lâu bên
tai
không còn
vẳng nghe thấy tiếng Cưu Ma Trí gọi
nữa. Bấy giờ Đoàn Dự
mới
ra hiệu cho hai
người móc nút để trong
tai ra.
A Châu vỗ
ngực thở một hơi dài rồi
hỏi:
- Bây giờ
tính sao đây?
A Bích đáp:
- A Châu tỷ
nương! chúng ta đi đến Khiếu
Thiên thôn. Giả tỷ lão hoà
thượng
có theo tới đó, Lục đại
gia quyết không chịu thua sẽ cùng
lão chơi
nhau đến
cùng.
A Châu nói:
- Không được
đâu! Lục đại gia tuy võ nghệ
cao cường nhưng không có
khiếu thông
linh quỷ quái bằng Cưu Ma Trí. Thế
thì thà rằng cứ lênh đênh
trên mặt
hồ này, đói bóc hồng lăng
hoặc móc ngó sen lên mà ăn,
dù có ở
đây mười
ngày hoặc nửa tháng cũng chẳng
hề gì.
A Bích mỉm
cười nói:
- Tỷ nương
tính thế nào cũng đưược,
song chưa biết ý Đoàn công tử
ra sao?
Đoàn Dự
vỗ tay cười nói:
- Hồ này
phong cảnh đẹp, lại có hai vị
tỷ nương làm bạn ở đây
ngao du
mươi ngày,
thật sướng hơn tiên.
A Bích cũng
trề môi ra cười nói:
- ở đây
đi về phía đông nam có đến
hàng ngàn hải cảng, hàng trăm
vũng
vịnh, chi lu,
sông nhỏ cũng nhiều. Trừ bọn
chài lưới địa phơng ra,
không
ai tìm được
đường lối. Bọn ta đi vào
chỗ trăm khúc quanh co trong hồ này,
quyết nhiên
nhà sư kia không thể đuổi tới
nơi được.
Đoàn Dự
đang lúc cao hứng, ra sức bơi
thuyền. Mỗi khi đến chỗ rẽ
thì hai
nàng lại
bàn tính một hồi rồi mới
ấn định nẻo đi. Chèo thuyền
đi một hồi
lâu, Đoàn
Dự thoang thoảng ngửi thấy một
mùi hoa thơm đặc biệt khác lạ.
Lúc mới
ngửi thì thấy đầu óc
choáng váng nhng lát sau thì trong người
lại
khoan khoái dễ
chịu. Thuyền càng tiến lên thì
mùi hoa thơm lại càng sực
nức.
Đoàn Dự
hỏi:
- Hai vị tỷ
nương có biết mùi hoa gì đó
chăng?
A Bích khẽ
đáp:
- Công tử
đừng hỏi nữa! bọn ta phải
mau mau rời khỏi nơi này!
Đoàn Dự
thấy giọng nói của nàng đầy
vẻ sợ hãi, rất lấy làm
kỳ. A Châu
cũng nói
nhỏ bảo A Bích:
- Chúng ta lầm
đường mất rồi. Mi bảo
rẽ qua bên trái là đúng.
Ta lại bảo rẽ
qua mé phải
mới chết chứ. A Bích mi đã
biết rõ, sao còn đi nghe ta?
A Bích đáp:
- Bấy giờ
em cũng không dám chắc lắm. Cứ
tởng tỷ nương biết đích
hơn,
nên mới
nghe theo.
Lúc này
A Bích tinh thần đã hồi phục,
đón lấy mái chèo ở
trong tay A
Châu, quay thuyền
và gắng sức bơi theo lối cũ
trở ra.
Đoàn Dự
nghe hai người đối đáp,
đoán là trong mùi hoa thơm này
tất có
điều gì
nguy hiểm, chàng toan hỏi lại thì A
Châu trông chàng vẫy tay ra
hiệu bảo
đừng hỏi nữa. Trời
đã tối mịt, Đoàn Dự
trông không rõ nét mặt hai
người
nhng cũng biết tình thế rất nghiêm
trọng chẳng kém gì lúc Cưu Ma
Trí đuổi
theo.
A Châu ghé
miệng vào tận tai Đoàn Dự
nói thầm:
- Bây giờ
tôi lớn tiếng nói chuyện với
A Bích, công tử chớ có
nói xen vào,
phải nằm
yên!
Đoàn Dự
gật đầu, đưa mái chèo
cho nàng rồi nằm xuống lòng thuyền.
Đêm
hôm ấy
trời đầy sao lấp lánh, Đoàn
Dự cảm thấy có điều chi
kỳ dị mà
không nói
ra được, bỗng nghe A Châu lên
tiếng:
- A Bích muội
nương! Chỗ này rất khó nhận
đường đi, em phải cẩn thận
kẻo
lạc lối
nghe.
A Bích đáp:
- Vâng! lão
sư ấy đuổi bọn mình để
hãm hại, mình phải chạy trốn.
Giả tỷ
mà mình
lạc đường, người ta
còn bảo mình chịu mệnh công tử
cố ý đến đây
rắc rối
mới khổ chứ.
Hai người
nói chuyện sang sảng, tựa hồ để
cho người ngoài nghe rõ. Nhưng
Đoàn Dự
nghển lên mạn thuyền trông ra thì
bốn mặt chỉ thấy toàn lá hồng
lăng bát
ngát. Ngoài tiếng thuyền chạm vào
lá hồng lăng, tuyệt không thấy
động tĩnh
gì nữa. Mùi hoa thơm mỗi lúc
một ngào ngạt thêm. So với mai
côi
thì mùi
thơm không nồng nàn bằng nhưng
so với hoa quế thì nó lại kém
bề
êm dịu.
Thật là một mùi hương khó
tả.
Thốt nhiên
A Bích cất giọng hát. Nàng hát
bài Nguyễn lang quy. Nàng mới
hát được
vài câu nghe giọng đã run run, phải
ngừng một chút cho định thần
rồi mới
hát tiếp. Tiếng hát mỗi lúc
một lên cao vòi vọi nhưng không
giấu
nổi nỗi
phập phồng lo sợ.
Đoàn Dự
ghé lại gần A Châu khẽ hỏi:
- Phải chăng
lão sư đó đuổi gần tới
nơi?
A Châu vội
đư bàn tay bịt miệng chàng, ra
hiệu cho đừng lên tiếng. Nàng
nghiêng đầu
lắng tai nghe, bốn bề vẫn im lặng
như tờ. Bấy giờ mới
ghé
miệng sát
vào tai Đoàn Dự nói thầm:
- Chúng ta lầm
đường mất rồi. Gặp người
này còn ghê gớm hơn cả
lão sư
ban nãy.
Đoàn Dự
nghĩ thầm: "Người ta có câu:
tránh nơi sóng cả, ngã nơi Tuần
Vường
là đúng lắm". Rồi chàng
lại nghĩ: "có lẽ hai nàng chưa
biết kỹ bản
lãnh lợi
hại của Cưu Ma Trí đó thôi.
Trên đời làm gì còn
có người ghê gớm
hơn lão?
Huống chi đây lại ở cạnh
nách sào huyệt nhà Mộ Dung. Khi nào
y
còn để
cho ai ăn ngon ngủ yên được?".
A Bích ca xong
khúc hát, không nói gì nữa,
lặng lẽ nhìn lên trời, tìm
sao
bắc đẩu,
nhận định phương hướng
rồi cùng A Châu ra sức chèo
thuyền..
Đoàn Dự
ngoảnh nhìn bốn phía, chỉ thấy
mênh mông những nước cùng
trời.
Tuyệt không
có một con thuyền, một cái nhà,
không thấy đâu là bờ
bến hay
một bóng
người nào cả, đến một
con chim cũng không có. Vậy mà không
biết làm
sao hai nàng lại sợ hãi đến
thế?
Con thuyền nhỏ
đi bồng bềnh trên mặt nước
được quãng dài nữa
thì đến chỗ
hai dòng sông
giao nhau. A Châu và A Bích lại thương
lượng một hồi và tìm
nhận lối
đi khi gặp chỗ rẽ. Chàng cũng
chẳng hiểu hai nàng lấy gì làm
tiêu
chuẩn, chỉ
biết hai nàng đã bơi thuyền
nửa ngày, nửa đêm, có
vẻ mệt nhoài,
thở lên
hồng hộc. Đoàn Dự xem chừng
A Châu đã kiệt lực rồi,
liền đón lấy
mái chèo
bơi thuyền đỡ nàng một
lúc. Hồi lâu bỗng A Bích kêu
lên:
- A Châu tỷ
nương ơi! chúng ta... sao chúng ta...
lại quay về chỗ cũ rồi?
Đoàn Dự
quả nhiên lại ngửi thấy mùi
hoa thơm lúc nãy. Thì ra đêm
khuya
trời tối
hai nàng không nhận ra lối đi, chèo
quanh quẩn tựa hồ đi theo một
lối vòng
tròn khổng lồ, bây giờ lại
quay về chỗ ban đầu. Trời
đã gần sáng,
nét mặt
A Bích trở nên bơ phờ, ủ
rũ. Đột nhiên nàng buông mái
chèo
xuống, đưa
tay lên bưng mặt khóc hu hu.
A Châu ôm
nàng vào lòng an ủi:
- Không phải
là chúng ta cố ý đến đây,
chờ gặp Vương phu nhân rồi
sẽ bày
tỏ chân
tình, em đừng sợ gì cả.
Tuy nàng tự
cường để vỗ về A Bích
mà tiếng nói nàng cũng run run,
tpr ra
nàng đang
trải qua một trận bão lòng kinh hãi.
Giữa lúc
ấy, trên không về phía tây
nổi lên vài tiếng chim kêu quang quác.
Một con chim rất
lớn bay tới, toàn thân lông
trắng như tuyết, cao lênh
khênh như
con hạc nhưng không phải hạc. Dường
như là một giống thủy
điểu. Con
bạch điểu này nhằm chỗ thuyền
dừng quyện một vòng trên không
rồi từ
từ bay về góc tây bắc.
A Châu nhặt
mái chèo lên thở dài nói:
- Không đi
không xong rồi! Chúng ta đành tới
đó rồi muốn ra sao thì ra.
Nàng bơi
thuyền hướng theo con bạch điểu
mà đi.
Đoàn Dự
hỏi:
- Có phải
con chim đó là sứ giả dẫn
đường đó chăng?
A Bích đáp:
- Đoàn
công tử! Công tử là người
xa đến, chưa biết quy củ nơi đây.
Lúc vào
đến Mạn
đà sơn, phu nhân bảo làm sao
công tử phải nghe vậy, chớ
có
kháng cự
mà khốn.
Đoàn Dự
hỏi:
- Tại sao vậy?
Chẳng lẽ chủ nhân trại này
lại dã man đến mức không
phân
biệt phải
trái nữa hay sao? Bọn mình lạc
đường vào đây thì
xin cho ra, chứ
làm gì
nên tội?
A Bích quầng
mắt đỏ hoe đáp:
- Đoàn
công tử không biết. Còn có
nhiều chuyện rắc rối bên trong, không
thể một
lúc mà nói hết ra được.
Người ta sở dĩ không cho
ai giở lý sự cũng
là có
cớ. Rút cục chỉ tại lão
sư đó mà ra. Nếu lão không
đuổi gấp quá thì
làm gì
đến nỗi mình hoang mang mà đi
lầm vào đây?
A Châu vốn
tính hoạt bát cười nói:
- Người
lành tự nhiên có thiên tướng
bảo hộ. Giả tỷ chỉ có hai chị
em mình
tới đây
tất là hỏng bét nhưng có Đoàn
công tử đây là người
lành may ra
chúng ta thoát
nạn cũng chưa biết chừng.
A Bích buồn
rầu đáp:
- Em thì lại
lo thay cho Đoàn công tử. Vương
phu nhân thấy có đàn ông đến
Mạn đà
sơn trang, chắc người sẽ sai chặt
chân khoét mắt. Phu nhân nói sao
làm vậy.
A Châu tỷ nơưng ơi! mình đưa
công tử đến đây để
chàng phải vạ
lây.
Nói đến
đó, nàng úp hai bàn tay lên
mặt, nước mắt tràn qua kẽ
ngón tay, rớt
xuống từng
giọt.
A Châu nói:
- Biết đâu
phu nhân chẳng tự nhiên đại
phát từ bi hoặc Đoàn công
tử khéo
biện bạch,
lay chuyển được tấm lòng
sắt đá của người mà
tha cả ba chúng ta
cũng nên.
Đoàn Dự
hỏi:
- Vương phu
nhân là người thế nào?
A Bích đưa
mắt nhìn A Châu toan nói lại thôi.
A Châu vỗ tay vài cái rồi
nhớn nhác
ngó quanh, không thấy ai bấy giờ
mới nói:
- Vương phu
nhân đây, về võ công không
biết đến đâu mà lường
được.
Khắp các
nhân vật trong võ lâm đều chịu
người là đệ nhất. Ngay
đến công
tử chúng
tôi, bản tính không chịu phục
ai mà chỉ bội phục có mình phu
nhân thôi.
Nàng vừa
nói vừa lắc đầu lè
lỡi, lộ ra nhiều vẻ kinh dị.
Đoàn Dự rất lấy
làm kỳ
tự hỏi: "bọn mình nói chuyện
trong thuyền, bốn bề chẳng có một
ai.
Chẳng lẽ
bà Vương phu nhân nào đó
có phép thần thông nghe được
cả ?".
Bỗng thấy
con bạch điểu lúc nãy lại trở
về, liệng quanh cái thuyền một
vòng. Chim bay
nhanh, thuyền bơi châm, nó bay đi bay
lại như vậy để chờ.
Thuyền cứ
trông hút bóng chim bơi theo chừng
nửa giờ, qua mấy chỗ vũng
biển. Đoàn
Dự nghĩ thầm: "con chim kia bay trên không
nên nhận đường lối
dễ hơn.
Đằng này bơi thuyền dưới
nước, giữa cái hồ mênh
mông, dù bản
lãnh giỏi
đến đâu cũng khó lòng
giữ cho khỏi lạc đường".
Thuyền đi
đến trước một hàng đăng
ken bằng tre chẻ ra vót sẵn. Người
Giang Nam thường
cắm đăng ngang sông, hồ để
nuôi cá, bắt giải. Nước
vẫn
lưu thông
nhưng cá và giải vướng đăng
không chui ra được. Thuyền lại
sát
đăng, tưởng
bị chặn lối đi, không ngờ
đầu thuyền vừa chạm vào
đăng, đăng
chìm ngay xuống
nước, để hở lối cho
thuyền đi qua. Thì ra trên các hàng
đăng này
có đặt cơ quan tự động
mở ra đóng lại được.
Qua mấy tầng đăng
như vậy thì
đến rặng liễu buông rủ xuống
nước. Hết rặng liễu, xa xa nhìn
thấy trên
bờ hồ hoa lá rực rỡ
như hoa trà, ánh xuống nước
đỏ rực một vùng.
Đoàn Dự
buột miệng khẽ reo lên một tiếng:
"ô kìa". A Châu vội hỏi:
- Chi vậy?
Đoàn Dự
chỉ vào bụm cây hoa đáp:
- Đây là
cây sơn trà ở nước
Đại Lý chúng tôi đó.
Làm sao ở Thái Hồ cũng
trồng được
thứ điền trà này nhỉ?
Nên biết
rằng thứ sơn trà sản xuất
ở Vân Nam có danh tiếng hơn cả
nên
người
ta mệnh danh là điền trà.
A Châu nói:
- Có đúng
thế không? tôi tưởng sơn
trà nước Đại Lý không
bằng được sơn
trà ở
Cô Tô chúng tôi đây. Chỗ
này là Mạn đà sơn trang, mạn
đà la đứng
vào bậc
nhất thiên hạ, sơn trà nước
Đại Lý của công tử bằng
thế nào được?
Đoàn Dự
cho lời bình luận của A Châu là
sai. Chàng nghĩ rằng: "nhân vật ở
Giang Nam kể ra
cũng làm cho người ta phải ngây
ngất thật. Nước Đại Lý
có nhiều
thứ thua kém nhưng mà bảo sơn
trà nước Đại Lý thua trà
Giang
Nam thì nhất
định không chịu". Chàng thấy
A Châu đưa mắt ra hiệu biết
rằng gần
đến sơn trang rồi. âu là cứ
buông xuôi câu chuyện cho êm.
A Châu chèo
thuyền lại buộc vào gốc một khóm
sơn trà, dừng chân đứng
nhìn một
hồi. Trên bờ toàn hoa trà
đỏ trắng lẫn lộn, không có
nhà cửa
phòng ốc
chi hết.
Đoàn Dự
sinh trưởng ở nước Đại
Lý, mặc dầu sơn trà đối
với chàng chẳng
có chi là
lạ nhưng cũng theo chiều tấm tắc
khen ngợi cho qua, trong lòng
thầm nghĩ:
"sơn trà ở đây tuy nhiều
thật, song giai phẩm này đã lấy
chi làm
quý?".
A Châu kéo
ghệch thuyền vào bờ rồi cất
tiếng thong thả mềm mỏng nói:
- Tiểu tỳ
là A Châu, A Bích ở Tham Hợp
trang bên Yến Tử ổ bị kẻ
địch
đuổi đánh,
lầm đường lạc vào nới
cấm địa quý trang đây, tội
đáng muôn
thác. Xin Vương
phu nhân mở lượng hải hà
bỏ qua đi cho! Bọn tiểu tỳ cảm
kích vô
cùng.
A Châu dứt
lời, trong rừng hoa chưa thấy tiếng
người đáp lại, nàng lại
tiếp:
- Cùng đi
với bọn tiểu tỳ còn có
Đoàn quân là một người
khách phương xa
đến. Đoàn
quân chưa từng quen biết công tử
bon tiểu tỳ và quả tình không
dính líu
mảy may gì đến vụ này cả.
A Bích cũng
nói:
- Đoàn
công tử đến Cô Tô với
mục đích tìm chủ nhân bọn
tiểu tỳ để rửa
hận, vô
tình lạc vào quý trang.
Đoàn Dự
nghĩ thầm: "xem giọng lưỡi hai
cô này đều bảo ta là kẻ
thù của
công tử
Mộ Dung chứ không phải bạn thì
đủ hiểu rằng giữa chủ
nhân khu
vực này
cùng công tử Mộ Dung có mối
bất hoà. Dường như cứ
ai là kẻ địch
của công
tử Mộ Dung thì không đến
nỗi họ bị làm khó dễ". Lát
sau thấy có
tiếng chân
bước sột soạt trong rừng hoa
rồi một ả tiểu hoàn áo xanh
đi ra,
trong tay cầm
một bó hoa. ả này lớn hơn
A Châu, A Bích chừng một vài
tuổi, vừa
chạy ra bờ hồ vừa cười
nói:
- A Châu, A Bích!
Các cô này to gan thật! Dám lẻn
đến đây dòm ngó
chuyện gì?
Phu nhân ta xuống lệnh phải rạch ngang,
rạch dọc cái bộ mặt
đẹp tựa
như hoa ngọc của các cô ra đó.
A Châu trông
nét mặt ả đã vững tâm
đưuợc phần nào, tươi
cười hỏi:
- U Thảo tỷ
nưng đấy ? Phu nhân vắng nhà
phải không?
U thảo cười
đáp:
- Phu nhân còn
bảo hai cô còn dắt cả chàng
trai nào đó đến Mạn đà
sơn
trang vậy phải
chặt hai chân gã đi!
Nàng chưa
dứt lời đã toét miệng
ra cười. A Bích vỗ bụng nói:
- U thảo tỷ
nương! có phải chị hăm doạ
chúng tôi đó không?
A Châu cười
nói:
- A Bích đừng
sợ! Cô ta doạ đấy! Phu nhân
mà ở nhà thì đời
nào cô ả dám
cười
cượt như vậy? U thảo em ơi! Phu
nhân đi đâu vậy?
U Thảo cười
nói:
- Lêu lêu!
Cô bao nhiêu tuổi mà đòi làm
chị ta? Con lỏi này giỏi đoán
đó,
phu nhân quả
không ở nhà.
Rồi ả lại
thở dài nói:
- A Châu, A Bích
hai em! Mấy khi hai em qua tới đây,
ta muốn lưu hai em
ở chơi
bên này một vài ngày.
A Bích cũng
nói:
- Em cũng muốn
được đón tiếp chị!
U thảo tỷ nương ơi! Bữa nào
chị sang
chơi bên
em? Em thức ròng rã ba ngày ba đêm
để tiếp chuyện chị được
không?
Bỗng lại
nghe tiếng chân bước trên lá
cây lạo xạo, một đứa tiểu
hoàn nữa đi
tới, cười
hì hì nói:
- A Châu, A Bích!
cô nương muốn mời các chị
vào xơi nước.
A Châu nói:
- Hoàng Ly đó
hả? Em về trình cô nương qua bên
nhà chơi, công tử đi vắng
rồi. Bữa
nay chúng ta đi lầm đường
thế nào lại lạc vào quý phủ.
Cô nương
cho uống trà,
chúng tôi xin có lời đa tạ
cô nương nhé!
Hoàng Ly nói:
- Không được
đâu! Cô nương cho gọi hai chị,
hai chị không chịu vào thì
đừng
hòng được "bạch y sứ
giả" đưa chị ra khỏi nơi đây.
A Châu cùng
A Bích đưa mắt nhìn nhau ra chiều
khó nghĩ, A Bích nói:
- Hoàng Ly tỷ
nương! chị thật là người
thông minh. Cô nương đã cho gọi
chị em chúng
tôi, chúng tôi đâu dám trái
lệnh? Chỉ sợ lần chần phu nhân
về
đến nhà
thì nguy quá.
U Thảo nói:
- Phu nhân đi
chơi xa, mới đi hôm qua, đâu
có về ngay mà ngại? Các chị
còn chưa
hiểu tâm sự cô nương hay sao?
A Châu đáp:
- Vâng! A Bích!
Thôi chị em chúng mình cũng đành
mạo hiểm vào đi!
Hai người
kéo thuyền lên bờ. A Bích bảo
Đoàn Dự:
- Đoàn
công tử! Xin công tử hãy
đứng đây chờ chúng
tôi một lúc. Chúng tôi
vào ra mắt
chủ nhân xong ra ngay.
Đoàn Dự
đáp:
- Được
rồi! Các cô đi lẹ lên.
Bốn cô
nha hoàn dắt tay nhau cười cười
nói nói đi vào rừng hoa. Đoàn
Dự
ngồi thuyền
chờ lâu, nóng ruột đứng
dậy lên bờ nhòm ngó rừng
mạn đà la
xem có giống
hoa gì khác lạ không? nhưng đây
chỉ toàn sơn trà không có
thứ hoa
cỏ gì khác nữa. Cả những
thứ hoa rất thường về mùa
xuân mọc khắp
nơi như: Khiên
Ngu, Oản đậu, Du Thái mà đây
cũng không có. Sơn trà thì
nhiều thật
nhưng toàn những thứ bình
thường, không có loại nào
quý cả.
Chàng đang
ngắm xem bỗng ngửi thấy một mùi
hoa thơm phảng phất. Mùi
thơm này
đượm không ra đượm,
lạt không ra lạt, thật khó tả cho
ra. Đúng là
mùi hương
chàng đã ngửi thấy đêm
hôm trước, lúc ngồi thuyền.
Chàng tự
hỏi: "ở
đây không có hoa cỏ gì khác
ngoài sơn trà, chẳng lẽ trên
đời lại có
thứ sơn
trà mùi hương kỳ dị thế
này?". Chàng nổi tính hiếu kỳ,
lần theo phía
phát ra mùi
thơm mà đi, đi chừng vài
chục trượng thấy sơn trà có
thêm
nhiều loại
khác, thỉnh thoảng cũng được
vài khóm quý. Chàng đang đi
tự
nhiên mùi
thơm kỳ dị đó biến mất
tăm. Chàng đi khắp mọi ngả để
kiếm mà
tuyệt không
ngửi thấy mùi hương đó
nữa, chàng lẩm bẩm: "ta trở
về chỗ
thuyền đậu
thôi! Kẻo A Châu, A Bích trở ra
không thấy mình lại nóng
ruột". Đoàn
Dự trở gót đi đợc
mấy bước, bỗng kêu lên:
"Thôi hỏng rồi". Vì
mải để
tâm vào chuyện đi kiếm thứ
hoa kỳ dị chàng không nhớ lối
ra. Chưa
biết tìm
cách nào để trở về chỗ
cũ chàng nghĩ thầm: "thôi đành
ra tới bờ hồ
sẽ hay, bất
luận là chỗ nào". Thế rồi
chàng cứ đi bừa, đi càng
lâu thì thấy
mình càng
lạc lõng. Bất thình lình Đoàn
Dự nghe thấy có tiếng người
nói,
rõ ràng
là tiếng A Châu, chàng cả mừng
nghĩ bụng: "ta hãy đợi nàng
ở đây
một lát,
chờ cho nàng nói chuyện xong với
người nào đó rồi sẽ
kêu nàng
cùng về.
Bỗng thấy A Châu nói:
- Công tử
vẫn được mạnh, ăn uống
điều hoà. Trong hai tháng nay công
tử
luyện môn
đả cẩu bổng pháp của Cái
Bang. ý chừng người muốn
tỷ thí với
các nhân
vật nơi đó.
Đoàn Dự
nghĩ thầm: "A Châu đang nói chuyện
về Mộ Dung công tử với ai
đây. Mình
chẳng nên đi sau nghe trộm, phải đi
xa ra một chút kẻo họ bảo
mình không
biết lễ". Giữa lúc đó
bỗng thấy tiếng một cô gái
thở dài. Tiếng
thở dài
này lọt vào tai Đoàn Dự
làm cho chàng bất giác toàn thân
run bần
bật, trái
tim nhảy loạn lên, hai má nóng bừng
bừng. Chàng tự hỏi thầm:
"sao
trên đời
này lại có tiếng người
thở dài nghe êm tai đến thế?".
Rồi một giọng
u buồn cất
tiếng hỏi:
- Chuyến này
chàng ra đi có nói là đi
đâu không?
Đoàn Dự
mới nghe tiếng thiếu nữ thở
dài lòng đã xúc động,
giờ lại nghe
thêm mấy
câu này nữa toàn thân chàng
máu như sôi lên sùng sục. Trong
lòng vừa
cay đắng vừa đau khổ, phần
vì ngưỡng mộ, phần vì ghen
tuông nói
sao cho hết?
Chàng lẩm bẩm: "rõ ràng nàng
hỏi chuyện công tử Mộ Dung.
Nàng đối
với gã thân thiết là thế!
nhớ mong là thế! công tử
Mộ Dung thật là
người
có diễm phúc.
Lại nghe tiếng
A Châu đáp:
- Lúc công
tử ra đi có nói là đến
Lạc Dương. Lữ đại ca cùng
Bao tiên sinh
hai người
đi theo công tử. Xin cô nương
cứ yên lòng không có điều
chi đáng
ngại.
Thiếu nữ
hỏi:
- Các ngươi
có coi công tử luyện môn "đả
cẩu bổng pháp" chưa? Có thấy
chỗ nào
khó khăn hoặc chậm chạp không?
A Bích đáp:
- Bổng pháp
này công tử đã luyện thành
thục lắm rồi, từ đầu
chí cuối công
tử phát
động tựa hồ mây bay nước
chảy...
Đột nhiên
thiếu nữ "hứ" lên một tiếng
rồi nói tiếp:
- Thế là
hỏng rồi! Có phải... chàng sử
môn này mau lẹ lắm không?
A Bích đáp:
- Vâng! vậy
mà có chỗ chưa được
hay sao?
Thiếu nữ
nói:
- Dĩ nhiên
là hỏng rồi. Phép "Đả cẩu
bổng pháp" có hai thế: thế chiền
thì
càng chậm
càng hay, thế thiểu thì lúc nhanh
lúc chậm. Nếu chỉ một chiều
đánh mau
thì không phát huy được chỗ
tinh vi mầu nhiệm của phép này.
Vậy các
ngươi... các ngươi có cách
nào đưa tin được đến
chỗ công tử
không?
A Châu tặc
lưỡi đáp:
- Bọn tiểu
tỳ không biết công tử đến
đâu trước? Và hiện giờ
họp mặt cùng
các bậc
trưởng lão ở Cái Bang chưa?
Thưa cô nương! vậy ra phép "Đả
cẩu
bổng pháp"
mà sử dụng thật mau, có chỗ
không ổn hay sao?
Thiếu nữ
đáp:
- Dĩ nhiên
không ổn rồi, còn có... chỗ
gì nữa. Sao lúc chàng... chàng
ra đi,
không đến
đây gặp ta?
Thiếu nữ
vừa nói vừa dậm chân ra
chiều nóng nẩy, áy náy... Đoàn
Dự nghe
xong rất lấy
làm kỳ, nghĩ thầm: "ta tưởng
khắp thiên hạ, ai cũng kính sợ
nhà
Mộ Dung ở
Cô Tô, thế thì còn ai bì với
nhà này được mà sao nghe
cô nương
đây nói
thì dường như công tử
Mộ Dung còn phải nhờ cô này
truyền dạy võ
nghệ cho. Chẳng
lẽ một cô thiếu nữ nhỏ
tuổi này lại có bản lãnh đến
thế kia
?
Lại thấy
thiếu nữ bước lui bước,
tới tựa hồ chưa tìm ra được
kế gì, rồi nàng
lẩm bẩm:
"trước mình đã bảo chàng
học bộ pháp đó nhưng chàng
không
chịu, giả
tỷ mà chàng biết phép Lăng
Ba Vi Bộ ..."
Đoàn Dự
nghe đến bốn chữ Lăng Ba Vi
Bộ bất giác kêu lên một tiếng
"A
ha". Chàng tự
biết mình lỡ lời đa tay
lên bịt miệng thì đã không
kịp mất
rồi. Thiếu
nữ quát hỏi:
- Ai đó?
Đoàn Dự
biết rằng không thể giấu diếm
được nữa liền đằng
hắng lên vài
tiếng rồi
đáp:
- Tại hạ là
Đoàn Dự đang ngắm xem rừng
trà báu của quý trang, đột
ngột
tới đây,
xin người tha tội cho!
Thiếu nữ
nói khẽ bảo A Châu:
- A Châu! Phải
chăng đây là cậu cùng đi
với ngươi?
A Châu vội
đáp:
- Thưa phải!
gã này chỉ là anh đồ gàn,
cô nương bất tất phải nói
đến gã làm
gì. Ta đi
ra ngả khác quách.
Thiếu nữ
nói:
- Hãy khoan! Ngưi
hãy chờ ta viết thư nói rõ
mọi điều cốt yếu về phép
sử
môn "đả
cẩu bổng pháp" để các ngươi
liệu cách đưa đến cho công
tử.
A Châu tỏ
vẻ ngần ngại đáp:
- Cái đó...
phu nhân đã bảo rồi mà...
Thiếu nữ
giật giọng hỏi:
- Sao bọn ngưi
chỉ biết vâng lời phu nhân? Không
chịu nghe ta phải
không?
Nghe câu nói
có vẻ hằn học A Châu vội đáp:
- Xin cô nương
đừng lộ cho phu nhân biết. Lẽ
nào tiểu tỳ lại không tuân
lệnh, huống
chi lại là việc lợi cho công tử.
Thiếu nữ
nói:
- Hai người
theo ta về phòng lấy thư nghe.
A Châu đáp:
- Vâng!
Từ lúc
Đoàn Dự thấy thiếu nữ
thở dài rồi sau càng nghe nàng
nói càng mê
đặc. Giờ
thấy nàng toan trở gót về
phòng chàng nghĩ bụng: "để cho
nàng đi
e rằng không
còn dịp nào được gặp
mặt nữa thì thật là điều
hối tiếc suốt đời.
Ta đành
một liều ba bảy cũng liều, tìm
cách ngăn trở để nhìn
cho thấy mặt
rồi muốn
tội tình hay trách mắng gì cũng
chịu". Nghĩ vậy chàng bèn lớn
tiếng gọi:
- A Bích cô
nương ở lại đây với
tôi được không?
Chàng vừa
gọi vừa rảo bước đi
ra. Thiếu nữ thấy chàng sấn
sổ bước tới vội
la lên một
tiếng "ô hay" rồi quay đi. Đoàn
Dự ở trong bụi cây bưước
ra, chỉ
thấy một
vị nữ lang mặc áo tơ trắng
đang nhìn lên những bông hoa,
vẻ
người
mềm mại, tóc dài bỏ xuống
sau lưng, dùng dây tràng buộc cho gọn.
Đoàn Dự
mới trông thấy bóng dáng sau
lưng nàng, cốt cách đã ra vẻ
thần
tiên, bên
mình dường nh có khói mây
bao bọc, chứ không ra tuồng khách
tục. Chàng
liền vái dài nói:
- Tại hạ Đoàn
Dự xin bái kiến cô nương.
Nữ lang dậm
chân trái xuống đất gắt:
- A Châu! Các
ngươi thật là rắc rối! Ta có
chạm mặt với nam giới bên
ngoài
bao giờ
đâu?
Nói rồi
đi thẳng về phía trước.
Qua mấy khúc quanh người nàng
đã che
khuất vào
trong bụi hoa mất rồi. A Bích nhìn
Đoàn Dự mỉm cười nói:
- Đoàn
công tử! Cô nương này rất
khó tính khó nết. Chúng ta chuồn
đi thôi.
A Châu cũng
mỉm cười nói:
- May nhờ
có Đoàn công tử đến
giải vây cho không thì thế nào
cũng bị
Vương cô
nương bắt đưa thư, gửi
thiếp rất là phiền phức, có
khi nguy hiểm
đến tính
mạng chị em tôi nữa.
Đoàn Dự
lật đật chạy ra bị nữ lang
nói mấy câu làm chàng cụt
hứng, tưởng
còn bị
A Châu, A Bích oán ghét nữa
là khác nào ngờ lại được
hai nàng cảm
ơn, thật
là một điều không bao giờ
nghĩ đến.
Lúc đó
ba người đã ra đến chỗ
thuyền đậu, A Châu cầm lấy
mái chèo toan
bơi thuyền
đi thì A Bích nói:
- A Châu tỷ
nương! chị em mình không có "bạch
y sứ giả" dẫn đường,
dễ gì
mà mà
biết lối ra? đành là phải
ngồi đây chờ cô nương
viết xong thư. Chúng
ta bị tình
thế bắt buộc dù phu nhân có
biết ra cũng không trách chúng ta
được.
A Châu thở
dài nói:
- Cái ông
sư đó thật là tai hại, nghĩ
đến lúc nào lại bực ông
ta lúc ấy.
Chưa dứt
lời, bất thình lình nổi lên
một tiếng hú từ đằng
xa đưa lại như tiếng
rồng gấm
nghe choáng cả tai.
A Châu, A Bích
đều cả kinh thất sắc. Đoàn
Dự cũng giật mình lẩm bẩm:
- Tiếng gầm
này nghe quen tai. à thôi! chết rồi!
Có lẽ là đồ đệ ta,
Nam Hải
Ngạc Thần
sắp tới. Hừ nhưng quyết
không phải lão.
Nguyên lúc
buổi đầu Đoàn Dự gặp
Nam Hải Ngạc Thần đã nghe tiếng
hú
này. Nhng lúc
Nam Hải Ngạc Thần đã đến
bên chàng mà chàng vẫn còn
nghe tiếng hú
râm ran, rồi Nam Hải Ngạc Thần nghe
tiếng hú đó hốt hoảng
chạy theo.
Bình nhật
đã đành A Bích lúc nào
cũng có vẻ mặt lo lắng đáng
thương
nhưng A Châu
vốn là người hoạt bát
lanh lẹ mà lúc đó chân tay
cũng luống
cuống, ra chiều
sợ hãi vô cùng. A Bích khẽ
gọi:
- Đoàn
công tử ơi! phu nhân về tới
nơi rồi! Bọn ta đành sống thác
mặc trời.
Công tử
càng tỏ ra vô lễ ngạo ngược
với chị em chúng tôi chừng
nào càng
được
việc chừng ấy.
Đoàn Dự
từ khi bỏ Vương phủ lén đi
đến nay đã trải bao phen thập
tử nhất
sinh, đã
bao lần gặp nguy hiểm gian nan, chàng nghĩ
thầm: "người ta sống
chết có
số, nếu số phải chết thì
dù muốn tránh cũng chẳng được
nào thì tội
gì mà
tỏ ra con người không biết điều
đối với hai nàng nhu mì khả
ái này?".
Chàng liền
mỉm cười nhìn hai nàng nói:
- Thà rằng
giữ lễ mà chịu chết còn
hơn vô lễ để níu lấy
cái sống. Này A
Châu cô
nương ơi! cô bảo tôi là đồ
gàn thì quả tôi có cái tính
gàn dở của kẻ
nhai văn nhấm
chữ.
A Châu cũng
nhìn chàng thở dài mà kêu
trời.
Lúc này
trên mặt hồ đã xuất hiện
một con thuyền, lướt tới
như bay, chớp
mắt đã
đến gần tới nơi. Chiếc
khoái thuyền này chạm hình đầu
rồng, miệng
há hốc
ra, trông mà gớm khiếp. Thuyền
vừa cập bến, Đoàn Dự
bất giác la
lên một
tiếng "trời ơi". Nguyên trên
sừng rồng chạm đầu thuyền
có treo ba
cái đầu
lâu lủng lẳng vừa mới
chặt ở đâu về, hãy còn
đầm đìa những máu,
khiến ai trông
thấy cũng phải ghê rợn, không
dám nhìn lâu. Những răng
trong miệng rồng
nhô ra cũng dính đầy máu tươi.
A Châu khẽ
nói:
- Chắc Vương
phu nhân giữa đường gặp
giặc nên mới về sớm thế
này.
Chúng mình
thật là xúi quẩy.
Thuyền rồng
vừa sắp vào bờ A Châu,
A Bích đã đứng dậy khép
nép cúi đầu,
vẻ mặt cực
kỳ nghiêm cẩn. A Bích nhìn Đoàn
Dự luôn luôn ra hiệu cho
chàng đứng
dậy. Đoàn Dự chỉ mỉm cười
lắc đầu nói:
- Bao giờ
phu nhân bước ra đầu thuyền
lên tiếng, tôi sẽ đứng
lên để tỏ lòng
kính cẩn
là được rồi. Ai lại đường
đường nam tử trượng
phu mà phải khúm
núm bao giờ?
Bỗng thấy
tiếng một người đàn bà
từ trong thuyền vọng ra:
- Gã trai kia!
Mi to gan thật! Sao dám thiện tiện đến
Mạn đà sơn trang làm
chi, mi lại không
biết bất luận gã đàn ông
nào đã vào đây đều
bị chặt chân
?
Giọng nói
rất oai nghiêm, trong trẻo, ai cũng nghe
rõ.
Đoàn Dự
đáp:
- Tại hạ là
Đoàn Dự, lầm đường
lạc vào bảo trang, thực không có
ý đường
đột chút
nào, xin nghiêng mình tạ lỗi.
Người
đàn bà "hừ" một tiếng
rồi không nói nữa. Thuyền áp
mạn xong, hai ả
tỳ nữ
áo xanh ở trong chui ra, một ả phi thân
lên sừng rồng, loáng một cái
đã nhấc
ba chiếc đầu lâu nhảy xuống
rất lẹ làng.
Đoàn Dự
thấy hai ả cùng đeo trường
kiếm lẩm bẩm: "thị nữ còn
lợi hại thế
này thì
bà chủ chắc là ghê gớm
lắm. Mình cũng chỉ có mỗi
cái thủ cấp, cắt
thì cắt
phứt đi cho xong". Chàng nghĩ tới
câu: "đến chết là cùng",
rồi trong
bụng thản
nhiên như không.
Người
đàn bà lại cất tiếng gọi:
- A Châu, A Bích,
hai con nhãi kia cũng đến đó
hả? Cái thằng lỏi Mộ Dung
Phục điều
hay không học, chỉ chuyên dở cái
trò yêu quái.
A Bích thưa:
- Khai bẩm phu
nhân! Tiểu tỳ bị kẻ địch
đuổi đánh, đêm khuya trời
tối đã
lầm đường,
vô tình lạc vào đây. Công
tử tiểu tỳ ra đi rồi. Việc
tiểu tỳ lạc
đến đây,
công tử quả không biết tý
gì.
Nàng không
tỏ vẻ nơm nớp lo sợ thì
ra con người ta đã đến
cùng đường tự
nhiên đâm
liều, nàng cứ thẳng thắn biện
bạch.
Tiếng ngọc
đeo loảng xoảng vang lên, trong thuyền
thị nữ áo xanh xếp hàng
đôi đi
ra, lưng đeo trường kiếm, lưỡi
kiếm sáng loáng, ánh kiếm lập
loè tựa
hoa bay. Bọn này
tám đôi, cộng cả hai ả ra trước
nữa là mời tám người.
Sau cùng là
một vị nữ lang ăn mặc ra kiểu
khách cung phi. Đoàn Dự vừa
nhìn thấy
tướng mạo nữ lang, không thể
nhịn được, bất giác la lên
một tiếng
kinh dị, líu
cả lưỡi lại, miệng há hốc
ra tựa hồ như lạc vào cõi
mộng.
Nguyên vị
nữ lang này mình mặc áo dài
bằng lụa trắng, từ y phục cho
đến
đồ trang
sức hệt như pho ngọc tượng
trong thạch động bên nước
Đại Lý. Có
điều nữ
lang này tuy đẹp như vậy nhưng đã
đứng tuổi trạc độ tứ
tuần còn
pho tượng
kia là một thiếu nữ chừng
18, 19 tuổi. Đoàn Dự nhìn kỹ
lại thì vị
nữ lang
này chỉ khác pho tượng ở
chỗ nhiều tuổi hơn nên vẻ mặt
dầy dạn
phong trần, còn
ngoài ra không khác tý gì, càng
nhìn lâu lại càng giống hệt,
khác nào
bà này là chị mà pho tượng
kia là em.
A Châu, A Bích
thấy Đoàn Dự cứ giương
mắt nhìn phu nhân trừng trừng
có
vẻ cực
kỳ vô lễ, trong lòng đều
ngấm ngầm kinh sợ, luôn luôn
giơ tay ra
hiệu nhắc
chàng đừng nhìn nữa. Nhưng
mắt chàng tựa hồ dán chặt
vào mặt
phu nhân.
|