THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 27
Cái
mũi thần tình
Kim Dung
Cưu Ma Trí
nghe Đoàn Dự ngâm thơ, cười
lạt nói:
- Chết đến
gáy mà mi vẫn còn khoái lắm
nhỉ. Vài bữa nữa rồi xuống
âm
cung mà ngâm
thơ vịnh phú với Diêm Vương.
Đoàn Dự
cười nói:
- Thiên hạ
ai là người không chết? Mi sống
thêm mấy năm nữa có hơn
ai
được
cái gì không?
Cưu Ma Trí
không nói nữa, quay ra hỏi thăm
những người qua đường
Tham
Hợp trang
ở đâu. Lão hỏi đến
bảy tám người mà chẳng
ai biết. Sau có ông
già bảo:
- Thành Cô
Tô không có đâu là Tham Hợp
trang cả. Có lẽ hoà thượng
nghe
lầm chăng?
Cưu Ma Trí
lại hỏi:
- Lão trượng
có biết đại trang chúa người
họ Mộ Dung ở đâu không?
Ông già
đáp:
- Trong thành
Tô Châu này chỉ có họ Cố,
họ Lục, họ Trương, họ Chu, họ
Văn... làm
gì có đại trang chúa cùng Mộ
Dung? Tôi chưa thấy ai nói đến
cả.
Cưu Ma Trí
chưa biết tìm cách nào để
hỏi cho ra địa chỉ Mộ Dung tiên
sinh,
chợt nghe
tiếng một người đang đi
trên còn đường nhỏ về
phía tây nói: tôi
nghe nói họ
Mộ Dung ngụ ở ngoài thành, đi
về phía tây chừng 30 dặm, chỗ
đó gọi
là Yến Tử ổ. Chúng ta tới
đó xem sao?
Rồi lại
có tiếng người khác gạt
đi:
- Thôi! Đây
đã đến địa đầu
rồi. Ta phải cẩn thận mới được.
Hai người
nói rất khẽ, Đoàn Dự
không nghe thấy chi cả Cưu Ma Trí vì
tuyệt
giỏi nội
công mới nghe rõ. Lão nghĩ
thầm: phải chăng hai người này
chủ
tâm nói
cho ta nghe tiếng?
Cưu Ma Trí
đưa mắt nhìn về phía vừa
phát ra tiếng nói thì thấy một
người
khí vụ hiên
ngang, vận đồ tang phục còn một
người thấp lủn thủn và
gầy
đét, trông
chẳng khác chi ác quỷ hung thần.
Cưu Ma Trí biết ngay người đó
có võ
công đáng kể. Lão còn đang
suy nghĩ có nên cùng bọn này
bắt
chuyện không
bỗng Đoàn Dự lên tiếng
gọi to:
- Hoắc tiên
sinh! Hoắc tiên sinh đi đâu đấy?
Nguyên người
thấp lủn thủn, hình dung cổ quái
đó chính là Kim Toán bàn
Thôi Bách
Kế và sư điệt ông là Truy
hồn thủ Quá Ngạn Chi. Hai người
sau
khi từ biệt
Trấn Nam Vương phủ nước Đại
Lý ra đi, quyết tâm báo thù
cho
Kha Bách Tuế.
Mặc dầu họ biết rõ khó có
thể địch lại nhà Mộ Dung, mối
thù không
đội trời chung vị tất đã
trả được nhưng là những
người nghĩa
dũng, họ
can đảm tìm đến Cô Tô.
Công việc đầu tiên của hai người
là thám
thính họ
Mộ Dung ngụ tại Yến Tử ổ,
đang đi trên đường thì
gặp Cưu Ma Trí
cùng Đoàn
Dự. Thôi Bách Kế chợt nghe
tiếng Đoàn Dự gọi rất đỗi
ngạc
nhiên nhảy
ngay đến trước mặt Cưu Ma
Trí hỏi:
- Tiểu Vương
gia đó ? Ô kìa đại hoà
thượng! Xin buông ngay công tử
xuống cho! Hoà
thượng có biết công tử
là ai đó không?
Thực ra Cưu
Ma Trí chẳng coi hai người vào
đâu nhưng lão nghĩ rằng từ
lúc
chưa đến
Trung Nguyên mình đã biết khó
lòng tìm ra chỗ ở của Mộ
Dung
tiên sinh. Nay
có bọn này dẫn lối cho kể
cũng là một dịp may cho mình bèn
buông Đoàn
Dự xuống, để chàng đứng
vững rồi giải các huyệt đạo
ở hai
chân chàng,
đoạn quay lại bảo hai người:
- Tôi cũng
đến chỗ Mộ Dung tiên sinh đây.
Phiền hai vị dẫn đường
cho!
Thôi Bách
Kế tuy là người lịch duyệt
giang hồ, biết nhiều hiểu rộng mà
chưa đoán
ra lai lịch nhà sư này, bèn hỏi:
- Xin hỏi đại
sư chúng tôi xưng hô với
đại sư thế nào cho phải? sao đại
sư
lại làm
khó dễ với tiểu Vương gia
họ Đoàn như vậy? Đại sư
lên phủ Mộ
Dung có việc
gì?
Cưu Ma Trí
đáp lộc cộc:
- Bất tất
phải hỏi nhiều, tới nơi sẽ
biết!
Thôi Bách
Kế lại hỏi:
- Phải chăng
đại sư là chỗ bạn thân với
nhà Mộ Dung?
Cưu Ma Trí
đáp:
- Phải! Mộ
Dung tiên sinh ở Tham Hợp trang, không
biết đi về ngả nào?
Hoắc tiên
sinh có biết thì chỉ dùm cho!
Lão thấy
Đoàn Dự gọi Thôi Bách Kế
là Hoắc tiên sinh cũng tưởng
y là
Hoắc thật
mặc dầu lão trí mưu hơn người
nhưng cũng chưa hiểu lý do.
Thôi Bách
Kế bóp trán suy nghĩ rồi hỏi
Đoàn Dự:
- Tiểu vương
gia! Bây giờ Tiểu Vương gia tính
sao đây?
Câu hỏi
này khiến cho Đoàn Dự phải
chưng hửng. Chàng nghĩ thầm: "Cưu
Ma Trí võ
công ghê gớm, trên đời
này sợ không ai địch nổi.
Bọn Thôi, Quá
tất nhiên
so với lão không thấm vào
đâu. Nếu hai người này
lại cố ý cứu
mình thì
chẳng những không ăn thua gì
mà chết uổng hai mạng". Nghĩ vậy
chàng dùng
lời cảnh cáo để bọn họ
biết đường cao chạy xa bay là
hơn chàng
nói:
- Vị đại
sư đây một mình mà đánh
bại bá phụ tôi cùng năm tay cao
thủ nước
Đại Lý,
bắt tôi đem đến đây.
Nguyên đại sư là bạn cố
tri với Mộ Dung tiên
sinh, nay đại
sư đưa tôi đến hoả thiêu
trước mồ Mộ Dung tiên sinh để
tế
vong hồn người
bạn quá cố. Tôi tưởng hai
vị không có dính líu gì đến
nhà
Mộ Dung thì
nên chỉ đường cho đại
sư rồi về đi là hơn.
Thôi Bách
Kế cùng Quá Ngạn Chi nghe lão đại
sư này đánh bại Bảo Định
Đế cùng
bọn cao thủ nước Đại Lý
quả nhiên chột dạ, khi nghe lão là
bạn
với bọn
Mộ Dung thì lại càng khiếp sợ.
Thôi Bách Kế tuy mặt mũi xấu
xa,
hình dung cổ
quái nhưng có nghĩa khí hào
hiệp nghĩ thầm: "mình đã ẩn
thân
tại phủ
Trấn Nam Vương mười mấy năm
trời chưa từng báo đáp
ơn sâu.
Nay tiểu vương
gia gặp nạn có lý đâu mình
tự thủ bàng quan được?
Hơn nữa
mình đã
tìm vào Cô Tô thì cái mạng
này coi có cũng như không, bất
luận
chết dưới
lưỡi đao của kẻ địch
hay chết bới tay người khác
cũng thế thôi".
Nghĩ vậy
Thôi liền thò tay vào bọc lấy
ra một cái bàn tính bằng hoàng
kim
sáng rực,
giơ cao lên, lắc cho nó kêu loảng
xoảng rồi bảo Cưu Ma Trí:
- Này này
đại hoà thượng! Đại
hoà thượng là bạn thân với
Mộ Dung tiên
sinh thì tiểu
vương gia đây cũng là hảo
hữu của tôi, đại hoà thượng
nên
buông tha tiểu
vương gia ra!
Thôi Bách
Kế chưa nói dứt câu Cưu Ma
Trí đã vươn tay ra giựt được
cây
nhuyễn tiên
của Quá Ngạn Chi đang cầm, rồi
thuận tay lão quăng nhuyễn
tiên quấn
lấy bàn tính ở trong tay Thôi
Bách Kế. Hai binh khí chạm vào
nhau, rời
khỏi tay người cầm, bay tung ra rớt
xuống hồ. Ai nấy đều nhìn
thấy cặp
khí giới quý báu này sắp
chìm xuống đáy hồ. Không ngờ
đà kình
lực Cưu
Ma Trí xử khéo làm sao, một đầu
cây nhuyễn tiên văng lại, mắc
vào một
cành liễu trên mặt hồ.
Quá Ngạn
Chi ngoại hiệu là "truy hồn thủ" ra
tay cực kỳ mau lẹ, sử dụng
cây nhuyễn
tiên lại là một môn tuyệt kỹ
của chàng vậy mà chưa đánh
xong
một đòn
đã bị Cưu Ma Trí giật rời
khỏi tay. Mấy cử động của
Cưu Ma Trí:
nào xích
lại gần, nào vươn tay giật roi nhuyễn
tiên, nào vẫy roi cuốn lấy bàn
tính, nào
lui về chỗ cũ lẹ đến nỗi
cả Thôi Bách Kế lẫn Quá Ngạn
Chi hai
người
cũng không trông rõ nữa.
Cưu Ma Trí
chắp hai tay để trước ngực,
nét mặt vẫn thản nhiên như không
có chuyện
gì xảy ra nói:
- Phiền đại
giá hai vị dẫn đường cho!
Thôi, Quá
hai người ngơ ngác nhìn nhau, không
biết làm thế nào. Cưu Ma
Trí lại
nói tiếp:
- Nếu hai vị
không dẫn đường thì xin
chỉ nẻo cho biết Yến Tử ổ,
Tham Hợp
trang đi về
ngả nào, đường lối ra
sao, để tiểu tăng tự đi đến
nơi cũng được.
Thôi, Quá
hai người thấy võ công lão
vô cùng lợi hại mà vẻ mặt
lại khiêm
tôn, ôn
hoà là thế muốn trở mặt
không được mà không trở
mặt không xong.
Giữa lúc
ấy bỗng nghe có tiếng rạt rào,
trên mặt hồ nước biếc một
con
thuyền nhỏ
đang rẽ nước lướt
tới. Trên thuyền một thiếu nữ
áo xanh cầm
đôi mái
chèo khuấy nước cho thuyền chạy,
miệng cô đang ca khúc "Hạm
thiều hương".
Giọng hát dịu dàng không có
vẻ lả lơi khiến người nghe
cũng
cảm thấy
nỗi vui mừng.
Đoàn Dự
ở nước Đại Lý từng
đọc văn chương thơ phú của
cổ nhân, tán tụng
phong cảnh nhân
vật Giang Nam. Nay chàng được nghe
khúc hát này tâm
hồn bất
giác say sa như lạc vào cõi mộng.
Quên mình đang đứng trước
hoàn cảnh
hiểm nghèo quay ra nhìn thiếu nữ.
Tay nàng nhỏ nhắn, nước da
trắng mịn
ánh xuống hồ nước xanh biếc
và trong leo lẻo.
Thôi Bách
Kế và Quá Ngạn Chi tuy đứng
trước mặt kẻ địch ghê
gớm cũng
không khỏi
đưa mắt nhìn cô gái mấy
lần. Chỉ mình Cưu Ma Trí là tựa
hồ
như không
trông thấy hay không nghe thấy gì
mà thôi. Lão nói:
- Nếu hai vị
không chịu chỉ Tham Hợp trang cho thì
tiểu tăng xin cáo từ.
Lúc đó
thiếu nữ đã chèo thuyền
đến gần bờ. Nàng nghe Cưu
Ma Trí nói vậy
liền cất
tiếng:
- Chẳng hay đại
hoà thượng đến Tham Hợp
trang có việc gì?
Giọng nàng
cực kỳ thanh tao êm ái khiến
ai nghe cũng lọt tai. Thiếu nữ mới
chừng 15,
16 tuổi, nét mặt ôn nhu, con người
thanh tú. Đoàn Dự nghĩ thầm:
"các cô
gái ở Giang Nam có tiếng là
xinh đẹp tưởng cũng đến
thế này mà
thôi".
Cưu Ma Trí
hỏi:
- Tiểu tăng
muốn đến Tham Hợp trang. Tiểu
nương tử có thể trỏ đường
lối
cho tiểu tăng
được không?
Thiếu nữ
mỉm cười hỏi lại:
- Cái tên
Tham Hợp trang người ngoài không
ai biết đến. Đại sư nghe đâu
mà biết?
Cưu Ma Trí
đáp:
- Tiểu tăng
là bạn phương xa với Mộ Dung
tiên sinh. Hôm nay đến tế mộ
tiên sinh cho
vẹn lời ước năm xưa.
Thiếu nữ
trầm ngâm rồi nói:
- Nếu vậy
không may cho đại sư rồi! Hôm kia
Mộ Dung công tử mới ra đi.
Giả tỷ
đại sư đến đây trước
ba hôm thì được gặp.
Cưu Ma Trí
nói:
- Tiểu tăng
thật vô duyên cùng công tử
nghĩ cũng đáng buồn. Song tiểu
tăng
từ nước
Thổ Phồn, đường xa muôn
dặm, lặn lội về đến Trung Nguyên
chỉ
mong được
tới trước mồ Mộ Dung tiên
sinh lạy một lạy cho chọn nghĩa xưa.
Thiếu nữ
nói:
- Nếu đại
sư đã là chỗ giao hữu
cùng Mộ Dung tiên sinh thì xin mời
đại sư
hãy vào
dùng trà để cháu sẽ vào
báo trang nên chăng?
Cưu Ma Trí
hỏi lại:
- Tiểu nương
tử là người thế nào
trong phủ công tử? Xưng hô sao cho
phải
phép?
Thiếu nữ
mỉm cười đáp:
- Cháu là
kẻ nữ tỳ chầu chực công
tử trong cung đàn tiếng sáo
tên gọi A
Bích. Xin đại
sư miễn khách sáo và đừng
kêu bằng đại nương tử
tiểu nương
tử chi hết.
Cứ gọi thẳng tên A Bích cho tiện.
Đoạn nàng
tiếp:
- Từ đây
vào Yến tử ổ toàn là
đường thuỷ. Quý vị có
muốn vào thì xuống
thuyền để
tiểu nữ chở đi.
Cưu Ma Trí
cám ơn rồi nắm tay Đoàn Dự
nhẹ nhàng nhảy xuống thuyền,
thuyền chỉ
đầm xuống một chút chứ
không tròng trành.
A Bích nhìn
Cưu Ma Trí và Đoàn Dự mỉm
cười tựa hồ thán phục
võ công
của hai người.
Quá Ngạn
Chi khẽ hỏi Thôi Bách Kế:
- Sư thúc
tính sao bây giờ?
Hai người
cốt tìm đến nhà Mộ Dung để
báo thù nhnưg chưa tới nơi
đã xẩy
ra mấy vụ
rùng rợn vẫn còn nơm nớp
lo âu.
A Bích tươi
cười nói:
- Hai vị đã
đến Tô Châu nếu không có
việc gì gấp xin mời vào tệ
xá xơi
nước.
Cái thuyền này tuy nhỏ nhưng hai vị
xuống nữa cũng được.
Nàng vừa
nói vừa ghé thuyền vào bên
cây liễu, giơ bàn tay xinh xắn ra
với
lấy cây
bàn tính, tiện tay nàng gẩy bàn
tính lách cách.
Đoàn Dự
nghe vui tai buột miệng nói:
- Cô gẩy
khúc thái tang tử phải không?
A Bích mỉm
cười nói:
- Công tử
tinh thông âm nhạc gẩy chơi một
khúc đi!
Đoàn Dự
thấy nàng ăn nói tự nhiên,
tính tình khả ái cười đáp:
- Tôi không
biết gẩy đàn bằng bàn tính.
Rồi chàng
quay lại bảo Thôi Bách Kế:
- Hoắc tiên
sinh! Cái bàn tính của tiên sinh mà
cô nương đây gẩy nghe cũng
vui tai đấy
chứ?
Thôi Bách
Kế cười hềnh hệch đáp:
- Quả vậy!
Hay lắm! Cô nương thực là
người tao nhã. Cái đồ
vật phàm tục
dùng làm
sinh kế vào tay cô nương cũng
thành ra nhạc khí được.
- Trời ơi!
ghê quá! Của tiên sinh đấy
? Bàn tính gì mà đẹp quá
vậy? Chắc
tiên sinh giàu
có lắm, cái bàn tính cũng
đúc bằng vàng ruột. Tôi xin
trả tiên
sinh đây!
Nàng vừa
nói vừa cầm bàn tính giơ
lên. Thôi Bách Kế đứng
trên bờ không
với tới,
lẹ làng nhảy xuống thuyền, đưa
tay ra với lấy bàn tính rồi
quay đầu
lại trừng
mắt nhìn Cưu Ma Trí một cái. Cưu
Ma Trí thuỷ chung vẫn giữ bộ
mặt tươi
cười vui vẻ, tuyệt không lộ
vẻ gì tức giận cả. A Bích
lại đưa tay trái
ra lượm
cây nhuyễn tiên, năm ngón tay nàng
cũng bật cũng gõ vào cây roi
thành những
âm thanh trong trẻo vang dội như kiểu gẩy
đàn tỳ bà. Thì ra cả
đến những
binh khí của các bậc anh hùng hào
kiệt vào tay nàng cũng thành
nhạc khí
cả.
Đoàn Dự
lại reo lên:
- Tuyệt diệu!
Thật là tuyệt diệu! Cô nương
gảy khúc nữa đi!
A Bích trông
lên Quá Ngạn Chi hỏi:
- Cây nhuyễn
tiên của tiên sinh phải không? tôi
đem ra nghịch thực vô lễ
quá. Tiên
sinh xuống thuyền đi rồi tôi hái
cho tiên sinh mấy trái hồng lăng.
Quá Ngạn
Chi nóng lòng báo cừu cho sư
phụ chàng căm thù cả bè lũ
nhà
Mộ Dung thấu
xương nhưng thấy cô bé này
xinh tươi, chất phác không có
vẻ gì là
nham hiểm độc ác nên chàng tuy
giận đầy ruột mà không dám
phát
cáu. Chàng
nghĩ thầm: "thị dẫn ta về nhà
là có chuyện không hay đây.
Thôi
được,
nếp tẻ gì không cần, ta hãy
vào giết mấy đứa cho hả
giận đã". Nghĩ
vậy chàng
gật đầu bước xuống thuyền.
A Bích trịnh
trọng quấn cây nhuyễn tiên lại
đưa cho Quá Ngạn Chi. Đoạn
thả mái
chèo xuống nước, quay thuyền
bơi về hướng tây.
Thôi Bách
Kế và Quá Ngạn Chi đưa mắt
nhìn nhau mấy lần. Hai người
cùng
nghĩ bụng:
"nay mình vào hang cọp, chưa biết sống
chết ra sao. Bọn Mộ
Dung thủ đoạn
ác độc vô cùng. Cô bé
này xem ra tuy không phải là hạng
đóng kịch
giả hiệu nhưng biết đâu chẳng
là kế kiêu binh của chúng để
mình
phóng tâm
không đề phòng cho chúng dễ
bề hạ thủ?". Thuyền đi vòng
vèo
vài khúc
quanh thì đến cái hồ lớn
rộng bát ngát, mông mênh những
nước
cùng trời.
Quá Ngạn Chi chột dạ nghĩ thầm:
"cái hồ này có lẽ là Thái
Hồ
đây. Mình
cùng Thôi sư thúc đều không
quen bơi lội, thuyền chỉ lật đi
một
cái thời
mình đành làm mồi cho cá,
còn đâu nữa mà báo cừu
cho sư phụ?".
Thôi Bách
Kế cũng tưởng đến chỗ
đó tự nhủ: "giả tỷ mình
cầm mái chèo
trong tay thì
ả này có muốn lật thuyền cũng
không phải dễ", liền nói:
- Cô nương!
cô để tôi bơi thuyền đỡ
một lúc. Cô cứ chỉ đường
cho tôi là
được.
A Bích cười
nói:
- Trời ơi!
cháu đâu dám thế? Công tử
mà biết ra sẽ trách phạt cháu
về tội
khinh mạn tân
khách.
Thôi Bách
Kế thấy nàng không chịu lại
càng ra dạ ngờ vực bèn xoay
chiều:
- Thật ra không
dám giấu gì cô nương. Xin cô
nương cho chúng tôi nghe
thêm vài
khúc đàn nhuyễn tiên tuyệt
kỹ nữa.
A Bích cười
nói:
- Tiên sinh dạy
quá lời.
Thôi Bách
Kế lấy cây nhuyễn tiên trong tay
Quá Ngạn Chi đưa cho A Bích
miệng bảo
nàng gẩy đàn, tay đưa ra đón
lấy mái chèo.
A Bích nói:
- Tiên sinh cho
tôi mượn cả cái bàn tính
nữa.
Thôi Bách
Kế ngấm ngầm nghĩ bụng: "ả
thu cả khí giới của bọn mình,
hay
là có
âm mưu gì đây?". Nghĩ vậy
thì nghĩ chứ không có cách
nào từ chối
đành cầm
bàn tính đưa cho nàng.
A Bích đặt
bàn tính xuống tấm ván gỗ
đầu thuyền ngay trước mặt.
Tay trái
nàng giữ
lấy chuôi nhuyễn tiên, chân phải
dậm lên một đầu cho cây roi
dựng thẳng
lên, năm ngón tay phải vừa bật
vừa vê đi vuốt lại, cây
nhuyễn
tiên phát
ra tiếng leng keng, tuy không trong trẻo vang dội
bằng tiếng đàn tỳ
bà nhưng
nghe cũng thành nhạc điệu giòn
dã, du dương. Năm ngón tay A
Bích vừa
lần gẩy nhuyễn tiên vừa gẩy
xen lẫn tiếng bàn tính kêu lách
cách
tựa hồ
tiếng sắt tiếng vàng chen nhau nghe càng
thêm thú vị. Giữa lúc đó
đôi chim
én lượn qua đầu thuyền,
bay về hướng tây. Đoàn
Dự nghĩ bụng:
chỗ Mộ
Dung ở gọi là Yến Tử ổ
chắc có nhiều chim én. Bỗng nghe
A Bích
cất tiếng
hát. Đoàn Dự nghe giọng hát
du dương mà lòng những bâng
khuâng như
say như tỉnh. Chàng lẩm bẩm một
mình: "nếu mình suốt đời
ở
tận nơi đèo
heo hút gió thì làm sao nghe được
những khúc tiên nhạc này?
Công tử
Mộ Dung có những ả nữ tỳ
tài tình thế này tất không
phải hạng tầm
thường".
A Bích ca hát một hồi rồi đưa
trả bàn tính cùng nhuyễn tiên
cho
Thôi, Quá
và cười nói:
- Đàn hát
kém quá, chỉ tổ làm trò cười
cho quý khách. Xin Hoắc tiên sinh
quay mũi thuyền
về mé tả, sắp đến nhà
rồi.
Thôi Bách
Kế lái mũi thuyền theo tay nàng
trỏ, đi vào lạch nước đầy
sen
mọc. Nếu
không có A Bích trỏ nẻo thì
không ai ngờ giữa chỗ lá
sen chi chít
lại là
lối thuyền đi. Thôi Bách Kế
chèo một lúc nữa A Bích lại
trỏ tay bảo:
- Đi vào
nẻo trong kia!
Quãng này
trên mặt nước toàn một giống
hồng lăng. Nước biếc lá
xanh,
phong cảnh tuyệt
đẹp. A Bích đưa tay ra hái ít
trái hồng lăng đa cho mọi
người.
Đoàn Dự tuy hai tay đã cử
động được nhưng từ
sau khi bị điểm huyệt
không còn
mảy may khí lực nào nữa,
vỏ trái hồng lăng hơi rắn một
chút mà
chàng không
sao bóc được.
A Bích cười
nói:
- Công tử
không phải là người Giang Nam,
không biết bóc vỏ hồng lăng,
để
cháu bóc
cho.
Nàng bóc
luôn mấy trái đặt vào tay Đoàn
Dự. Nhân cùng thịt trái này
trắng
bóng và
tinh khiết. Đoàn Dự cầm bỏ
vào miệng ăn, vừa ngọt vừa
thơm,
chàng cười
bảo A Bích:
- Mùi vị
của trái thuý hồng lăng này
cũng ngon ngọt như khúc hát của
cô
nương.
A Bích hai má
ửng hồng cười nói:
- Đa tạ công
tử. Đem điệu hát ví với
trái hồng lăng, nay cháu mới
nghe thấy
công tử
nói là một.
Chưa đi hết
lạch hồng lăng, A Bích lại trỏ
tay cho thuyền đi ra ngả có lau
sậy rậm rạp.
Đến khu này cả Cưu Ma Trí cũng
phải lưu tâm nhớ lấy nẻo
đi,
để đề
phòng lúc về biết lối mà
ra. Vì chỉ trông thấy toàn một
mầu lá lau, lá
lăng, lá
giao, lá sen rất khó phân biệt đường
đi. Hơn nữa chỉ một cơn gió
là
các thứ
hoa trên mặt nước này bay qua,
lướt lại, mất hết dấu
vết, dù có nhận
xét kỹ
càng nhưng thoáng cái cucï diện
lại biến đổi khác đi. Cưu
Ma Trí, Thôi
Bách Kế,
Quá Ngạn Chi ba người đều
để ý nhìn nhận phương pháp
tìm nẻo
đi của
A Bích, xem nàng lấy gì làm mục
tiêu nhưng chỉ thấy nàng cứ
điềm
nhiên hái
trái hồng lăng mà chẳng cần
để ý gì đến đường
đi. Thuyền đến
chỗ quanh, chỗ
rẽ là nàng thuận miệng chỉ bảo,
tựa hồ những lối dọc ngang
trên mặt
hồ nàng đã thuộc lòng, không
cần để ý nhìn nhận nữa.
Thuyền đi
ngang rẽ dọc
không biết bao nhiêu chỗ vào khoảng
giờ mùi thì xa xa giữa
rặng liễu
xanh om lộ ra một mái nhà.
A Bích nói:
- Đến nơi
rồi, hôm nay cháu làm nhọc sức
Hoắc tiên sinh bơi thuyền đến
quá nửa
ngày.
Nàng thấy
Đoàn Dự gọi Thôi Bách Kế
là Hoắc tiên sinh cũng tưởng
ông ta
họ Hoắc.
Thôi Bách Kế miệng cười
méo mó đáp:
- Cứ được
ăn hồng lăng, lại được
nghe thanh ca, dù có phải bơi thuyền
hàng
năm cũng
không biết mỏi.
A Bích vỗ
tay cười nói:
- Tiên sinh muốn
ăn hồng lăng cùng nghe hát thì
khó gì? Cứ ở cùng tụi
trên
hồ này
không ra nữa là được.
Thôi Bách
Kế nghe A Bích nói: "cứ ở
trên hồ này, không ra nữa" bất
giác
thất kinh, đưa
mắt nhìn hồi lâu thì chỉ thấy
lúc nào nàng cũng tươi cười
dễ
dãi, tuyệt
không lộ vẻ con người tâm
cơ xảo trá. Tuy nhiên Thôi vẫn
không
vững dạ
chút nào.
A Bích đón
lấy mái chèo, gạt thuyền vào
dưới bóng liễu, đến chỗ
có cành
cây tùng
rủ xuống mặt nước. Nàng
vừa buộc thuyền vào cành cây
xong,
chợt nghe
tiếng một con chim nhỏ hót líu lo,
giọng hót rất trong trẻo và
vang dội. A Bích
cũng bắt chước giọng chim gáy
lên vài tiếng rồi quay lại
bảo mọi
người:
- Xin mời
quý vị lên bờ.
Mọi người
lên bờ trông vào thấy lưa
thưa có bốn năm căn nhà nhỏ,
dựng
trên một
cái đảo nhỏ hay cái bán đảo
thì đúng hơn. Các phòng ốc
tuy bé
nhỏ nhưng
rất sáng sủa, xinh xắn.
Cưu Ma Trí
hỏi:
- Phải chăng
đây là Tham Hợp trang trong yến
tử ổ?
A Bích lắc
đầu đáp:
- Không phải!
chỗ này công tử dựng lên
cho cháu ở, chật hẹp, quê mùa
không đáng
để tiếp khách. Đại sư bảo
vào tế mồ Mộ Dung tiên sinh, tôi
đâu
dám tác
chủ, chẳng qua thỉnh quý vị vào
đây ngồi chờ, để cháu
nói cho A
Châu tỷ
nương hay.
Cưu Ma Trí
có vẻ không bằng lòng, nét
mặt lầm lỳ. Cưu Ma Trí là một
vị
hộ quốc
pháp vưng nước Thổ Phồn,
địa vị cao sang là thế. Phi chỉ
quốc
vương nước
Thổ Phồn đem lòng kính trọng,
mà sang đến triều đình nước
Đại Tống
hay các nước Đại Lý, Liêu
Quốc các vị vua chúa cũng tiếp
đãi lão
vào hàng
thượng khách. Huống chi lão là
bạn cố tri với Mộ Dung tiên sinh,
vì tình
nghĩa mà thân hành đến tế
mộ. Công tử Mộ Dung vắng nhà
không
biết đã
đành còn những người
ở nhà cũng không mời
lão vào đại sảnh, tiếp
đãi long
trọng, lại để cho con thị tỳ đưa
vào nhà riêng, thực là đáng
giận.
Nhưng lão
thấy A Bích luôn miệng tươi cười,
tuyệt không tỏ vẻ khinh mạn
thì nghĩ
rằng: "Nó là con ăn con ở,
có hiểu gì đâu mà mình
đem đặt nó vào
địa vị
người có kiến thức?". Nghĩ
vậy lão trở lại nét mặt
ôn hoà vui tươi.
Thôi Bách
Kế hỏi:
- A Châu tỷ
nương là ai?
A Bích cười
đáp bằng một giọng ngây thơ:
- A Châu tỷ
nương là A Châu tỷ nương! vì
chị A Châu lớn hơn cháu một
tháng nên
cháu kêu bằng A Châu tỷ nương
chứ biết sao được? Ai bảo
chị
lớn hơn
cháu một tháng làm gì? Như tiên
sinh thì cần gì phải gọi A Châu
là
tỷ nương?
nhưng nếu cứ gọi A Châu tỷ
nương thì chị ta cũng khoái lắm.
Nàng nói
liến láu một hồi, giọng nói
trong trẻo như người tấu nhạc
rồi dẫn
bốn người
vào trong nhà. Đoàn Dự nhìn
lên thấy trên cửa căn nhà
nhỏ có
tấm biển
viết hai chữ "cầm vân", nét
chữ rất tốt. A Bích mời
mọi người ngồi
chơi. Một
lát có gã con trai bưng trà và
bánh điểm tâm ra. Đoàn Dự
vừa
cầm chén
trà thì một mùi thơm ngát đưa
lên mũi. Chàng thấy nước
trà màu
xanh lạt, cánh
trà mầu xanh biếc, nhỏ như hạt
châu, trên mặt lá có lông nhỏ
li ti. Thứ
trà này chàng chưa thấy bao giờ.
Chàng vừa nhấp thử một hớp,
miệng đượm
mùi thơm, lưỡi dơm dớp
vị ngọt. Cưu Ma Trí và Thôi Bách
Kế
thấy lá
trà kỳ dị không dám uống.
(Nguyên thứ trà này là đặc
sản ở miền
phụ cận Thái
Hồ, đời sau gọi là trà
Bích La Xuân. Bấy giờ về đời
Bắc Tống,
chưa có
cái tên thanh nhã này.) Cưu Ma Trí
ở khu Tây Vực và cư trú
tại
miền rừng
núi nước Thổ Phồn, chỉ
quen uống trà sắc đen, vị chát,
giờ thấy
thứ trà
sắc xanh biếc, có lông ngờ
là có chất độc.
Bốn thứ
điểm tâm là mứt mai côi,
bánh dẻo phục linh, bánh nướng
Phi Thuỷ
và bột
ngó sen. Thứ nào cũng chế
rất công phu, tựa hồ như làm
để bày cho
đẹp chứ
không phải để ăn. Đoàn
Dự khen nức nở rồi hỏi:
- Những món
điểm tâm coi đẹp thế này
mà bỏ vào miệng ăn đi thì
uổng quá
phải không
cô nương?
A Bích nói:
- Mời công
tử dùng đi! Trong nhà hãy còn.
Đoàn Dự
ăn đến đâu lại trầm trồ
khen ngợi đến đó. Cưu Ma
Trí và Thôi
Bách Kế
cùng Quá Ngạn Chi không dám ăn.
Đoàn Dự thấy vậy trong lòng
sinh nghi tự
hỏi: "Cưu Ma Trí tự xưng là
bạn thân với Mộ Dung tiên sinh
vậy mà
sao chỗ nào lão cũng gia tâm đề
phòng? Nhà Mộ Dung đối đãi
với
lão tựa
hồ không có vẻ trịnh trọng là
nghĩa gì?
Cưu Ma Trí
thật là người rất nhẫn
nại, lão đợi đến nửa
ngày chờ sau khi
Đoàn Dự
đã uống trà và ăn điểm
tâm đủ thứ mới cất
tiếng giục A Bích:
- Bây giờ
xin cô nương đi mời A Châu
cô nương đến cho!
A Bích cười
đáp:
- Trại chị
A Châu ở cách đây xa tới
bốn chín đường thuỷ, bữa
nay đi không
kịp mất
rồi. Mời bốn vị hãy ở
lại đây một đêm, sáng sớm
mai cháu sẽ đưa
quý vị
sang "thính hương tiểu trúc".
Thôi Bách
Kế hỏi:
- Bốn chín
đường thuỷ là nghĩa làm
sao?
A Bích đáp:
- Một chín
là 9 dặm, hai chín là 18 dặm, bốn
chín là 36 dặm.
Nguyên một
giải Giang Nam tính lộ trình từng
9 dặm một.
Cưu Ma Trí
lại nói:
- Giá biết
thế này thì cô nương đưa
chúng tôi đến thẳng Thính
hương tiểu
trúc có
phải hay hơn không?
A Bích cười
đáp:
- Cháu ở
đây một mình không có ai trò
chuyện, buồn chết đi được.
Chẳng
mấy khi có
quý khách đến chơi, thế nào
cũng lưu quý vị ở lại đây
một hôm.
Từ hồi
nào tới giờ Quá Ngạn
Chi chỉ ngồi lầm lỳ không nói
câu gì, đột
nhiên đứng
phắt dậy, quát hỏi:
- Thân nhân
nhà Mộ Dung trú ngụ nơi đâu?
Quá Ngạn Chi này đến Tham
Hợp trang
không phải để ăn cơm, uống
nước cũng không phải để
gẫu
chuyện giải
buồn cho ai đâu nhé. Ta đến
để giết người báo thù,
để đổ máu
cùng gây
án mạng. Quá mỗ đã vào
trong này, cô nương đi bảo chúng
hay,
ta đây
là đệ tử Kha Bách Tuế
phái Tung Sơn đến đòi món
nợ máu của sư
phụ ta.
Nói xong cầm
cây nhuyễn tiên đập mạnh làm
cho chiếc kỷ trà gỗ đàn hương
cùng cái
ghế bằng thứ trúc Tương
Phi gẫy ra từng mảnh.
A Bích không
sợ hãi mà cũng không tức
giận nàng nói:
- Các vị
anh hùng hào kiệt đến chơi với
Mộ Dung công tử mỗi tháng mấy
lần, cũng
đã nhiều vị hùng hùng hổ
hổ như Quá đại gia đây...
Nàng chưa
dứt lời, chợt thấy một
lão già nhỏ bé thấp lủn thủn,
đầu tóc bạc
phơ chống
gậy từ hậu đường đi
ra hỏi:
- A Bích! Ai làm
gì mà ầm lên thế?
Thôi Bách
Kế đang ngồi ghế cũng nhảy
vọt ra, đứng bên Quá Ngạn
Chi
quát hỏi:
- Sư huynh ta là
Kha Bách Tuế bị ai sát hại? Nói
mau!
Đoàn Dự
thấy lão già lưng còng, mặt
mũi dăn deo chừng tám chín chục
tuổi
nói ấp
úng trong cổ họng:
- Kha Bách Tuế,
Kha Bách Tuế ? đã thọ đến
Bách Tuế thì chết là đáng
đời
rồi còn
gì?
Từ lúc
Quá Ngạn Chi đến Tô Châu, tưởng
đến thẳng nhà Mộ Dung chém
giết để
báo thù cho ân sư nào ngờ
gặp phải Cưu Ma Trí đoạt khí
giới, mất
hết nhuệ
khí, đang bực mình thì lại
gặp A Bích, một cô gái rất hiền
hoà khả
ái, bao nhiêu
thù oán không phát tiết vào
đâu được nên giờ
vừa nghe lão già
ăn nói
ỡm ờ, vô lễ liền vung
roi nhằm hậu tâm lão quất xuống.
Chàng sợ
Cưu Ma Trí
ra tay can thiệp nên thấy Cưu ngồi đầu
đằng tây liền giơ roi về
phía đông
quất tới. Nào ngờ Cưu
Ma Trí vươn tay ra, bàn tay lão tựa
hồ có
đá nam
châm, lão ngồi xa mà chụp được
nhuyễn tiên nói:
- Quá đại
hiệp! Chúng ta là khách phương
xa đến, lấy lời lẽ dàn
xếp với
nhau là hơn,
hà tất phải dùng đến võ
lực?
Đoạn lão
cuộn cây nhuyễn tiên lại, trao trả
cho Quá Ngạn Chi. Quá Ngạn
Chi thẹn mặt
đỏ bừng, đón lấy roi
thì tức mình mà không đón
lấy cũng
không tiện.
Sau cùng nghĩ bụng: "mình đến
đây cốt để báo thù
là việc lớn,
hãy tạm
nhẫn nhục trong nhất thời rồi
sẽ liệu sau". Nghĩ vậy chàng đưa
tay
ra đón
lấy cây roi.
Cưu Ma Trí
hỏi lão già:
- Tôn tính
đại danh thí chủ là gì? Là
người thân thích hay bạn hữu
với Mộ
Dung tiên sinh?
Lão già
toét miệng ra cười đáp:
- Già này
là lão bộc của công tử
Mộ Dung, làm gì có tôn tánh
đại danh? Già
nghe nói đại
sư là bạn thân với cố chủ
nhận, vậy người có điều
chi dạy bảo?
Cưu Ma Trí
nói:
- Bần tăng
cần gặp Mộ Dung công tử để
trình bày.
Lão già
đáp:
- Thế thì
không may rồi! Công tử tôi mới
ra đi hôm kia, không chừng một
hai ngày nữa
mới về.
Cưu Ma Trí
lại hỏi:
- Công tử
đi chơi đâu?
Lão già
nghiêng đầu, nghẹo cổ, đưa
ngón tay lên gõ trán rồi nói:
- Tôi tuổi
già lẫn lộn, không nhớ được
rành mạch, dường như công
tử sang
Tây Hạ hay
Liêu Quốc gì đó, mà không
chừng còn qua Thổ Phồn, Đại
Lý
cũng nên.
Cưu Ma Trí
hứ một tiếng, tỏ vẻ không
bằng lòng vì lão già ấm
ớ, chỉ trừ có
Đại Tống
là không còn bốn nước
thuộc hạt lão nói hết. Cưu lại
biết rõ lão
già này
giả bộ ngớ ngẩn liền nói
tiếp:
- Đã vậy
thì bần tăng không thể chờ
công tử được, nhờ
quản gia đưa bần
tăng đến
tế mồ Mộ Dung tiên sinh cho tận tình
cố nhân.
Lão già
khua tay rối lên nói:
- Việc này
tôi không thể tác chủ được
đâu, tôi cũng không phải là
quản gia,
quản giếc
chi cả.
Cu Ma Trí lại
hỏi:
- Vậy ai là
quản gia tôn phủ? Xin mời ra đây
nói chuyện?
Lão già
gật đầu luôn mấy cái nói:
- Được
thế thì được lắm! Tôi
xin mời quản gia đến.
Lão trở
gót người run lẩy bẩy đi
ra, vừa đi vừa càu nhàu:
"Cha này đáo để
thật! Trên
đời chẳng có việc ác
nào là lão từ, lại giả
bộ thầy tu. Mình đã
ngần này
tuổi đầu còn lạ gì trò
hề mà lão toan bịp cả mình
nữa mới đáng
ghét".
Đoàn Dự
nghe lão nói bật lên tiếng cười
khanh khách. A Bích vội quay sang
nói với
Cưu Ma Trí:
- Xin đại
sư phụ đừng giận, Hoàng lão
bá có tính lẩn thẩn lại phải
cái tật là
tự cho mình
thông minh hiểu đời, ai cũng
chê bai.
Thôi Bách
Kế kéo áo Quá Ngạn Chi ra một
chỗ khẽ bảo:
- Cái thằng
trọc tự xưng là bạn với
Mộ Dung tiên sinh kia, sao nhà này
không thấy
ai tiếp đãi y một cách trọng
vọng? Hiền điệt đừng có
xung khắc
với lão,
phải để ý xem sao rồi sẽ liệu.
Quá Ngạn
Chi vâng lời về lại chỗ ngồi.
Nhưng cái ghế dành cho chàng đã
bị
đập gẫy
nát rồi, thành ra phải đứng.
A Bích vội bê cái ghế nàng
đang ngồi
lại, tươi
cười nói:
- Mời Quá
đại gia ngồi đây.
Quá Ngạn
Chi gật đầu, chàng tự nhủ:
"giả tỷ mình vào đây, có
giết hết cả
nhà Mộ
Dung, cũng nên tha cho con nhỏ này".
Từ lúc
lão bộc họ Hoàng ra nhà khách,
Đoàn Dự cảm thấy trong lòng
thắc
mắc, hình
như có điều chi lệch lạc, không
ăn nhập với nhau trong hoàn cảnh
chỗ này
mà chàng nghĩ mãi không ra. Chàng
hết nhìn cái phòng khách nhỏ
bé cùng
đồ cần thiết trong nhà, lại
nhìn mấy bức hoạ treo trên vách,
các
khóm hoa ngoài
sân rồi chàng lại nhìn A Bích,
Cưu Ma Trí, Thôi Bách Kế,
Quá Ngạn
Chi mà không sao tìm ra cái trạng thái
mỗi lúc chàng càng cảm
thấy kỳ
dị hơn. Đoàn Dự còn đang
nghĩ ngợi phân vân, bỗng nghe
thấy
tiếng chân
người rồi từ trong nhà
đi ra một ông già trạc ngoại ngũ
tuần,
người
ốm o, nước da vàng vọt, dưới
cằm có một túm râu ngắn nh
râu dê
nhưng vẻ
mặt tinh lanh mẫn cán, cách phục sức
rõ ra một tên quản gia trong
phủ Mộ Dung.
Gã gầy
nhom quay mặt về phía Cưu Ma Trí cùng
mọi người thi lễ nói:
- Tiểu nhân
là Tôn Tam xin bái kiến liệt vị.
Thưa đại sư phụ! Nay người
có
thịnh ý
đến tế mồ Mộ Dung lão gia
chúng tôi cảm kích vô cùng.
Song công
tử chúng
tôi vắng nhà, không ai đáp
lễ sao cho phải đạo kính khách.
Vậy
chờ công
tử về, tiểu nhân sẽ đem
thịnh ý của đại sư phụ trình
lại công tử là
đủ...
Gã vừa
nói đến đây thì mũi
Đoàn Dự bỗng thoáng ngửi
thấy một mùi hương
thoang thoảng,
chàng chợt nghĩ ra điều gì
tự hỏi: "chẳng lẽ lại thế
?".
Nguyên lúc
nãy người lão bộc họ Hoàng
đến, Đoàn Dự cũng đã
ngửi thấy
một mùi
hương u nhã. Mùi hương này
cũng phảng phất như mùi hương
trong người
Mộc Uyển Thanh tiết ra. Tuy có chỗ
khác nhau thật song lại
vẫn là
mùi hương của thiếu nữ.
Thoạt tiên thì chàng cho là mùi
hương ở
mình A Bích
tiết ra nên không để ý. Thế
rồi sau khi lão bộc ra khỏi nhà
khách, mùi
hương đó tự nhiên đi
đâu mất. Đoàn Dự sở
dĩ thắc mắc mãi là ở
điểm này:
có lý đâu một ông già
tám chín chục tuổi đầu lại
còn tiết ra một
mùi hương
của cô gái mười tám đôi
mư. Bây giờ gã gầy nhom tự
xưng là
Tôn Tam này
vừa vào, chàng lại ngửi
thấy mùi hương ban nãy. Trong bụng
suy nghĩ lung
lắm, bao nhiêu câu hỏi xoay lộn trong
óc: phải chăng phía
sau nhà khách
có thứ kỳ hoa, dị thảo gì
nên mỗi khi người ở nhà
trong đi ra
lại quyện
lấy mùi hương này đi theo, khiến
người ngửi phải mê mẩn
tâm
thần? Nếu
không đúng thế thì cả lão
bộc già nua kia lẫn quản gia gầy nhom
này đều
do một thiếu nữ đóng vai. Mùi
hương tuy làm cho Đoàn Dự
sinh
nghi nhưng nó
rất đạm bạc, nó rất vi tế,
phải là cái mũi đặc biệt
của Đoàn
Dự mới
ngửi thấy còn Cưu Ma Trí, Thôi
Bách Kế và Quá Ngạn Chi thì
không hay biết
gì hết. Sở dĩ Đoàn Dự
có được cái mũi thần
tình như thế là
vì chàng
đã bị giam cầm trong thạch thất
với Mộc Uyển Thanh. Trải qua
một thời
gian cực kỳ nguy hiểm mũi chàng
quen thuộc với mùi hương của
nàng. Có
thể nói là chàng đã khắc
xương ghi dạ cái mùi hương
thiếu nữ tiết
ra. Đối
với cái mũi của chàng, mùi
hương này mạnh hơn cả cái
thơm của gỗ
đàn hương
hay của bách hoa.
Đoàn Dự
tuy nghi Tôn Tam là thiếu nữ hoá
trang, song chàng ngó lui, ngó
tới mà
không sao khám phá ra được.
Gã Tôn Tam cũng rất thần tình,
từ
tướng
mạo cho đến cử chỉ, nói
năng hoàn toàn ra vẻ đàn ông,
không có kẽ
hở mảy
may nào để lộ chân tướng.
Sau chàng chợt nghĩ ra: Gái giả
trai
muốn giỏi
đến đâu thì giỏi cũng
không thể nào giả ra được
cái bìu cổ họng.
Thế rồi
chàng cứ nhè chỗ cổ họng
Tôn Tam để khám phá... Nhưng
gã đã
khôn ngoan để
chùm râu dê rủ xuống che khuất
cái bìu đi, không sao mà
nhìn thấy
được. Chàng liền đứng
dậy, giả vờ xem những chữ
treo trên vách,
rồi lại
gần bên Tôn Tam, ghé mắt trông
vào chỗ bìu cổ, quả cổ phẳng
lỳ
không có
tật nổi lên, rồi thì chàng lại
nhìn xuống thấy bộ ngực gồ
lên. Tuy
chưa chắc
đã là ngực đàn bà
nhưng đã trông nét mặt gầy
đét của gã đàn ông
thì quyết
nhiên ngực không thể đầy
thế được. Đoàn Dự
khám phá ra điều bí
mật này,
chẳng lấy làm thú vị, lẩm
bẩm: vai trò vẫn còn dài, chưa
hết. Thử
xem cô ả
diễn xuất ra sao?
Bỗng thấy
Cưu Ma Trí thở dài nói với
Tôn Tam:
- Bần tăng
gặp quý chủ nhân hồi ở
bên Thiên Trúc có bàn đến
võ nghệ rồi
cùng nhau ý
hợp tâm đầu, kết bạn tâm
giao. Ai ngờ trời chẳng cho thọ,
để
mình kẻ
phàm phu tục tử này sống trộm
ở đời, còn quý chủ
nhân vội về thế
giới cực
lạc. Bần tăng lặn lội từ
nước Thổ Phồn xuống đến
Trung Nguyên
chẳng qua vì
tình bạn hữu thâm trọng, cốt
sao được lạy trước mộ
một lạy
còn có
người đáp lễ hay không
phỏng có chi là quan hệ? Phiền quản
gia dẫn
bần tăng
đến nơi là được.
Tôn Tam chau mày
ra chiều suy nghĩ, gã ngập ngừng:
- Việc này...
việc này...
Cưu Ma Trí
ngắt lời:
- Nếu có
điều chi nan giải, xin nói rõ cho
biết!
Tôn Tam nói:
- Đại sư
phụ là chỗ thâm giao với lão
gia tiểu nhân, hẳn biết rõ tính
người
lúc sanh thời.
Lão gia tiểu nhân ghét cay, ghét
đắng bất luận là ai đến
thăm
người.
Người thường bảo: những
bọn đến đây chẳng là
hạng tới sinh sự báo
thù thì
lại là kẻ đến tầm sư học
nghệ, dưới nữa là phường
đến vay mượn,
hoặc thừa
cơ đục nước buông câu,
nhân lúc lộn xộn chẳng dắt trộm
cừu
cũng khuân
đồ vật. Người còn nói:
đám sư mõ đến lại càng
khó chịu... Chết
rồi... khó
nói quá...
Gã nói
đến đây tựa hồ như
người buột miệng lỡ lời
xúc phạm đến Cưu Ma
Trí, vội
giơ tay lên bịt miệng. Những cử
chỉ càng rõ ra vẻ một thiếu
nữ, mắt
tròn xinh xinh
và con ngươi đen láy. Tuy gã
vội chớp mắt, rủ lông mày
xuống che đi
nhưng làm sao dấu nổi Đoàn Dự
đang lưu tâm dò xét. Chàng
thấy nàng
bại lộ cơ quan, bất giác cả mừng
lẩm bẩm: Gã Tôn Tam phi chỉ
là đàn
bà mà còn là một vị nữ
lang đang độ xuân xanh. Chàng liếc
nhìn A
Bích thì
khoé hạnh cô này đang nở
một nụ cười ranh mãnh. Chàng
không
còn nghi ngờ
gì nữa, nghĩ thầm: "Cả gã
Tôn Tam này cho chí lão già họ
Hoàng lúc
nãy chỉ là một người, chưa
biết chừng chính là A Châu tỷ
nương".
Cu Ma Trí vẫn
giữ một bộ mặt từ bi than rằng:
- Người
đời gian trá thì nhiều mà
thật thà thì ít, Mộ Dung tiên
sinh không
muốn giao kết
với người phàm tục là
phải lắm.
Tôn Tam nói:
- Quả vậy!
Lão gia tiểu nhân có di ngôn rằng
bất luận kẻ nào đến xin viếng
mồ quét
mả, nhất thiết không cho vào. Thậm
chí người còn bảo: mấy
thằng
cha trọc, đa
số không phải vì hảo tâm mà
đến, chúng chỉ có ý muốn
quật
mả ta lên
mà thôi. Trời ơi! Đại sư
phụ đừng phiền, lão gia tiểu
nhân thoá
mạ thằng
trọc là thoá mạ người ta
kia, không phải có ý mạt sát
sư phụ đâu.
Đoàn Dự
nghe nói phải cười thầm: ai đời
lại trước mặt nhà sư mà
thoá mạ
thằng trọc
bao giờ? Rồi chàng lại nghĩ:
lão Cưu Ma Trí này bị người
thoá
mạ đến
thế mà y vẫn bình tĩnh được,
tuyệt không lộ vẻ cáu giận chút
nào.
Lão là
con người đại gian đại ác
phi thờng mới giữ được
thái độ này.
Cưu Ma Trí
nói:
- Quý chủ
nhân di ngôn lại mấy câu đó
rất có lý. Vì hồi sinh thời
ông uy
danh lừng
lẫy khắp thiên hạ, do đó mà
dễ kết mối thâm cừu rất
nhiều. Còn
sống họ
không làm gì được nên
ông chết rồi tất họ cố tình
tìm đến động
chạm vào
di thể ông để trả thù đó
là một điều dĩ nhiên.
|