THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 25
Đại
Luân Minh Vương
Kim Dung
Bảo Định
Đế vừa nói xong, Thiên Tham
hoà thượng cướp lời
vội đáp:
- Nếu theo phương
pháp khôn ngoan của Khô Vinh đại
sư vừa nói thì ngươi
đã tự
hiểu cả rồi, chỉ cần nhớ
thêm phép kiếm nữa là xong.
Bảo Định
Đế ngạc nhiên hỏi lại:
- Vãn bối
chưa hiểu, xin đại sư chỉ giáo
rõ cho!
Thiên Nhân
phương trượng nói:
- Ngươi hãy
ngồi xuống đây nói chuyện.
Bảo Định
Đế ngồi xếp bằng xuống bồ
đoàn. Thiên Nhân tiếp:
- Phép Lục
Mạch Thần Kiếm không phải là
đánh kiếm thật, mà là dùng
chỉ
lực trong
phép Nhất Dương Chỉ biến hoá
thành kiếm khí. Chỉ có thực
chất
chứ không
hình thể rõ rệt cho nên phép
này có thể gọi là vô hình
kiếm. Trên
cổ tay ngươi
có sáu mạch là: Thái Âm, Quyết
Âm, Thiếu Âm, Thái Dương,
Dương Minh,
Thiếu Dương.
Thiên Nhân
vừa nói vừa thò tay vào
phía sau cái bục lấy ra một cuốn
trục
lụa. Vì
lâu ngày quá lụa đã biến
thành mầu vàng. Thiên Tham tiếp
lấy treo
lên vách,
mở cuộn trục ra. Nguyên cuộn trục
này cuốn bức tranh vẽ đồ
hình
một người
đàn ông khỏa thân, chua rõ
các huyệt. Các đường chuyển
vận lưu
thông về
sáu mạch vẽ mầu xanh, đỏ. Bảo
Định Đế là bậc cao thủ
về phép
Nhất Dương
Chỉ, mà kinh Lục Mạch Thần Kiếm
lại lấy Nhất Dương Chỉ
làm căn
bản và cùng một đường
lối võ công của họ Đoàn
nên nhà Vua chỉ
xem qua đã
hiểu ngay.
Thiên Nhân
lại nói:
- Chính Minh! Ngươi
làm chúa tể nước Đại
Lý, việc cải trang chỉ là quyền
nghi nhất thời
nếu để đối phương khám
phá ra thì rất tổn hại đến
uy danh cả
nước,
được bề nọ mất bề
kia, nên chăng tuỳ ý ngươi tự
quyết lấy.
Bảo Định
Đế chắp tay đáp:
- Mạnh dạn
thẳng tiến mới là người
dũng, không suy hơn tính thiệt mới
gọi
là nghĩa.
Thiên Nhân
nói:
- Thế thì
hay lắm! Kinh Lục Mạch Thần Kiếm này
không truyền cho con
em ở ngoài
tục luỵ. Ngươi phải xuống tóc
ta mới truyền thụ cho.
Bảo Định
Đế đứng lên, bước
ra quỳ xuống đất nói:
- Xin đại
sư mở lượng từ bi.
Khô Vinh đại
sư nói:
- Ngươi lại
đây ta là phép thế phát cho.
Bảo Định
Đế rảo bước tới,
quỳ ở phía sau Khô Vinh. Lúc
đó Đoàn Dự cũng
đứng
dưới đất, tinh thần đang
tỉnh táo, nghe mấy vị đối thoại
nghĩ thầm
trong bụng: các
ông bàn đi tính lại, té ra việc
này có liên quan đến bọn Mộ
Dung. Chàng thấy
bá phụ muốn thay đổi trang phục,
mặc áo thầy tu không
khỏi ngấm
ngầm kinh dị.
Bỗng thấy
Khô Vinh đại sư đa tay phải vòng
lại phía sau giữ đầu Bảo
Định
Đế. Bàn
tay này chỉ còn da bọc lấy xương.
Khô Vinh đại sư vẫn không xoay
người
lại, miệng lâm râm đọc kệ,
cất tay lên một cái bao nhiêu tóc
Bảo
Định Đế
rơi xuống đất hết, còn lại
cái đầu trụi nhẵn thín hơn
là lấy dao cạo.
Đoàn Dự
cả kinh còn các vị Thiên Quan, Thiên
Nhân trong lòng bội phục
vô cùng
lẩm bẩm: "Khô Vinh lão thúc tu luyện
khô thuyền công lực đã
cao
thâm đến
mức này, thật là hãn hữu".
Khô Vinh đại
sư dõng dạc tuyên bố:
- Ngươi đã
quy y cửa Phật, đặt cho pháp hiệu
Thiên Trần.
Bảo Định
Đế đáp:
- Tạ ơn sư
phụ đã ban pháp danh cho.
ở nơi
cửa Phật không kể đến vai
vế gia đình ngoài trần tục,
nên Thiên Nhân
phương trượng
đứng vào hàng thúc phụ
của Bảo Định Đế nhưng từ
đây Bảo
Định Đế
đã chịu phép thế phát của
Khô Vinh trở thành sư đệ
Thiên Nhân.
Khô Vinh lại
nói:
- Không chừng
sớm tối hôm nay Minh Luân Đại
Vương sẽ tới. Thiên Nhân!
Ngươi đem
ngay những điều bí mật về
Lục Mạch Thần Kiếm truyền thụ
cho
Thiên Trần.
Thiên Nhân
vâng lời, đưưa Bảo Định
Đế đến trước đồ
hình về kinh mạch treo
trên vách.
Bảo Định Đế chuyên trị
mạch Thiếu Dương, đường
mạch đi ra
sao từ đâu
đến đâu, qua những huyệt
đạo nào Thiên Nhân nhất nhất
chỉ dẫn
tường
tận, đồng thời giảng cho Bảo
Định Đế về cách phóng
kiếm khí do
huyệt "Quan xung"
ở ngón tay vô danh. Bảo Định
Đế y theo lời giảng dạy,
vận động
nội lực từ ngón tay vô danh
phát ra những tiếng vù vù,
chân khí từ
huyệt "quan xung"
phóng ra mãnh liệt.
Khô Vinh đại
sư cả mừng nói:
- Nội lực
của ngươi đã đến mức
phi thường. Kiếm pháp này tuy
biến ảo
khôn lường,
song kiếm khí đã thành hình
thì có thể tuỳ ý người
sử dụng.
Thiên Nhân
nói:
- Sư thúc
luyện "Thương kiếm" ở ngón
tay cái. Tôi luyện "Dương kiếm"
ở
ngón tay trỏ.
Thiên Quan sư huynh luyện "Xung kiếm" ở
ngón tay giữa.
Thiên Trần
sư đệ luyện "Quan xung kiếm" ở
ngón vô danh. Thiên Tướng sư
đệ luyện
"thiếu xung kiếm" ở ngón út.
Thiên Tham sư đệ luyện "Thiếu trạch
kiếm" ở
ngón út bên tay trái. Việc gấp
đến nơi, không thể trì hoãn
được nữa
chúng ta phải
bắt đầu luyện ngay từ bây
giờ.
Nói xong mở
hết sáu bức đồ hình
treo lên bốn bức vách. Trên
đồ hình nào
cũng vẽ
đủ đường ngang, đường
dọc, đường giáp nhau, đường
vòng tròn và
đường
cánh cung. Mỗi vị đều theo đồ
hình mà luyện đờng kiếm
khí của
mình, giơ
ngón tay lên không nào điểm
nào vạch.
Đoàn Dự
đứng đó cảm thấy chân
khí trong người rung động nhộn
lên, so
với trước
đây còn tệ hại hơn, không
thể chịu đựng được
nữa vì nhận thêm
chân khí
của Bảo Định Đế cùng
năm nhà sư chùa Thiên Long tống
vào.
Nhưng chàng
thấy bá phụ cùng các phương
trượng đang định thần, dụng
công luyện
kiếm khí nên không dám lên
tiếng sợ kinh động mọi người.
Chàng chỉ
ngồi trân trân ra đó hồi lâu,
thấy trong người càng thêm bứt
rứt
buồn tẻ,
ngẫu nhiên nhìn lên đồ hình
vẽ kinh mạch treo trên vách. Giữa
lúc
ấy chàng
cảm thấy ngón tay trái giật lên
không ngớt, dường như bên
trong
có con gì
muốn cắn da thịt để chui ra. Chỗ
đầu ngón tay cắn nhôn nhốt
đó
đúng chỗ
trên hình chua rõ là huyệt "hội
tông". Đoàn Dự nghiêng đầu
nhìn
bá phụ
thấy người đang ngưng thần,
chăm chú để mắt dán vào
mạch "thiếu
dương đi
tam tiêu" trên bản đồ, ngón
tay vô danh bên phải đang búng tanh
tách. Đoàn
Dự thuận mắt liền ngó theo đường
vạch đỏ từ huyệt "hội tông"
ra
lạc "tam dương"
qua đường "tứ độc"
nhập vào khu "thiên tỉnh". Chàng đem
tâm theo dõi
kinh mạch thì chân khí trong người
chàng đang tả xung hữu
đột tự
nhiên được tâm ý hướng
dẫn vào đường lối cũng
đi từ cổ tay chuyển
qua cẳng tay,
đi lên khuỷu tay ngược lên
cánh tay cho đến đầu, bả vai.
Chân
khí theo đường
kinh mạch chuyển vận rất có thứ
tự. Toàn thân chàng đang
bứt rứt
khó chịu bỗng nhiên trở nên
khoan khoái. Đoàn Dự định
thần tĩnh trí
đưa đường
chân khí đó vào trong "tam tiêu".
Nhưng dẫn chân khí được
vào
trong "tam tiêu"
phải là tay giỏi nội công thì
chàng lại chưa am hiểu bí
quyết đó.
Chỉ trong thời gian uống cạn chén
trà chàng không chịu nổi được
nữa kêu
lên "ối chao! ối chao!". Bảo Định
Đế chợt nghe tiếng la cấp bách
vội hỏi:
- Dự nhi! Con
làm sao vậy?
Đoàn Dự
đáp:
- Cháu thấy
trong người không biết bao nhiêu
là luồng chân khí đang chạy
nhộn lên
không thể chịu nổi. Cháu đem
tâm theo dõi những vạch đỏ
trên đồ hình của bá phụ,
chân khí cũng cuồn cuộn chảy
về huyệt "đan điền". Trời
ơi có lẽ huyệt này đầy
quá, tắc nghẽn, bụng cháu muốn
nổ tung ra bây giờ.
Có ai qua cầu
mới biết sự phản ứng
về nội công làm cho ruột gan chướng
lên như muốn
nổ tung ra mà người ngoài trông
chẳng thấy trạng thái gì khác
lạ. Bảo
Định Đế là người
có bản lãnh về nội công rất
thâm hậu, biết rõ rằng
chân khí
nhiều đến nỗi bành chướng
huyệt đan điền thì ít ra cũng
phải luyện
nội công
đên 20 năm, đằng này Đoàn
Dự cha biết võ công mà trạng
thái
này xuất
hiện thì chỉ là do tà độc
trong người đến lúc phát
động. Bảo Định
Đế kinh
dị nghĩ thầm: "nếu không dẫn
khí vào chỗ chứa tất sinh tai
vạ
nhưng lại
e đa tà khí vào sâu nội phủ
sau này trục xuất rất là khó
khăn".
Nhà Vua bình
nhật giải quyết mọi vấn đề
nghi nan một cách quả quyết mau
lẹ song đứng
trước mối hoạ phúc một đời
của Đoàn Dự chỉ sai một chút
là
lập tức
nguy hiểm đến tính mạng chàng
nhà Vua không khỏi do dự. Nhìn
mắt chàng
hào quang tán loạn dường sắp
nổi cơn điên không còn đủ
thì giờ
nghĩ tới
nghĩ lui được nữa nhà
Vua quyết định tạm thời cứu
nguy trước mắt
rồi sẽ
liệu bèn bảo Đoàn Dự:
- Dự nhi! Ta
dạy con phép dẫn khí về nơi
trống rỗng.
Vừa nói
vừa truyền thụ phương pháp
này cho chàng. Môn nội công họ
Đoàn
nước
Đại Lý quả tinh diệu hơn đời,
chỉ trong khoảnh khắc chàng đã
vận
chuyển được
chân khí vào các tạng phủ. Chàng
cảm thấy thân thể như thư
thái nhẹ
nhàng tựa hồ như muốn bay bổng
lên không. Bảo Định Đế
thấy
Đoàn Dự
lộ vẻ vui tươi trong lòng vẫn không
khỏi lo ngại chỉ sợ tà khí
từ
đây cố
kết trong nội tạng khó lòng khu trừ
cho tuyệt diệt, phải mang luỵ
suốt đời,
bất giác thở dài sườn
sượt.
Khô Vinh đại
sư thuỷ chung vẫn tĩnh toạ, quay mặt
vào vách song hai người
đối thoại
câu nào cũng lọt vào tai. Đại
sư thấy Bảo Định Đế truyền
thụ xong
phép "đạo
khí quy hư" rồi cất tiếng thở
dài liền lên tiếng bảo nhà
Vua:
- Thiên Trần!
Việc đời nhất thiết đều
có tiền định cả. Cát hung
hoạ phúc
đều do
lòng người mà ra. Ngươi bất
tất quá lo xa cho người, phải
gấp rút
luyện đường
"thiếu dương kiếm" đi!
Bảo Định
Đế vâng lời, trấn định
tâm thần rồi tiếp tục luyện
môn "thiếu
dương kiếm".
Trong thân thể Đoàn Dự chân
khí nhiều quá, đầy rẫy khắp
nơi
không thể
chốc lát thu về hết ngay được
song chàng đã biết phương pháp
thực hành
mỗi lúc một thuần thục. Sáu
nhà sư trong tăng xá ai nấy gia công
luyện kiếm
thâu đêm, bất giác trời
đã rạng đông. Tiếng gà
xao xác gáy dồn.
Đoàn Dự
cảm thấy chân khí trong mình không
còn chạy nhộn lên nữa.
Chàng đứng
dậy cử động chân tay, vẫn
thấy bá phụ cùng năm vị cao
tăng
chuyên tâm
luyện kiếm, chàng không dám mở
cửa ra ngoài, cũng không
dám lên
tiếng, e làm kinh động mọi người.
Không có việc gì cũng buồn,
chàng lại
trông lên đồ hình của bá
phụ, hết nhìn nhận về các đường
kinh
mạch lại
nhìn nhận đến lời giảng
giải về kiếm pháp "thiếu dương".
Trong
lúc đang
nhìn nhận suy nghĩ, bỗng nhiên cảm
thấy một luồng chân khí từ
trong huyệt "đan
điền" tuôn đến đầu
bả vai, qua các huyệt "nao hội", "tiểu
lạc", "thanh lãnh
uyển" nhập vào huyệt "quan xung" ở
ngón vô danh. Đầu
ngón tay chàng
chướng lên rất khó chịu.
Chàng liền nghĩ: âu là ta dẫn
khí
trở về
huyệt "đan điền". Chàng tư tưởng
như vậy quả nhiên luồng chân khí
lại qua những
đường huyệt trở về
"đan điền". Thế là Đoàn
Dự đã vô tình học
được
phương pháp căn bản về nội
công vào hạng thượng thừa.
Nhưng đó
mới chỉ
là cách cho chân khí chạy đi
chạy về, chàng đã lấy làm
vui sướng
vô cùng.
Trong mầu ni đường có ba nhà
sư thì Thiên Tớng đại sư
là người
vui vẻ dễ
thân cận hơn hết. Đoàn Dự
liền nghiêng đầu về nhà sư
này để xem
đồ hình
từ huyệt "thiếu âm" đến
"tâm kinh" của ông. Đồ hình
này bắt nguồn
từ huyệt
"cực toàn" dưới nách, qua
huyệt "thanh linh", "thiếu hải" ở khu
vực
khuỷu tay rồi
do các huyệt "linh đạo", "thông lý",
"thần môn", "thiếu phủ"
ăn thông
vào huyệt "tiểu xung" trên ngón tay
út. Đoàn Dự lại đem hết
tinh
thần nghĩ
vào đó, quả nhiên một luồng
chân khí lại do những kinh mạch
này
đi ra theo đúng
ý nghĩ của mình. Rồi chàng
lần lượt nhìn những đồ
hình
khác, cũng
theo phương pháp đó, bất tất
phải nói hết cho rườm lời.
Mất nửa
ngày nhìn
nhận chàng đã thông suốt được
cả kinh mạch trên sáu bức đồ
hình. Chàng
cảm thấy tinh thần sảng khoái, quên
cả đói khát. Sau không
biết làm
gì nữa để giết thời
giờ Đoàn xem đến lời
giảng dạy về kiếm pháp
trên sáu
bức đồ hình về sáu thế
kiếm "thiếu thương", "thiếu dương",
"trung
xung", "quan xung", "thiếu
xung" và "thiếu trạch". Nhưng chàng
chỉ thấy
những vạch
đen, vạch đỏ đi ngang đi dọc
hoặc giao tiếp nhau trông rối mắt
khó lòng
nhận ra được. Chàng lẩm bẩm:
"những đường kiếm rắc
rối thế này
thì làm
sao mà nhớ được?". Rồi
chàng tự hỏi: "hai chú tiểu sao
mãi không
thấy mang cơm
chay đến cho mình? Mình phải ra ngoài
tìm chút gì ăn cho
đỡ
đói". Ngay lúc ấy, mũi chàng
ngửi thấy mùi gỗ đàn
hương thơm ngát,
tiếp theo có
tiếng hát kệ bằng Phạn ngữ
từ xa vẳng lại nghe không rõ.
Khô
Vinh đại
sư buồn rầu nói:
- Hay quá! Hay
quá Đại Luân Minh Vương đã
tới. Các ngươi luyện kiếm
pháp kết
quả ra sao?
Thiên Tham đáp:
- Tuy chưa được
thuần thục nhưng cũng đủ để
nghênh địch.
Khô Vinh lại
bảo Thiên Nhân:
- Ta không đi
được! Ngươi ra mời Đại
Luân Minh Vương vào mầu ni đường
nói chuyện.
Thiên Nhân
vâng lời đi ra. Thiên Quan lấy
năm chiếc chiếu trải ra đầu
đằng
đông rồi
chính mình ngồi vào chiếu đầu.
Thiên Tướng ngồi chiếu thứ
hai,
Bảo Định
Đế ngồi chiếu thứ tư,
chiếu thứ ba dành cho Thiên Nhân
còn
Thiên Tham ngồi
chiếu thứ năm.
Đoàn Dự
không được ngồi đứng
ở phía sau Bảo Định Đế.
Khô Vinh và bọn
Thiên Quan biết
cường địch đã đến
còn ôn lại lời giảng giải
trên đồ hình lần
cuối cùng
rồi mới cuốn lại để trước
mặt Khô Vinh.
Bảo Định
Đế bảo Đoàn Dự:
- Dự nhi! Lát
nữa sẽ xảy ra cuộc ác chiến,
trong nhà kiếm khí phóng vùn
vụt ra khắp
mọi chỗ, rất là nguy hiểm. Ta không
thể phân tâm ra bảo vệ con
đợc
vậy con ra ngoài kia nghe!
Đoàn Dự
rất đỗi băn khoăn nghĩ bụng:
"nghe miệng lưỡi các người
thì lão
Đại Luân
Minh Vương lợi hại lắm đấy
mà bá phụ mình bữa nay mới
luyện
"quan xung kiếm
pháp" lần đầu, chưa chắc đã
địch được lão, nếu
có chỗ sơ
hở biết
làm thế nào bây giờ?". Nghĩ
vậy chàng đáp:
- Bá bá
ơi! Cháu... cháu phải ở luôn
bên cạnh bá bá. Mình bá bá
ở lại đấu
kiếm với
họ, cháu chẳng... yên tâm chút
nào.
Mấy tiếng
sau chàng vừa nói vừa nghẹn
ngào. Bảo Định Đế cũng
động lòng
nghĩ thầm:
"Thật là một đứa bé hiếu
thảo". Khô Vinh đại sư gọi:
- Dự nhi! Cháu
lại ngồi trước mặt ta đây!
dù Đại Luân Minh Vương có
lợi
hại đến
đâu cũng không động đến
chân lông cháu được.
Lời đại
sư tuy lạnh lùng song ngụ ý cao ngạo.
Đoàn Dự vâng lời, khom lưng
đến ngồi
trước mặt Khô Vinh nhưng không
dám ngoảnh lại nhìn đại sư,
chỉ
quay mặt vào
vách. Khô Vinh cao hơn chàng nhiều,
che lấp hẳn chàng đi.
Bảo Định
Đế vừa cảm kích lại vừa
yên dạ. Nhà Vua nghĩ đại sư
vừa lấy
phép khô
thuyền để xuống tóc cho mình,
một môn thần công đó cũng
đủ
ngạo đời
rồi. Còn việc bảo vệ Đoàn
Dự tất đại sư thừa sức.
Trong mầu ni đường
yên lặng như tờ. Lát sau nghe tiếng
Thiên Nhân
phương trượng
mời:
- Minh Vương
pháp giá đã quang lâm, xin mời
người vào mầu ni đường
đàm thoại.
Rồi thấy
tiếng người khác đáp:
- Xin phương
trượng đi trước cho tôi
theo gót.
Đoàn Dự
nghe giọng nói của khách lạ có
vẻ ôn hòa, khiêm nhường
đúng lễ,
tuyệt không
phải là hạng cường hung ác
bá. Chàng lại nghe tiếng chân bước
có tới
hàng chục người. Đoạn thấy
Thiên Nhân mở cửa nói:
- Xin rước
Minh Vương vào cho!
Đại Luân
Minh Vương đáp:
- Xin lỗi.
Minh Vương
bước vào trong nhà, hướng
vào phía Khô Vinh chắp tay thi lễ
nói:
- Kẻ vãn
bối bên nước Thổ Phồn
là Cưu Ma Trí xin tham kiến tiền bối
đại
s.
Đoạn đọc
luôn bốn câu kệ:
Hữu thường
mà hoá vô thường
Bốn bề
song thụ một trường khô vinh
Đông, Tây,
Nam, Bắc phân minh
Đã hình
như giả lại hình như không.
Đoàn Dự
lẩm bẩm: "thế ra vị Đại Luân
Minh Vương này tên gọi Cưu Ma
Trí, nhng không
biết bốn câu kệ ông vừa
đọc có ngụ ý gì?".
Khô Vinh đại
sư không khỏi giật mình nghĩ thầm:
"Đại Luân Minh Vương
thật là
người học vấn uyên thâm,
tinh tế, tiếng đồn quả đã
không ngoa. Lão
vừa mới
gặp mặt lần đầu đã khám
phá ra lai lịch phép luyện khô thuyền
của
mình".
Nguyên trước
đức Thích Ca mầu ni tịch giữa
những cặp sa la tại thành Câu
Thi Na, bốn mặt
Đông, Tây, Nam, Bắc đều có
hai cây này mà mặt nào cũng
cây tươi
cây héo nên gọi là "Tứ
khô tứ vinh". Trong kinh Phật giải thích
rằng: hai cây
ở mặt đông tượng trưng
cho thuyết "thường dã vô thường",
hai
cây ở
phương tây tượng trưng cho thuyết
"ngã dữ vô ngã", hai cây phương
nam tượng
trưng cho thuyết "lạc dữ vô lạc",
hai cây ở phương bắc tượng
trưng cho thuyết
"tĩnh dữ vô tĩnh". Những
cây tươi tốt rườm rà
tượng trưng
cho sự có
thật là "hữu thường", "hữu
ngã", "hữu lạc", "hữu tĩnh".
Trái lại
những cây
khô héo tàn tạ tượng trưng
cho sự không có gì hết: vô
thường, vô
ngã, vô
lạc, vô tĩnh. Đức Phật Nh
Lai (Thích Ca) tịch giữa tám cây
tượng
trưng cho tám
thuyết trên, hay nói một cách khác
là phi khô, phi vinh, phi
giả, phi không.
Khô Vinh đại
sư trên mời năm trời tu
luyện khô thuyền mới tu được
đến
cõi "bán
khô, bán vinh" chứ chưa được
đến cõi cao hơn là "phi khô
phi
vinh" hay "diệc
khô diệc vinh" nên đại sư vừa
nghe mấy câu kệ của Đại
Luân Minh Vương
không khỏi giật mình đáp:
- Minh Vương
từ xa đến đây, lão tăng
không kịp đi đón xin mở
lượng từ bi.
Đại Luân
Minh Vương Cưu Ma Trí nói:
- Uy danh chùa
Thiên Long tiểu tăng bấy lâu ngưỡng
mộ. Hôm nay được
diện yết
tôn nghiêm hoan hỉ vô cùng.
Thiên Nhân
phương trượng mời ngồi,
Cưu Ma Trí tạ ơn rồi mới
ngồi xuống.
Đoàn Dự
chưa trông rõ tướng mạo Đại
Luân Minh Vương liền nép mình
vào
cạnh Khô
Vinh, ngấp nghé trông ra thì thấy
một vị sư mặc áo thầy chùa
sắc
vàng, chưa
tới 50 tuổi, áo vải giày cỏ,
cũng chẳng có gì khác người
thường,vẻ mặt tươi hơn
hớn dường như minh châu bảo
ngọc tự có ánh hào
quang. Chàng
mới thấy mặt đã sinh lòng
kính cẩn, muốn được thân
cận.
Chàng lại
nhìn qua khe cánh cửa ra ngoài thấy
8, 9 gã hán tử đứng đó,
cao
có thấp
có, mặt mũi tên nào cũng đanh
ác, đáng ghê, không ra tuồng
nhân
sĩ ở
Trung Nguyên. Đó là những người
tuỳ tùng mà Minh Vương đem từ
Trung Thổ đến.
Cưu Ma Trí
chắp tay nói:
- Tuy đức
Phật có dạy rằng: không sống,
không chết, không nhơ, không
sạch song tiểu
tăng tư chất ngu muội chưa suốt
lẽ yêu, ghét, sống, chết.
Tiểu tăng
có ông bạn tâm giao người
đất Cô Tô, nước Đại
Tống ở họ Mộ
Dung. Năm trước
tiểu tăng hạnh ngộ ông bạn này
tại nước Thiên Trúc rồi
cùng ông
đàm luận võ nghệ. Mộ Dung tiên
sinh biết hết các môn võ khắp
thiên hạ
một cách rất tinh tường. Trong
mấy ngày, tiểu tăng được
tiên sinh
chỉ giáo
cho những điểm nghi ngờ nên
được hiểu hết. Không ngờ
bậc đại
anh hùng chẳng
được sống lâu, vội về
cực lạc. Tiểu tăng có điều
thỉnh
nguyện khó
nghe, xin các vị trưởng lão mở
lượng từ bi cho.
Thiên Nhân
đã biết ý Đại Luân Minh
Vương liền đáp:
- Minh Vương
cùng Mộ Dung tiên sinh có mối nhân
duyên kết bạn một hồi.
Nay duyên phận
đã hết thì thôi hà tất
phải miễn cưỡng môi cầu
điều này
điều khác.
Mộ Dung tiên sinh đã về thế
giới cực lạc, lễ Phật nơi
toà sen, còn
để ý
đâu đến cái nghề võ
ở nhân gian nữa? Minh Vương
làm việc này chẳng
hoá ra rắn
vẽ thêm chân ?
Cưu Ma Trí
nói:
- Lời phương
trượng chỉ điểm cho quả là
đúng lý, song tiểu tăng vốn
tính cố
chấp mê
si, đã đóng cửa 40 ngày
mà không sao quên được người
tri kỷ.
Năm đó
Mộ Dung tiên sinh có đề cập đến
kiếm pháp khắp thiên hạ, xác
nhận môn
Lục Mạch Thần Kiếm tại chùa Thiên
Long đây đứng vào bậc
nhất. Tiên
sinh ân hận chưa được xem qua,
đó là một điều tiên
sinh suốt đời
hối tiếc.
Thiên Nhân
nói:
- Tệ tự
ở tận biên cương hẻo lánh,
được Mộ Dung tiên sinh có
lòng quá yêu,
thực là
một vinh dự cho chúng tôi. Nhưng không
hiểu tại sao ngay ngày đó
tiên sinh không
thân hành tới đây mượn
về xem?
Cưu Ma Trí
thở dài não ruột, thay đổi
sắc mặt, lặng yên hồi lâu rồi
lại nói:
- Mộ Dung tiên
sinh thực ra đã biết cuốn kinh
này là vật chí bảo để
chấn
chùa, dù
có đến mượn chắc cũng
không được. Người còn
nói rằng họ Đoàn
nước
Đại Lý tuy ngôi chúa tể một
nước mà không quên nghĩa
khí thuở còn
là khách
giang hồ, có lòng thương dân,
gia ơn cho khắp cả trăm họ, tiên
sinh không tiện
đến lấy trộm hay cưỡng
đoạt.
Thiên Nhân
tạ rằng:
- Đa tạ thịnh
tình Mộ Dung tiên sinh quá khen. Mộ Dung
đã để họ Đoàn
nước
Đại Lý tôi lọt vào mắt
xanh, Minh Vương lại là tri kỷ với
tiên sinh
tưởng
cũng nên nghĩ tới ý chí
tiên sinh còn để lại.
Cưu Ma Trí
nói:
- Chỉ vì
hồi đó tiểu tăng đã
trót khoe với tiên sinh rằng tiểu
tăng là quốc sư
nước
Thổ Phồn, đối với họ
Đoàn nước Đại Lý
chưa từng quen biết, nếu tiên
sinh không tiện
thân hành đến lấy thì để
tiểu tăng lấy cho. Tiểu răng nghĩ
rằng bậc
đại trượng phu đã nói
một lời dù sống chết cũng
không thay đổi.
Tiểu tăng
đã hứa nhất quyết không
dám sai lời.
Dứt lời
lão khẽ vỗ tay ba cái, hai hán
tử khiêng một cái rương bằng
gỗ đàn
hương vào,
đặt dưới đất. Cưu Ma
Trí phất tay áo một cái, nắp
rương tự
nhiên mở
ra, bên trong có một cái hộp bằng
vàng. Cưu Ma Trí cúi xuống,
lấy hộp
lên cầm tay.
Thiên Nhân
nghĩ thầm: bọn ta đã là người
thoát vòng tục luỵ còn tham lam
làm chi những
đồ kỳ trân, dị bảo. Hơn
nữa họ Đoàn làm Vua một
nước dư
trăm rưởi
năm nay, súc tích thiếu gì kim ngân
châu báu.
Nhưng Cưu Ma
Trí mở nắp hộp ra chỉ có
ba quyển sách cũ. Lão tiện tay mở
ra. Thiên Nhân
liếc mắt trông qua thấy trong sách
có hình vẽ và có chữ
nghĩa đều
do tay người viết và họa bằng
mực, bằng son. Cưu Ma Trí nhìn ba
cuốn sách
thốt nhiên rớt nước mắt
ướt cả tràng áo, nét
mặt sầu thảm vô
cùng. Bọn
Thiên Nhân đều lấy làm lạ.
Khô Vinh đại
sư nói:
- Minh Vương
lúc nào cũng nghĩ đến người
bạn thuở xa, trần duyên chưa
sạch, há
không thẹn với hai chữ "cao tăng"
?
Đại Luân
Minh Vương cúi đầu nói:
- Đại sư
là bậc đại trí tuệ, đại
thần thông tiểu tăng bì thế
nào được? Ba
quyển võ
công quyết yếu này do chính tay Mộ
Dung tiên sinh soạn ra, diễn
thuật những
điều chính yếu trong 72 môn tuyệt
kỹ phái Thiếu Lâm, có cả
phép luyện,
phép phá nữa.
Mọi người
nghe nói cả kinh nghĩ thầm: "72 môn
tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm
lẫy lừng
khắp thiên hạ. Người ta đồn
rằng từ khi phái Thiếu Lâm
sáng lập,
ngoại trừ
một vị cao tăng về đời
Tống kiêm được 56 môn còn
chưa có người
thứ hai
nào luyện tới 36 môn. Thế mà
bảo Mộ Dung tiên sinh quán được
cả
72 môn đã
khó tin rồi, huống hồ lại biết
cả cách phá giải nữa thì
không ai
dám nghĩ
đến.
Cưu Ma Trí
tiếp:
- Mộ Dung tiên
sinh tặng ba cuốn kỳ thư này cho tiểu
tăng, tiểu tăng nghiên
cứu nhiều
điều rất bổ ích. Nay xin đưa
sang đây đổi lấy cuốn Lục
mạch
thần kiếm
kinh. Các vị đại sư có thể
tất cho thì tiểu tăng mới vẹn
được lời
ước
hẹn năm xa và lòng cảm kích
nói sao cho xiết?
Thiên Nhân
phương trượng không nói gì
nghĩ thầm: "nếu quả nhiên ba cuốn
sách này
ghi chép đầy đủ 72 môn tuyệt
kỹ phái Thiếu Lâm thì chùa
Thiên
Long này sau
khi học được ba cuốn đó
võ công không chỉ ngang hàng với
phái Thiếu
Lâm mà thôi lại còn có phần
cao hơn một bậc vì bao nhiêu môn
sở trường
của Thiếu Lâm mình đã biết
hết mà phái Thiếu Lâm chưa
biết gì
về những
môn tuyệt kỹ của chùa này.
Cưu Ma Trí
nói:
- Khi quý tự
ban cho cuốn Bảo kinh đó vẫn để
bản sao lại không thiệt hại gì
mà tiểu
tăng được các đại sư
gia ơn cho tất phải khắc xương
để dạ. Đó là
một điều
lợi. Tiểu tăng bái lãnh bảo
kinh xin niêm phong lại lập tức, quyết
không xem trộm,
thân hành đưa đến phần
hoá ngay trước mồ Mộ Dung tiên
sinh. Tuyệt kỹ
của quý tự không tiết lộ
cho ai biết cả, đó là hai điều
lợi. Các
vị đại
sư ở quý tự đây võ
học uyên thâm, không cần đi đâu
mà nơi khác đem
đá đến
cho có thể mài giũa nên ngọc
quý. 72 môn tuyệt kỹ phái Thiếu
Lâm
có nhiều
bí quyết độc đáo, tỷ
như phép "niêm hoa chỉ", "vô tướng
kiếp chỉ",
"Đa la diệp
chỉ". Ba chỉ pháp này cùng phép
Nhất Dương Chỉ của quý tự
đây có
thể bồi bổ cho nhau. Đó là
ba điều lợi.
Cưu Ma Trí
nói thao thao một hồi nghe rất hợp
tình hợp lý. Bảo Định Đế
cùng Đoàn
Dự lúc đầu xem bức thư
vàng lời lẽ có vẻ ép
buộc chùa Thiên
Long để
lấy bảo kinh một cách vô lý
nhưng bây giờ nghe Cưu Ma Trí trình
bày như
vậy tựa hồ chùa Thiên Long được
lợi rất nhiều mà không thua
thiệt
gì. Hơn
nữa lão làm như thân hành
kính dâng hậu lễ vậy. Thiên Tướng
đại
sư là người
hiền hoà dễ dãi nhất, bổn
tính ưa giúp được việc
cho người trong
tâm có
ý ưng thuận. Song nói về tôn
ti thì trên còn có sư thúc về
địa vị phải
nhường
phương trượng nên không dám
nói ra.
Cưu Ma Trí
tiếp:
- Tiểu tăng
hãy còn ít tuổi và kiến thức
hẹp hòi, lời nói chưa đủ
thủ tín cùng
các vị
đại sư vậy xin đem ba môn chỉ
pháp cùng nằm trong 72 môn tuyệt kỹ
của phái
Thiếu Lâm ra phô trương trước
mặt quý vị, chẳng quản múa
rìu
qua mắt thợ.
Lão liền
đứng dậy rào đón:
- Đây chỉ
là nhân lúc tiểu tăng cao hứng,
công phu luyện tập thô sơ nên còn
nhiều chỗ
kém cỏi, xin quý vị chỉ điểm
cho. Tiểu tăng xin bắt đầu bằng
môn "niêm
hoa chỉ".
Nói xong lão
đưa ngón cái và ngón trỏ
bên tay phải ra, nhẹ nhàng để
gần
vào nhau, tựa
hồ đang cầm một đoá hoa tươi.
Nét mặt mỉm cười lão lại
đưa
những ngón
tay trái ra búng. Trong mầu ni đường
trừ Đoàn Dự ra, còn toàn
là những
tay nghiên cứu chỉ pháp đến
mức tinh vi, vừa thấy lối chỉ
pháp của
Cưu Ma Trí
cực kỳ nhẹ nhàng êm dịu.
Mỗi lần tay trái búng ra tựa
hồ gảy
những hạt
sương đọng trên hoa đi, lại
tỏ vẻ không dám đụng mạnh,
sợ cánh
hoa rụng xuống.
Miệng vẫn ung dung mỉm cười. Nguyên
kinh Phật có chép
rằng: Đức
Thích ca mầu ni thuyết pháp trên
núi Linh Sơn, tay cầm bông hoa
Ba la sắc vàng,
mọi người nghe không ai nói gì,
chỉ có Gia Diệp phá lên
cười,
Đức Thích Ca biết ngay Gia Diệp
đã lĩnh hội tâm pháp của
mình liền
nói:
- Ta có các
môn "chính nhãn pháp tàng", "nát
bàn pháp môn", "thục tướng
vô tướng",
"vi diệu pháp môn" không chép vào
sách để ta truyền cho Gia
Diệp.
Tâm truyền
là một điều trọng đại của
Thuyền Tông. Phái Thiếu Lâm lại
ở
trong phạm vi Thuyền
Tông nên môn "niêm hoa chỉ" này
được nghiên cứu
rất tinh vi.
Lúc Cưu Ma
Trí búng ngón tay chưa thấy gì
kỳ lạ. Lão búng liền một lúc
mấy chục
cái rồi giơ tay áo lên thổi
thì thấy những mảnh vải tròn,
chỉ lớn
bằng những
con cờ bay phất phới, tay áo
lộ ra đến mấy chục chỗ thủng.
Thì
ra lúc lão
búng ngón tay lão đã dùng
"niêm hoa chỉ" điểm vào tay áo
cho
thủng rồi.
Nhưng trước chưa trông thấy
gì, tay áo tựa như vẫn nguyên
lành
lúc thổi
vào những mảnh áo mới
bay tung ra.
Bọn Thiên
Nhân, Thiên Quan, Bảo Định Đế
thấy vậy đều lấy làm kinh
dị
nghĩ thầm:
"kể ra thì bọn mình mang Nhất Dương
Chỉ điểm cho thủng áo
cũng được,
chẳng có gì là khó. Song đưa
ngón tay ra một cách mềm mại,
nét mặt
vẫn vui vẻ tươi cười mà
vận động nội lực mạnh đến
thế thì mình
không làm
được. Rút lại môn Nhất
Dương Chỉ cùng môn "niêm hoa chỉ"
hoàn toàn
khác biệt ở chỗ phát ra kình
lực theo cách âm nhu mà môn Nhất
Dương Chỉ
lại theo phép dương cương.
Cu Ma Trí tươi
cười nói:
- Tiểu tăng
đã phô bày môn "niêm hoa chỉ"
một cách vụng về, còn kém
Huyền Độ
đại sư chùa Thiếu Lâm xa lắm.
Đến môn "Đa la diệp chỉ" tiểu
tăng sắp
trình bày đây, chắc lại còn
sai lạc hơn nữa.
Dứt lời
Cưu Ma Trí đủng đỉnh đi vòng
quanh cái rương gỗ đặt dưới
đất,
mười
đầu ngón tay điểm ra trông
tựa như lá rụng hoa bay rồi những
miếng
rương gỗ
tung lên không ngớt. Chớp mắt
những mãnh gỗ đó đã
nát vụn, rơi
xuống thành
một đống mùn cưa. Bảo Định
Đế cùng các nhà sư coi việc
làm
cho cái rương
gỗ vụn ra chẳng có chi kỳ dị
nhưng cả những đai sắt, bản
lề
đồng mà
chỉ lực cũng đánh gãy nát
được thì không khỏi kinh hãi.
Cưu Ma Trí
cười nói:
- Tiểu tăng
sử dụng môn "Đa la diệp chỉ"
này cũng là miễn cưỡng,
công phu
luyện tập
hãy còn thiển cạn.
Lão vừa
nói vừa thủ tay vào trong áo
thế mà thốt nhiên đống gỗ
nát vụn tự
nhiên bay lên
loạn xạ, tựa hồ có cây vô
hình khuấy lên vậy. Nét mặt Cưu
Ma Trí vẫn
ôn hoà tươi cười, cái
áo thầy chùa rộng thùng thình
vẫn không
lay động
mảy may. Thần tình ở chỗ chỉ
lực bên trong tay áo phóng ngầm
ra,
tuyệt không
lộ hình tích chút nào.
Thiên Tướng
không nhịn được bất giác
trầm trồ:
- Môn "vô
tướng kiếp chỉ" hay quá! Quả
nhiên danh bất hư truyền! Bần tăng
xin bội phục!
Cưu Ma Trí
lễ phép nói:
- Đại sư
quá khen đấy chứ! Đống
gỗ nát vụn lên còn là hữu
tướng. Luyện
được
đến chỗ vô hình, vô tướng
thì phải hết đời.
Thiên Tướng
đại sư hỏi:
- Trong cuốn kỳ
thư của Mộ Dung tiên sinh để lại
có nói đến phép phá môn
"vô tướng
kiếp chỉ" không?
Cưu Ma Trí
đáp:
- Có có!
Phép phá "vô tướng kiếp
chỉ" cũng có tên giống như pháp
danh của
đại sư.
Thiên Tương
trầm ngâm hồi lâu rồi tiếp:
- ừ phải!
Đem thiên tướng để phá
vô tướng thật là cao tuyệt.
Ba nhà sư
Thiên Nhân, Thiên Quan, Thiên Tham nhìn
Cưu Ma Trí diễn
xong ba môn chỉ
lực đã thấy chột dạ, biết
rằng ba cuốn kỳ thư đúng là
chép
72 môn tuyệt
kỹ của phái Thiếu Lâm đã
có ý muốn đem bản sao các
đồ
hình về
Lục mạch thần kiếm đánh đổi
nhưng còn trù trừ chưa dám
nói ra.
Thiên Nhân
nói:
- Bạch sư thúc!
Minh Vương từ xa tới đây
với tầm lòng thành thực!
ý kiến
sư thúc
thế nào chỉ thị cho!
Khô Vinh đại
sư hỏi:
- Thiên Nhân!
Chúng ta luyện công tập nghị để
làm gì?
Thiên Nhân
phương trượng nghe sư thúc hỏi
vặn không khỏi ngạc nhiên
đáp:
- Cốt để
mở rộng phép mầu, bảo vệ
quốc gia.
Khô Vinh lại
hỏi:
- Khi gặp hạng
quỷ quái ở đâu đến,
đạo pháp mình hãy còn thiển
cận không
đủ điểm
hoá được chúng cần phải
tru diệt cho yên thì dùng cách gì?
Thiên Nhân
đáp:
- Nếu bất
đắc dĩ phải ra tay, sẽ dùng
Nhất Dương Chỉ.
Khô Vinh đại
sư hỏi:
- Ngươi luyện
Nhất Dương Chỉ đã đến
bậc nào?
Thiên Nhân
toát mồ hôi trán đáp:
- Đệ tử
ngu muội lại thiếu chuyên cần nên
mới luyện đến bậc thứ
năm.
Khô Vinh đại
sư lại hỏi:
- Theo ý kiến
ngươi thì môn Nhất Dương Chỉ
của họ Đoàn nước Đại
Lý so
với các
môn "niêm hoa chỉ", "Đa la diệp chỉ",
"Vô tướng kiếp chỉ" của
phái
Thiếu Lâm
ai hơn ai kém?
Thiên Nhân
đáp:
- Về chỉ
pháp không có hơn kém, chỉ có
công phu rèn luyện là có kẻ
cao
người
thấp mà thôi.
Khô Vinh đại
sư nói:
- Đúng
đó. Giả tỷ mà môn Nhất
Dương Chỉ của chúng ta luyện được
đến
chỗ tuyệt
đỉnh thì sẽ ra sao?
Thiên Nhân
đáp:
- Phép mầu
uyên thâm như biển cả khôn lường.
Đệ tử đâu dám nói
càn?
Khô Vinh hỏi:
- Tỷ dụ như
ngươi thọ đến trăm tuổi,
sẽ luyện được tới bậc
nào?
Mồ hôi
trán nhỏ giọt, Thiên Nhân đáp:
- Đệ tử
cũng không biết nữa.
Khô Vinh hỏi:
- Liệu có
luyện được đến chỗ
tuyệt đỉnh không?
Thiên Nhân
đáp:
- Quyết không
thể được.
Thấy Khô
Vinh không nói gì nữa Thiên Nhân
tiếp:
- Lời sư
thúc dạy chí phải. Môn Nhất
Dương Chỉ của mình còn chưưa
luyện
được
đến nơi đến chốn thì
nói chi đến kỳ kinh võ học
của ai nữa? Minh
Vương lặn
lội cực nhọc đến đây
tệ tự xin thết tiệc chay tẩy trần.
Vừa nghe
lời cự tuyệt Đại Luân
Minh Vương thở dài sườn
sượt nói:
- Chỉ vì
tiểu tăng trót lỡ miệng một
câu không thì nay Mộ Dung tiên sinh đã
qua đời,
việc cầu kinh Lục mạch thần kiếm
có được hay không cũng chẳng
quan hệ gì.
Hôm nay tiểu tăng hỏi câu này
khí vô lễ:
- Môn Lục
mạch thần kiếm quả có tinh diệu
đến như lời Mộ Dung tiên
sinh
thì e rằng
quý tự đây không ai luyện
nổi. Giả tỷ có người luyện
thành rồi thì
chắc nó
chả tinh diệu như Mộ Dung tiên sinh đã
tưởng tượng.
Khô Vinh nói:
- Lão tăng
cũng có một nghi vấn mong Minh Vương
chỉ giáo.
Cưu Ma Trí
nói:
- Không dám!
Khô Vinh đại
sư hỏi:
- Bản tự
có pho kinh Lục mạch thần kiếm, chính
con cháu họ Đoàn còn ở
trong vòng tục
luỵ cũng không thể biết, không
hiểu Mộ Dung tiên sinh đã
nghe ai mách?
Cưu Ma Trí
đáp:
- Mộ Dung tiên
sinh không nói rõ. Song tiểu tăng
đoán ra dường như tiên
sinh có mối
quan hệ với thái tử Diên
Khánh họ Đoàn.
Thiên Nhân
gật gù hỏi:
- Thái tử
Diên Khánh có biết Mộ Dung tiên
sinh?
Cưu Ma Trí
đáp:
- Mộ Dung tiên
sinh có chỉ điểm cho thái tử
bảy, tám thế võ nhưng không
chịu thu nạp
y làm đồ đệ.
Khô Vinh đại
sư hỏi:
- Tại sao vậy?
Cưu Ma Trí
đáp:
- Đó là
chuyện riêng của tiên sinh, tiểu tăng
không tiện hỏi kỹ.
ý tứ
câu nói của Cưu Ma Trí là xin
Khô Vinh đừng hỏi nữa. Khô
Vinh nói:
- Thái tử
Diên Khánh là con em họ Đoàn,
chùa Thiên Long cùng trưởng tộc
có trách
nhiệm về hành động của y.
Cưu Ma Trí
lạnh lùng đáp:
- Chính thế!
Thiên Nhân
phương trượng nói:
- Trên mười
năm trời sư thúc bần tăng
không tiếp kiến ai. Chỉ có Minh
Vương là
bậc cao tăng hiện nay nên người
mới phá lệ đó ra tiếp
kiến chốc
lát mà
thôi. Nào xin mời Minh Vương.
Nói xong đứng
dậy tỏ ý tiễn chân.
Cưu Ma Trí
nói:
- Tôi tưởng
kinh Lục mạch thần kiếm chỉ có
hư danh, quý tự hà tất phải
coi
quan trọng như
thế làm gì? để đến
nỗi thương tổn đến hoà
khí giữa Thiên
Long tự và
Đại Luân tự, lại tổn thương
cả đến mối bang giao giữa hai
nước
Đại Lý
cùng Thổ Phồn.
Thiên Nhân
nói:
- Minh Vương
muốn nói thế nào thì nói
chúng tôi cũng không thuận giao
kinh đâu.
Chẳng lẽ vì thế mà Đại
Lý cùng Thổ Phồn sẽ xảy cuộc
binh đao?
Bảo Định
Đế thường phái trọng binh
đồn trú tại miền biên giới
tây bắc để
đề phòng
nước Thổ Phồn đem quân
vào xâm lấn giờ nghe Cưu Ma Trí
nói
vậy nhà
Vua càng để ý theo dõi câu
chuyện.
Cưu Ma Trí
nói:
- Quốc Vương
nước Thổ Phồn chúng tôi
lâu nay vẫn hâm mộ nhân vật vùng
phong thổ nước
Đại Lý, từng đòi mở
cuộc săn bắn với Hoàng Thượng
bên
quý phái
song tiểu tăng e rằng làm như vậy
tổn thương nhân mạng quá
nhiều, trái
với đức hiếu sinh của
Thượng Đế nên tiểu tăng
phải ráng sức
ngăn cản
mới thôi.
Bọn Thiên
Nhân nghe qua đã biết lời lão
có ngụ ý uy hiếp. Cưu Ma Trí
là
quốc sư
nước Thổ Phồn. Nước
Thổ Phồn cũng như nước Đại
Lý, từ quốc
vương trở
xuống ai ai cùng sùng tín đạo
Phật. Cưu Ma Trí được quốc
vương
Thổ Phồn
rất tín nhiệm, hoà hay chiến phần
lớn là do lão quyết định.
Nếu vì
một pho kinh mà
để xảy ra chinh chiến, nhân dân
hai nước phải lầm than thì
khí quá.
Nhưng nếu để người ngoài
vào hăm doạ một câu đã
phải hai tay
mang bảo kinh
đem dâng cho họ thì còn ra thể
thống gì nữa?
Khô Vinh đại
sư nói:
- Nếu Minh Vương
cần pho kinh của tệ tự quá, không
có không được thì
bọn lão
tăng đâu dám tiếc? Còn chuyện
Minh Vương bảo đem pho sách có
72 môn tuyệt
kỹ của phái Thiếu Lâm đánh
đổi, tệ tự không dám bái
lãnh.
Lão tăng
tuy đã mấy chục năm quay mặt
vào vách song cũng biết những
chuyện tuyệt
kỹ chùa Đại Luân hãy còn
hơn 72 môn của phái Thiếu Lâm
nhiều.
Cưu Ma Trí
chắp tay hỏi:
- Theo ý đại
sư, phải chăng đại sư muốn
cho tiểu tăng phải lòi cái kém
cỏi
ra?
Khô Vinh đại
sư nói:
- Minh Vương
vừa bảo pho kinh Lục mạch thần
kiếm của tệ tự chỉ có hư
danh không được
việc gì. Bọn lão tăng xin đem
môn Lục mạch thần kiếm
thỉnh giáo
Minh Vương vài thế oanh liệt. Nếu
quả đúng như lời Minh
Vương: Lục
mạch thần kiếm chỉ có hư danh
không được việc gì thì
chẳng
có chi đáng
quý thật, Minh Vương cứ việc
lấy đi.
Cưu Ma Trí
nghe Khô Vinh nói vậy không khỏi chột
dạ. Trước lão cùng Mộ
Dung tiên sinh
đàm luận về môn "Lục mạch
thần kiếm" đã biết kiếm
pháp
này cực
cao, chỉ sợ sức người
không luyện được đến
nơi đến chốn. Bây giờ
nghe miệng lưỡi
Khô Vinh thì môn này không những
ông ta biết sử dụng
mà thôi,
dường như chư tăng ở đây
cũng đã rèn luyện. Chùa Thiên
Long nổi
danh hơn trăm
năm nay mình không thể coi thường
họ được. Vẻ mặt Cưu
Ma Trí lúc
này càng nghiêm cẩn hơn, lão
nghiêng mình nói:
- Chư vị cao
tăng cho biết tuyệt nghệ về môn
thần kiếm này để tiểu tăng
được
mở rộng nhãn giới thì may
mắn nào bằng?
Thiên Nhân
phương trượng nói:
- Minh Vương
dùng thứ khí giới gì?
Xin lấy ra!
Cưu Ma Trí
vỗ tay một cái, một gã hán
tử cao lớn từ ngoài cửa
bước vào.
Sau khi nghe Cưu
Ma Trí nói tiếng Phiên mấy câu
gã gật đầu ra mở rương
lấy một
nắm hương đưa cho lão rồi
lại ra ngoài cửa chờ.
Ai cũng lấy
làm kỳ. Nắm hương kia đụng
đến là gãy, chẳng lẽ lại
dùng làm
khí giới
được ? Bỗng thấy Cưu Ma Trí
tay trái cầm một nén hương, tay
phải quờ
xuống đống gỗ rương gãy
vụn bóp nhỏ ra để cắm hương.
Lão tiếp
tục làm
như vậy, cắm đủ sáu nén
hương bày hàng chữ nhất,
nén nọ cách nén
kia vào khoảng
một xích. Cưu Ma Trí ngồi xếp
bằng sau những nén hương
cách xa chừng
năm xích. Bỗng nhiên lão xát
hai bàn tay vào đầu nén hương
vài cái
rồi buông ra. Đầu nén hương
cháy sáng lên, mọi người
tưởng lão
thắp hơng
bằng cách đó, ai nấy cả kinh
ghê cho nội lực của lão đã
đến
mức không
ai có thể tưởng tượng
được.
Thiên Nhân
phương trượng cùng Bảo Định
Đế thoảng ngửi thấy mùi
lưu
hoàng đoán
biết là đầu sáu nén hương
đều có hoả dược và
không phải Cưu
Ma Trí dùng
nội lực để thắp nén hương
mà dùng nội lực xát hoả
dược cho
đều nén
hương bật cháy lên. Tuy nhiên làm
được thế cũng gớm
lắm rồi. Phe
Bảo Định
Đế không ai làm nổi.
Sáu nén
hương cháy rồi sáu luồng hơi
bốc thẳng lên như sáu sợi
dây trắng.Ma Trí vòng tay như kiểu
ôm quả cầu tròn, vận động
nội lực cho sáu
ngọn khói
hương quanh lại chỗ chư tăng. Sáu
luồng khói hương lướt tới
trước
mặt sáu vị: Khô Vinh, Thiên Quan, Thiên
Tướng, Thiên Nhân, Bảo
Định Đế
và Thiên Tham mỗi vị một luồng
riêng biệt. Sáu chưởng lúc
này
gọi là
Hoả diệm đao tuy bay lơ lửng trên
không chẳng ai nắm được
nhưng
vô hình
trung nó có thể giết người
một cách ghê gớm. Lúc này
Cưu Ma Trí
còn lưu
tâm dè dặt vào việc mưuợn
bảo kinh nên không có ý giết
người. Lão
dở trò
này một là để diễu võ
dương oai ra điều ta đây chỉ
có uy hiếp người
chứ không
sợ ai, hai là để tỏ ra lão
lấy đạo từ bi làm trọng,
chỉ cần so sánh
võ nghệ
mà thôi.
|