THIÊN
LONG BÁT BỘ - HỒI 17
Một
nhân vật quái dị
Kim Dung
Chung Vạn Cừu
đánh không trúng than thầm: "Thôi
chết rồi". Người y trợt
qua Cao Thăng
Thái, chỉ sai dịch nửa phân. Kể
ra thì võ công Chung Vạn
Cừu chưa
chắc đã kém Cao Thăng Thái
nhưng vì thất cơ một chút thành
ra
ngực bụng
trống trải để bên địch
muốn làm gì thì làm. May mà
Cao Thăng
Thái không
thèm hạ thủ. Chung Vạn Cừu vận
nội công đứng được
xuống
đất, đi
theo Tần Hồng Miên và Chung phu nhân.
Lúc đó hai người đã
vượt
tường
ra ngoài rồi.
Cao Thăng Thái
đứng thẳng người trên
mặt tường, quay ra xá khách, hai
tay
áo rộng
lùng thùng bay phất phới coi rất
ung dung. Ông vừa xá vừa nói:
- Tôi không
thể tiễn chân xa được, xin
quý vị miễn thứ.
Chung Vạn Cừu
đằng hắng một tiếng, suýt
nữa tụt quần, y đưa tay ra nắm
vội lại được,
không thì dơ quá. Bấy giờ
y mới biết dây lưng đứt
mất rồi. Thì
ra lúc đánh
sểnh, người y trườn qua phía
trên Cao Thăng Thái, đã bị
Cao
đưa ngón
tay lên bấm đứt dây lưng.
ấy là Cao Thăng Thái không muốn
tuyệt tình,
nếu ông giơ một ngón tay lên
chẹn huyệt "Đan điền" thì Chung
Vạn Cừu
đã biến thành cái xác không
hồn, lăn quay xuống đất.
Lại nói
đến Hương dược xoa Mộc
Uyển Thanh, bàng hoàng vừa ra khỏi
phủ
Trấn Nam Vương
thì gặp Thư Bạch Phụng cùng Chung
Vạn Cừu. Hai người
cùng lên
tiếng gọi nhưng nàng lờ đi
không đáp, cứ cắm đầu
chạy một mạch.
Nàng cũng
không biết là mình chạy đi đâu.
Đoái trông dặm rừng bát
ngát,
không có
chỗ nào tạm trú nghỉ chân. Nàng
cứ chạy hoài, không biết đã
qua
bao nhiêu quãng
rừng núi hoang vu. Chạy cho đến
lúc trời rạng đông thì
người
nàng mệt nhoài, hai chân bủn rủn,
không chịu được nữa,
đành phải
dừng bước,
tựa vào gốc cây than rằng: "Ta
chết quách đi cho rồi!". Trong
lòng nàng
chứa chất bao nhiêu nỗi oán
hờn mà chẳng biết trút lên
đầu ai
cho phải. Nàng
tự hỏi:
- Oán Đoàn
lang chăng?
- Không được!
Chàng có phụ bạc gì ta đâu?
Vì chàng là anh em cùng cha
khác mẹ
với ta, nên nỗi trai duyên lỡ
kiếp.
- Oán sư
phụ ta chăng?
- Vô lý
người là mẹ ruột ta, mười
mấy năm trời phải chịu bao nhiêu
nỗi cay
đắng để
nuôi nấng cho ta trưởng thành.
Ơn đức trời biển cha đền,
đâu dám
oán hận?
- Đến
Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần
thì lại là phụ thân ta. Dù người
đối với
mẫu thân ta có điều oán hối
nhưng biết đâu bên trong còn
bao nhiêu
nỗi uẩn
khúc mà mình chưa hiểu? Người
đối với ta vẻ mặt ôn hoà,
đầy lòng
từ ái,
hỏi ta muốn điều gì sẽ hết
sức làm cho được như
nguyện để đền bù
mười
mấy năm qua đã không săn sóc
tới. Thế nhưng cái chí nguyện
của ta
là đặng
kết hôn cùng Đoàn lang thì
người không thể làm được.
Mẫu thân ta
không được
cùng người vui đạo, xướng
tuỳ chẳng qua chỉ vì mình Thư
Bạch
Phụng mà
ra nên sai ta giết Thư Bạch Phụng. Nàng
suy bụng ta ra bụng
người:
"giả tỷ ta cùng Đoàn lang vẹn
mối lương duyên, hồ dễ ta chịu
để yên
cho một người
đàn bà thứ hai nào đến
tranh cướp hạnh phúc của đời
ta?
Huống chi bà
đã bỏ nhà đi tu thì hẳn
trong lòng cũng uất hận phụ thân
ghê
gớm và
bà cũng đau khổ vô cùng rồi.
Ta phóng hai mũi tên, làm cho đứa
con cưng độc
nhất của bà bị trọng thương,
thế mà bà không thù oán
ta thì bà
đâu có
phải là người độc ác?".
Nàng nghĩ
nhiều lắm, càng nghĩ càng tê
tái lòng rồi tự nhủ: "Ta phải
quên
hẳn Đoàn
Dự, từ đây không nghĩ
gì đến chàng nữa". Nói
vậy thì nói chứ đâu
phải chuyện
dễ dàng? Muốn quên chàng trong giây
phút cũng không xong.
Mỗi lúc
tưởng đến hình ảnh khôi
ngô tuấn tú của Đoàn lang
lòng nàng lại
đau nhói
lên như bị đánh một quyền
vào giữa ngực. Sau nàng tìm
lời giải
thích rồi
tự an ủi: "Thôi từ đây
ta nhìn nhận chàng là người
anh ruột rất thân
ái là
xong. Trước ta tủi phận mồ côi,
không cha không mẹ, nay được
đủ cả
cha lẫn mẹ
lại thêm người anh cả rất
tử tế, đời ta đâu
đến nỗi cô đơn, vậy
mà ta còn
mua não chuốc sầu thì thật là
một đứa điên rồ". Khốn
nỗi con
người
đã mắc lưới tình, tơ
tình tuy mỏng manh mà càng rút càng
chặt. Khi ở
trên núi
Vô Lượng ròng rã bảy đêm
ngày, nàng trông ngóng Đoàn
Dự đã
mòn con mắt,
phương trời đăm đăm,
rễ tình đã ăn sâu vào
tâm khảm, không
thể nào
nhổ lên được nữa.
Mộc Uyển
Thanh đang nghĩ ngợi liên miên
thì vẳng bên tai bì bòm sóng
vỗ,
ầm ầm
nước reo, nàng càng đi vào
chỗ tuyệt vọng, chí muốn tự
tử đã bắt
đầu nẩy
nở. Nàng đi về phía có
tiếng sóng vỗ nước chảy
phát ra, quanh hết
một trái
núi thì sông Lan Thương mông mênh
hiện ra trước mắt. Nàng dừng
chân lẩm
bẩm: "Ta chỉ nhẩy xuống đây một
cái là hết mọi điều phiền
não".
Nàng bèn
men theo sườn núi xuống tới
bờ sông.
Mặt trời
vừa lên, ánh triều dương
chiếu xuống mặt sông rực rỡ
như vạn con
kim xà đang
nhảy múa, cảnh sắc trước
mặt cực kỳ tráng lệ. Nghĩ
đến
chuyện nhảy
xuống sông nàng cảm thấy tiêng
tiếc không còn được nhìn
bức
phong tuyệt mỹ
của tạo vật. Nàng đang đứng
trơ như phỗng, làn sóng tư
tưởng
nổi lên cuồn cuộn, thì mắt nàng
chợt trông thấy một người
ngồi trên
phiến đá
cách đó chừng vài chục
trượng. Người này ngồi
như pho tượng,
không nhúc
nhích, mình mặc áo bào màu
xanh thẳm lẫn với mầu đá
núi. Vì
thế mà
người đó đã đến
ngồi từ bao giờ nàng không
hay biết. Mộc Uyển
Thanh nhìn hồi
lâu, trong bụng kinh nghi tự hỏi: "Dường
như là một cái tử
thi". Từng
giết người như ngoé nên
đối với xác chết, nàng
chẳng chút ghê
rợn. Tính
hiếu kỳ thúc đẩy nàng lại
gần xem thì ra một ông già, râu
chùng
đến giốn,
sợi nào cũng đen nhánh, mắt
mở thao láo, chăm chú nhìn dòng
nước.
Mộc Uyển Thanh buột miệng nói: "A không
phải xác chết". Nàng
nhìn một
lúc nữa, thấy cả con người
lão vẫn trơ trơ, mắt vẫn đờ
ra như
không có
hào quang, rõ ràng không phải người
sống. Nàng lại tự hỏi: "Hay
đúng là
xác chết?". Nhìn lại thấy mắt
tử thi dường như có chút
tinh thần, sắc
mặt còn
hơi tươi. Nàng để tay lên
mũi không rõ ra người đã
tắt thở mà cũng
không thấy
hơi thở. Nàng lại sờ vào
mặt vào cổ, thấy lúc lạnh lúc
ấm, để tay
lên ngực
thấy trái tim như ngừng đập.
Mộc Uyển Thanh rất lấy làm kỳ
lẩm
bẩm: "Con người
này thật là quái dị, bảo y
là xác chết thì dường
như y còn
sống, bảo
y là người sống thì lại
hình như là kẻ chết rồi.
Bất thình
lình có tiếng người nói:
- Ta vẫn sống
đây mà.
Mộc Uyển
Thanh giật mình quay đầu nhìn lại
phía sau thì chẳng thấy ai.
Bãi sông
bát ngát toàn sỏi đá, không
có chỗ nào ẩn núp được.
Nàng vẫn
chăm chú
nhìn người kỳ quái đó
cho đến lúc có tiếng vọng
lên, cũng chẳng
thấy y há
miệng, nhếch môi. Nàng lớn tiếng
hỏi:
- Kẻ nào
dám cả gan trêu trọc cô nương
đó? Mi không sống yên lành
được
đâu.
Nàng vừa
nói vừa bước giật lùi
lại, quay lưng ra phía dòng sông, đảo
mắt
nhìn ba mặt
bỗng nghe có tiếng đáp:
- Thế mà
ta vẫn yên lành đấy!
Mộc Uyển
Thanh càng kinh ngạc vì chẳng thấy
bóng một ai, ngoài con
người
quái dị ngồi đó. Nhưng người
này mồm miệng ngậm chặt mà sao
vẫn
có tiếng
người? Nàng quát hỏi:
- Ai nói đó?
Vẫn có
tiếng đáp lại:
- Mi nói đó
chứ ai?
Nàng tức
quá, hỏi gay gắt:
- Nhưng kẻ
nói với ta là người nào?
Có tiếng
đáp:
- Chả có
người nào nói với mi hết.
Nàng xoay mình
rất nhanh mà trông tuyệt không thấy
bóng người nào cả thì
biết chính
là lão mặc áo bào xanh ngồi
đó tác quái, liền mạnh dạn
tiến lại,
vừa lấy
tay sờ môi lão vừa hỏi:
- Phải chăng
ngươi đã nói với ta vừa
rồi?
Vẫn có
tiếng đáp:
- Không phải!
Mộc Uyển
Thanh tay vẫn sờ miệng lão mà
chẳng thấy máy môi chi hết,
nàng lại
hỏi:
- Rõ ràng
có tiếng đáp lời ta, sao lại
bảo không có?
Tiếng nói
đó đáp:
- Ta không phải
là người, ta cũng chẳng phải
là ta. Trên đời này không
có ta
nữa.
Bấy giờ
thì quả Mộc Uyển Thanh sợ lắm,
mình sởn gai ốc. Nàng tự
nghĩ:
"chẳng lẽ
ma quỷ trêu mình?", rồi nàng hỏi:
- Mi... mi là
ma quỷ phải không?
Đáp:
- Mi đã
không muốn sống nữa thì rồi
sẽ thành ma quỷ, sao còn sợ
ma quỷ?
Mộc Uyển
Thanh làm già:
- Ai bảo mi ta
sợ quỷ? Này ta bảo: đến
trời đất ta còn không sợ
nữa là...
Đáp:
- Thế mà
mi đang sợ một điều.
Mộc Uyển
Thanh hỏi:
- Hừ! Ta
đây còn sợ cái gì bao
giờ?
Đáp:
- Mi đang sợ...
lang quân mi biến thành ca ca mi.
Câu đó
chẳng khác gì nhát búa bổ
xuống đầu nàng. Hai chân mềm
nhũn,
nàng ngồi
bệt xuống đất, miệng há hốc
ra lẩm bẩm:
- Mi là quỷ,
rõ ràng có quỷ!
Đáp:
- Ta có phép
biến, biến ca ca mi không phải là
anh mi nữa mà biến thành ra
chồng mi.
Mộc Uyển
Thanh run run nói:
- Mi... mi đừng
bịp ta nữa! Đó là việc
trời định, biến thế nào
thì biến... chứ
biến làm
sao đợc anh ruột ra chồng?
Đáp:
- Lão trời
đáng đánh chết, hay sinh chuyện
rắc rối. Ta không lý gì đến
lão
nữa. Ta
thực có phép mầu, làm cho anh
mi biến thành ra chồng mi được,
mi
có muốn
thế không?
Mộc Uyển
Thanh đang lúc tuyệt vọng, lòng lạnh
nh tro tàn, nghe nói câu
đó chẳng
khác chi trời ban chiếu chỉ. Dù
nàng vẫn bán tín bán nghi nhng
cũng đáp
ngay:
- Tôi mong được
như vậy! Tôi mong như vậy lắm!
Có tiếng
hỏi:
- Ta làm được
việc đó cho mi thì mi lấy gì
tạ ơn ta?
Mộc Uyển
Thanh buồn rầu đáp:
- Tôi biết
lấy gì tạ ông? Vì tôi chẳng
có chi hết.
Có tiếng
nói tiếp:
- Hiện giờ
mi chưa có, rồi sau mi sẽ có chứ!
Mộc Uyển
Thanh nói:
- Ông muốn
cái gì tôi lấy cái đó
tạ ơn ông.
Hỏi:
- Nhưng đến
lúc bấy giờ mi lại chối thì
sao?
Mộc Uyển
Thanh đáp:
- Tôi quyết
không nói hai lời.
Nàng nghĩ
rằng: "trên đời có cái
gì quý cho bằng Đoàn lang trở
nên chồng
mình? Dù
mình có làm đến Hoàng đế
là cùng thì tiếc gì cái ngôi
Hoàng đế,
đem nhường
cho con người quái dị này cũng
được chứ sao?".
Hỏi:
- Lời đàn
bà con gái ai mà tin được?
Bây giờ mi nói thế rồi sau
mi cãi thì
sao?
Mộc Uyển
Thanh nói:
- Ông đã
thần thông ghê gớm như vậy
nếu tôi cãi lời thì ông
vặn cổ tôi đi,
tôi chẳng
oán thán gì hết.
Có tiếng
nói:
- Nếu sau này
ta đòi điều gì mà mi không
chịu, ta không giết mi đâu nhưng
ta sẽ giết
chồng mi đó.
Mộc Uyển
Thanh nghĩ thầm: "Ta quyết một lòng
chung thuỷ cùng Đoàn
lang, không còn
cải giá lấy ai. Nếu quả Đoàn
lang biến hoá không phải là
anh ta nữa
mà là chồng ta thì bất luận
sự vật gì ta cũng bỏ được
hết, không
có lý
nào ta còn chối cãi nữa",
bèn trả lời:
- Tôi xin y lời
ông.
Có tiếng
nói:
- Đến
lúc đó ta cấm mi không được
năn nỉ khóc lóc nhé. Ta đây
đệ nhất
ghét là
đàn bà con gái khóc nhè
đó.
Mộc Uyển
Thanh nói:
- Có bao giờ
tôi chịu van xin năn nỉ ai? Nhưng ông
là ai cho tôi coi mặt
được
không?
Đáp:
- Mi nhìn ta mãi
từ nãy đến giờ chưa
đủ hay sao?
Tiếng nói
cứ đều đều một làn,
không lên cao, xuống thấp, hay tiếng
to tiếng
nhỏ.
Mộc Uyển
Thanh hỏi:
- Ông... ông
là... người ngồi đó sao?
Đáp:
- Ta cũng không
biết ta có phải là ta nữa không?
Sau có tiếng
thở dài thườn thượt
tỏ ra trong lòng có điều chi đau
đớn, uất ức
vô cùng.
Mộc Uyển Thanh không ngờ gì nữa,
đúng là ông già mặc áo
xanh
ngồi ngay trước
mặt liền hỏi:
- Ông nói
mà sao tôi không thấy môi mấp
máy?
Đáp:
- Ta là người
chết rồi mà còn sống, môi
mép cứng đờ không cử
động được
nữa, tiếng
nói chỉ ở trong bụng phát ra mà
thôi.
Mộc Uyển
Thanh hãy còn tính trẻ con, nàng
vừa mới thảm sầu là thế,
giờ
thất lão
bảo lão nói không mở miệng,
máy môi nàng lấy làm thú
vị hỏi:
- Nói bằng
bụng được kỳ quá ông
nhỉ!
Ông già
áo xanh nói:
- Mi sờ
vào bụng ta xem thì biết.
Mộc Uyển
Thanh đa tay sờ vào bụng lão,
lão hỏi:
- Ta đang nói
đây, mi có thấy bụng ta chuyển
động không?
Mộc Uyển
Thanh thấy da bụng lão động đậy
dới lòng bàn tay nàng thì
buồn cười
hỏi:
- Ha ha thật là
cổ quái.
Nguyên lão
áo xanh luyện được môn Phúc
ngữ thuật. Đời nay ta xem bọn
làm trò
quỷ thuật thì môn này rất thường,
nhưng thời bấy giờ đã
biết và
luyện được
đến mức độ tinh vi nh lão
áo xanh thì trừ phi tay tuyệt giỏi
nội
công không
ai học được.
Mộc Uyển
Thanh đi vòng quanh người lão
xem kỹ rồi hỏi:
- Mồm miệng
ông không cử động được
thì ông ăn uống bằng cách
nào?
Lão đưa
hai tay ra, một tay vạch môi trên, một
tay giữ môi dưới cho miệng
há ra, đoạn
để hai ngón tay trái chống lên,
còn tay phải cầm không rõ
miếng gì
đút vào miệng, nghiến đánh
"ráu" một tiếng rồi nuốt xuống.
Lão
nói:
- Ta ăn nh vậy
đó.
Mộc Uyển
Thanh phàn nàn:
- Ôi thực
đáng buồn cho ông, ăn nh vậy
thì còn biết mùi vị gì nữa?
Bây giờ
nàng mới hiểu rằng: da thịt
trong người lão cứng đờ
nên mắt không
nhắm, miệng
không mở được. Thất
tình không biến đổi sắc mặt
nên lúc mới
trông tưởng
lão là cái xác chết.
Tuy nàng cũng
sợ lão đấy nhng nghĩ rằng
chính mình lão còn có bao nhiêu
nỗi cay đắng,
lão giải quyết cho lão cha xong còn
nói chi đến chuyện phản
lại lề
luật tạo hoá để biến anh ruột
thành chồng mình được? Những
câu lão
vừa nói
chẳng qua là chuyện bâng quơ mà
thôi. Nàng lưỡng lự một
lúc rồi
nói:
- Tôi muốn
đi thôi.
Lão áo
xanh hỏi:
- Đi đâu?
Mộc Uyển
Thanh đáp:
- Tôi cũng
chẳng biết nữa.
Lão áo
xanh nói:
- Ta sắp biến
Đoàn Dự thành chồng mi, mi còn
đi đâu?
Mộc Uyển
Thanh cời lạt rồi cứ đi
về phía tây. Đợc vài bớc
nàng dừng lại
hỏi:
- Tôi với
ông cha từng quen biết, sao ông lại
hiểu rõ tâm sự tôi? Ông...
ông
đã biết
Đoàn lang cha?
Lão đáp:
- Tâm sự
mi tự nhiên ta biết hết, quay lại
đây mau!
Lão giơ
tay trái lên một cái thì lạ thay:
Mộc Uyển Thanh cảm thấy có một
sức mạnh
vô hình đẩy nàng trở lại,
không tài nào kháng cự được.
Nàng
chệch choạc
bước mấy bước đến
trước mặt lão. Mộc Uyển Thanh
cả kinh,
thất sắc,
giọng nói run run:
- Môn võ
của ông có phải là... "Cầm
long túng hạc" không?
Lão đáp:
- Con nhãi này
thế mà kiến văn quảng bác
đấy. Đây không phải là
môn
"Cầm long túng
hạc", chỉ có công dụng của nó
là giống như môn "Cầm long
túng hạc"
mà thôi, còn phép luyện thì
khác hẳn.
Mộc Uyển
Thanh hỏi:
- Thế môn
này gọi là gì?
Lão đáp:
- Gọi là
"Quy khứ lai hề"
Mộc Uyển
Thanh cời nói:
- Cái tên
"Quy khứ lai hề" nghe còn hay hơn là
"Cầm long túng hạc". Giả tỷ
Đoàn lang
nghe thấy, chàng... chàng...
Nghĩ tới
Đoàn Dự, lòng nàng lại
quặn đau, không buồn nói nữa.
Lão áo
xanh rút trong
mình ra hai cây gậy trúc đen lánh
nói:
- Ta đi thôi.
Tay trái lão
cầm gậy trúc chỉ vào phiến
đá, tung mình lên một cái đã
ra xa
đến hơn
một trượng. Mộc Uyển Thanh thấy
hai chân lão vọt lên trên không
mà vẫn
giữ nguyên kiểu người ngồi.
Cây gậy nhỏ bé như vậy, một
đầu chỏ
xuống đất
mà lão ngồi trên có vẻ rất
vững chắc. Nàng lấy làm kỳ
nói:
- Cặp giò
của ông...
Lão ngắt
lời:
- Hai chân ta
bị tàn phế đã lâu. Thôi
nhé! Từ giờ trở đi
ta cấm ngươi không
được
hỏi câu gì nữa nghe không?
Mộc Uyển
Thanh nói:
- Tôi còn
hỏi nữa.
Nàng vừa
nói thì đột nhiên thấy chân
mình mềm nhũn, té lăn xuống
đất. Vì
tay áo lão
phất ra một luồng gió cực mạnh,
gậy trúc nơi tay phải lão điểm
vào đầu
gối nàng, còn một gậy đánh
xuống. Hai chân bị đau đến
xương tuỷ
nàng lại
la to lên một tiếng "ối".
Lão áo
xanh lại cầm gậy trúc điểm luôn
mấy cái để giải phóng huyệt
đạo
nàng. Mộc
Uyển Thanh nhẩy bật lên một cái
cả giận nói:
- Lão này
vô lễ thật!
Nàng vẩy
tay toan phóng ám tiến ra. Lão áo
xanh nói:
- Mi bắn ta một
phát ta đánh mi một đòn, bắn
mười phát đánh mười
đòn. Mi
không tin bắn
thử coi.
Mộc Uyển
Thanh nghĩ bụng: ta chỉ phóng một phát
mà trúng là lão chết tử
rồi còn
đâu mà đánh? Nhưng xem ra lão
này thần thông quảng đại, so
với
Nam Hải Ngạc
Thần còn có phần hơn, khó
lòng bắn trúng được lão.
Còn
lão nói
sao là làm được thế, ta
tất bị lão đánh nhừ
tử.
Còn đang
nghĩ ngợi lão áo xanh lại nói:
- Mi đã
không dám bắn ta thì phải ngoan ngoãn
tuân theo lời ta, không được
trái lệnh.
Mộc Uyển
Thanh vẫn bớng:
- Ta không ngoan
ngoãn tuân theo lời lão đã
sao?
Tuy miệng nói
thế nhng buông tay xuống không phóng
tên nữa. Lão áo
xanh dùng hai
gậy trúc thay thế cho hai cặp giò ra
đi. Mộc Uyển Thanh
thấy hai cây
gậy trúc cứng nh gang thép, chống
đỡ lấy cả ngời lão
một
cách rất
vững vàng, thẳng thắn. Mỗi
cây gậy dài độ bảy tám
thước nên bước
lão dài
gấp đôi, gấp ba người
thường. Mộc Uyển Thanh phải vận
hết nội
công, gắng
gợng mới theo kịp.
Lão áo
xanh vượt qua những đỉnh núi
cao chẳng khác gì đi trên đất
bằng.
Lão không
theo nhữmg đường lối có
sẵn cứ nhằm thẳng phía trước
mà đi,
bất luận
những chỗ đá núi ngổn
ngang hay chông gai đầy rẫy lão cũng
bước
tràn vì
có hai cây gậy trúc dưới
chân. Chỉ khổ cho Mộc Uyển Thanh, quần
áo vướng
vào cây cối rách tướp.
Nhưng bản tính quật cường,
nàng không
thèm mở
miệng ca thán để tỏ ta con người
khiếp nhược.
Hai người
vợt qua mấy trái núi, xa xa đã
trông thấy bãi tha ma, mồ mả lô
nhô. Mộc
Uyển Thanh lẩm bẩm: đến hang Vạn
Kiếp rồi đây. Quả nhiên lão
áo xanh tiến
đến trước tấm bia đá
khắc chữ "Phần mộ Vạn cừu
Đoàn", rồi
cầm gậy
đập vào chữ Đoàn.
Mộc Uyển
Thanh đã ra vào hang Vạn Kiếp mấy
lần, mỗi lần vào hang là
phải đập
mấy cái vào chữ Đoàn
nhưng lần này nàng rất có
cảm tình với chữ
Đoàn,
liền hỏi lão:
- Vào hang Vạn
Kiếp làm chi?
Lão áo
xanh quay phắt lại, cầm gậy trúc đập
vào chân nàng hỏi:
- Mi còn hỏi
nữa thôi?
Mộc Uyển
Thanh vốn tính ngang ngạnh, dù đối
với tay địch bản lãnh hơn
mình, nàng
vẫn không chịu để người
lấn áp. Nhưng giờ nàng nghĩ
rằng
không những
lão này bản lãnh hơn mình mà
còn giúp mình đạt ý nguyện
nên nàng
chỉ nói bướng một câu:
- Cô nương
không sợ đâu nhé, bây giờ
tạm ẩn nhẫn mà thôi.
Lão áo
xanh giục:
- Vào!
Chờ Mộc
Uyển Thanh bước vào trước
rồi lão mới bước vào
sau. Đường lối
trong hang Vạn
Kiếp lão đã thuộc làu. Mấy
lần Mộc Uyển Thanh toan hỏi
nhung sợ
lão đánh lại thôi. Nàng theo
lão lúc rẽ bên phải, lúc
vòng bên trái,
đi ra phía
sau động.
Mộc Uyển
Thanh từ khi rời sư phụ đến
kiếm sư thúc là Chung phu nhân ở
hang Vạn Kiếp,
tuy hai người không hợp tính
nhau, ngay hôm đầu đã cùng
nhau gây lộn
nhưng nàng cũng ở đó mấy
hôm. Thế mà bữa nay lão áo
xanh
đưa nàng
qua những nơi mà nàng chưa biết
tới, không ngờ hang Vạn Kiếp
lại nhiều
chỗ hoang lương tịch mịch đến
thế.
Đi mấy
dặm nữa thì vào đến một
khu rừng già, bốn bề toàn
cổ thụ ngất trời.
Giữa ban
ngày mà ánh dơng quang rực rỡ
cũng không len lỏi vào được,
trong rừng
âm u chẳng khác gì trời lúc
hoàng hôn. Càng vào sâu cây
càng
dầy, sau phải
lách mình mới đi đợc.
Đi thêm vài mơi trợng thì
đến trớc
đám cổ
thụ mọc dầy liền khít nhau nh một
bức tờng không thể lách
qua
đợc.
Lão áo xanh cắm gậy trúc xuống
đất để chống vào nách
đứng, chĩa
hai bàn tay đặt
vào khe hai cây lớn rồi vận
nội lực đẩy hai cây từ
từ rẽ ra hai
bên để
hở ra một lối đi rộng hơn
thước. Lão quát bảo Mộc
Uyển Thanh:
- Qua đi!
Mộc Uyển
Thanh không kịp đắn đo gì nữa,
lách mình một cái đã sang bên
kia. Một bãi
rộng hình tròn hiện ra trơức
mặt nàng. Giữa bãi nổi lên
một toà
thạch thất
trơ trọi. Cách kiến tạo toà thạch
thất này thật là ngộ nghĩnh.
Người
ta lấy những phiến đá lớn
nặng tới mấy ngàn cân xếp
lên, chỗ lồi chỗ
lõm trông
rõ ra một hòn non bộ có để
hở ra một chỗ làm cửa.
Lão áo
xanh lại quát:
- Vào đi!
Mộc Uyển
Thanh nhìn vào chỉ thấy tối om, không
hiểu trong có những quái
vật gì.
Nàng lưỡng lự không dám
tiến vào thì một bàn tay đặt
lên sau lng
nàng. Nàng
toan né tránh thì lão áo xanh vận
chưởng lực đẩy mạnh một
cái.
Mộc Uyển
Thanh không thể tự chủ được
bị hất văng vào trong. Nàng đa
tay sử thế
"Hiển phong phất liễu" che mặt đề
phòng va chạm vào vật gì
chăng thì
nghe đánh sầm một tiếng, cửa
thạch thất đã bị một vật
cực nặng
đóng sập
xuống. Mộc Uyển Thanh cả kinh, chạy lại
đẩy cửa, đặt bàn tay
vào thấy
ráp lởm chởm mới biết
là một tảng đá hoa cơng rất
lớn. Nàng vận
hết nội
công đẩy cũng không nhúc nhích.
Nghỉ một lát rồi lại cố đẩy
lần
nữa nhng
chẳng khác gì chuồn chuồn lay cột
đá. Mộc Uyển Thanh hốt
hoảng vội
lớn tiếng hỏi:
- Mi giam ta vào
đây làm gì?
Bỗng nghe tiếng
lão áo xanh đáp:
- Mi cầu khẩn
ta việc gì mi quên rồi sao?
Sơ dĩ lão
đứng bên ngoài nói mà
nàng nghe rõ là vì tảng đá
lấp cửa có đục
một lỗ
thông suốt. Mộc Uyển Thanh định
thần nhìn lại thấy phía trên
tảng
đá có
nhiều kẽ hở, chỗ nhỏ bằng
sợi dây, chỗ lớn đút
lọt cánh tay nhưng
người
chui thì không lọt. Nàng la lên:
- Buông thả
ta ra! Buông thả ta ra!
Ngoài thạch
thất không có tiếng đáp lại,
chợt nghe cành cây chạm nhau lắc
cắc thì
biết là lão áo xanh đã ra
khỏi "bức tường cây" đi
rồi.
Mộc Uyển
Thanh nhìn qua những lỗ hổng ra ngoài
nhưng chẳng thấy chi trừ
những lá
cây rơi lác đác, bay phất phới.
Nàng quay vào giơng mắt nhìn
khắp nhà,
chợt thấy trong góc có đặt
một cái giường, trên giường
có một
người
ngồi. Nàng giật mình hỏi:
- Ngươi...
ngươi...
Ngời đó
hỏi lại:
- Thanh muội! Em
cũng vào đây ?
Giọng nói
lộ vẻ sửng sốt và vui mừng,
nghe biết ngay là Đoàn Dự. Mộc
Uyển Thanh đang
lâm vào hoàn cảnh tuyệt vọng,
bỗng nhiên gặp Đoàn Dự
nàng mừng
quá, trái tim cơ hồ ngừng đập.
Nàng nhảy tót ngồi vào lòng
chàng.
Trong nhà ánh
sáng chỉ hơi lờ mờ. Đoàn
Dự thấy mặt nàng nhợt nhạt,
hai
dòng lệ
như muốn trào ra, trong lòng xiết
bao thương cảm ôm chặt lấy
nàng. Nhìn
đôi môi mấp máy chàng không
thể nhịn được, cúi đầu
xuống
hôn. Hai cặp
môi vừa đặt lên nhau thì
đồng thời cùng nghĩ đến
đã là tình
anh em ruột thịt
sao lại có những hành động
loạn luân? Rồi cùng buông
nhau ra lùi lại
phía sau. Hai người ngồi tựa
lưng vào vách đá, run run nhìn
nhau. Mộc Uyển
Thanh bật lên tiếng khóc nức
nở. Đoàn Dự dịu giọng
an ủi
nàng:
- Thanh muội ơi!
Đó là do tạo hoá an bài, hiền
muội đừng buồn phiền nữa.
Anh được
có em gái như hiền muội cũng
đủ vui mừng lắm rồi.
Mộc Uyển
Thanh giậm chân, vừa khóc vừa
nói:
- Nhưng tôi
không thể không buồn phiền để
mà hoan hỉ cho được. Tôi đau
khổ mà
chàng vẫn vui mừng thì thật là
loài bất nhân.
Đoàn Dự
than rằng:
- Anh chẳng có
cách nào làm cho em vui lòng. Thế
này thì thà chẳng được
gặp em nữa
là hơn.
Mộc Uyển
Thanh giằn dỗi:
- Tôi cũng
chẳng muốn gặp chàng làm gì.
Ai bảo chàng đến tìm tôi đêm
hôm ấy?
Chàng chẳng trở lại báo tin
tôi cũng chẳng chết về tay bọn
ấy.
Chàng làm
chết mất con Hắc Mai Côi của tôi,
làm cho tôi đau đớn ê
chề,
làm cho sư
phụ tôi hoá ra má tôi, làm
cho phụ thân chàng hoá ra phụ thân
tôi, tôi
chẳng mong gì nữa. Giờ tôi
bị vít vào đây cũng bởi
tại chàng. Tôi
chỉ cần
ra khỏi nơi này.
Đoàn Dự
nói:
- Thanh muội ơi!
Trăm điều ngang ngửa vì anh, em
đừng giận anh nữa. Anh
em ta thủng thẳng
tìm cách trốn ra.
Mộc Uyển
Thanh vẫn một giọng hờn dỗi:
- Tôi không
trốn đi đâu nữa. Tôi đành
chết ở chốn này. Chết ở
đây hay ở
ngoài cũng
thế thôi. Tôi không ra nữa.
Thấy nàng
vừa đòi ra lại giở giọng
không ra nữa Đoàn Dự biết
rằng lòng
nàng đang
xốn xang quá đỗi, không thể
lấy lời lẽ ngọt ngào mà
dỗ nàng
được
nên không nói gì nữa.
Mộc Uyển
Thanh đang buông cơn giận cho nổi lên
thấy Đoàn Dự không nói
sao lại càng
lộn ruột hỏi:
- Sao chàng lại
ngồi ỳ ra không nói?
Đoàn Dự
hỏi lại:
- Thế em muốn
anh nói gì bây giờ?
Mộc Uyển
Thanh hỏi:
- Chàng ở
đây làm gì?
Đoàn Dự
đáp:
- Đồ đệ
anh bắt anh giam vào đây.
Mộc Uyển
Thanh ngơ ngác:
- Đồ đệ
chàng...
Nhưng nàng
nhớ ra ngay, đang sì sụt nước
mắt nước mũi bất giác
phá lên
cời:
- à phải
rồi! Nam Hải Ngạc Thần. Phải chăng
lão bắt chàng vít vào đây?
Đoàn Dự
đáp:
- Chính lão!
Mộc Uyển
Thanh vẫn cời:
- Thế sao chàng
không lên nước "sư phụ" bảo
lão phải buông tha ra?
Đoàn Dự
đáp:
- Anh bảo lão
mấy lần rồi nhưng lão cứ
khăng khăng một mực đòi anh
thờ
lão làm
thầy lão mới chịu buông tha.
Mộc Uyển
Thanh vừa cười vừa nói:
- Thế là
thầy không dạy nổi trò rồi!
Đoàn Dự
than rằng:
- Có lẽ
đúng đấy! Còn em, ai bắt
em vào đây?
Mộc Uyển
Thanh đem chuyện mình gặp thanh bào khách
kể lại một lợt
nhng dấu đoạn
lão bảo biến anh ruột ra chồng, không
nói đến.
Đoàn Dự
thấy chuyện ăn không cử động
môi miệng, nói từ bụng nói
ra,
chân tay tàn
phế mà chạy nhanh như bay thì lấy
làm kỳ thú, hỏi cặn kẽ các
chi tiết và
tấm tắc khen là kỳ dị.
Hai người
ngồi nói chuyện hàng giờ, chợt
bên ngoài có người đằng
hắng rồi
thấy một
đĩa luồn qua lỗ hổng đưa
vào, kế đến có tiếng người
gọi bảo:
- Bữa ăn
của các ngươi đây.
Đoàn Dự
đưa tay đón lấy thì là
một đĩa thịt quay thơm phức,
tiếp theo là bát
canh rau và đĩa
bánh tiêu, chàng đặt cả lên
bàn rồi hỏi Mộc Uyển Thanh:
- Em liệu những
món này có thuốc độc không?
Mộc Uyển
Thanh đáp:
- Bọn họ
muốn giết mình thì chỉ giơ tay
lên một cái là xong, hà tất
phải
dùng đến
thuốc độc.
Đoàn Dự
cho là phải và bụng đói quá
rồi liền bảo:
- Ta ăn thôi
chứ!
Hai người
lấy thịt quay đặt vào trong bánh
bắt đầu ăn, bên ngoài có
tiếng
người
dặn:
- ăn xong rồi
cứ đặt bát chén ra lỗ
hổng sẽ có người lại lấy.
Người
đó nói xong đi ngay. Mộc Uyển
Thanh lắng tai nghe y vịn cành trèo
lên cây
rồi nhảy qua bên kia "bức tường
cây".
Nàng nghĩ
thầm: gã đưa cơm này võ
nghệ tầm thường thôi. Rồi
nàng uể oải
cầm lấy
bánh ăn. Đoàn Dự vừa
ăn vừa nói:
- Hiền muội!
Em đừng sợ chi! Thế nào
gia gia cùng bá phụ cũng đến
cứu
chúng ta ra.
Bọn Nam Hải Ngạc Thần, Diệp Nhị
Nương tuy là những tay lợi
hại nhnưg
vị tất đã địch nổi gia
gia. Nếu chính bá phụ thân hành
tới đây thì
quét hết
cả bọn chúng dễ như chơi. Chúng
sẽ hết đường tháo thân.
Mộc Uyển
Thanh hãy còn bực mình lên giọng
nhạo báng:
- Chà! Bá
phụ chàng bất quá là Hoàng
đế cái nước Đại
Lý cỏn con này, bản
lãnh đối
với người ngoài đã
vào đâu? Tôi không tin ông có
thể địch nổi
"thanh bào khách".
Chắc lại mang mấy ngàn quân thiết
giáp đến vây đánh
chứ gì?
Đoàn Dự
lắc đầu lia lịa cãi:
- Không phải!
Không phải! Tổ tiên họ Đoàn
là phái võ gốc tích ở
Trung
Nguyên. Dù
có dựng ra nước Đại
Lý, xưng vương, xưng đế nhưng
nhất định
không quên
lề lối võ lâm. Nếu cậy thế
lấn áp hay dựa vào số nhiều
để thủ
thắng thì
cái họ Đoàn nước Đại
Lý chẳng lẽ để các bậc
anh hùng trong thiên
hạ chê cười
ru?
Mộc Uyển
Thanh vẫn một giọng chế diễu:
- úi chà!
Chàng còn khoe họ hàng nhà chàng
tuy làm vua làm chúa vẫn
không bỏ
tư cách của khách giang hồ ?
Đoàn Dự
nói:
- Bá phụ
cùng gia gia thường nói rằng:
đã làm người thì không
nên quên
gốc.
Mộc Uyển
Thanh bĩu môi, mạt sát dữ hơn:
- Chà! Miệng
nói toàn nhân nghĩa đạo đức
mà làm toàn những sự bỉ
ối xấu
xa. Tỷ như
việc gia gia đã có má chàng
rồi sao còn tằng tịu với sư
phụ tôi?
Đoàn Dự
tức run lên:
- Ô hay! Cô
thoá mạ cả gia gia tôi nữa ? Gia
gia tôi không phải là gia gia
cô hay sao? Hơn
nữa các bậc vua chúa cùng hàng
quý tộc khắp thiên hạ
được
mấy người một vợ? Tám
bà, mười bà là ít.
Thời bấy
giờ vào đời Bắc Tống,
Trung Hoa chia làm năm nước: khu giữa
là
nước
Tống, phía Bắc có rợ Khất
Đan, mặt Tây Bắc có nước
Nam Hạ, Tây
Nam có nước
Thổ Phồn, miền Nam có nước
Đại Lý. Vua chúa hay đại thần
đều có
nhiều cung phi, hoặc mệnh phụ phu nhân
đã thành một tập quán
truyền đời,
và được coi là chuyện đương
nhiên. Các bậc công khanh một vợ
thật là
hiếm có.
Mộc Uyển
Thanh vừa nghe Đoàn Dự nói
xong, máu ghen sôi lên sùng sục,
lanh lẹ tát
chàng đánh "bốp" một cái.
Chàng đau quá, mắt mở thao
láo,
miệng há
hốc ra, miếng bánh đang cầm tay
hất tung xuống đất. Chàng ấp
úng:
- Cô... cô...
Mộc Uyển
Thanh mặt giận hầm hầm:
- Tôi không
gọi ông ấy bằng gia gia nữa.
Cớ sao đàn ông năm thê
bảy thiếp
mà đàn
bà riêng chịu thiệt thòi? Hễ
ai ăn ở hai lòng là mang tiếng
vô nghi là
nghĩa làm
sao?
Đoàn Dự
đa tay lên mặt sờ chỗ đau,
xuýt xoa nói:
- Tôi là
bậc huynh trưởng, cô là phận
đàn em mà dám vô lễ thế?
Mộc Uyển
Thanh vẫn cha nguôi giận, giơ tay tát
nữa. Nhưng lần này Đoàn
Dự đã
kịp phòng bị, bước chân
theo phép Lăng Ba Vi Bộ, tránh qua phía
sau nàng. Mộc
Uyển Thanh trở tay tát về phía
sau, chàng cũng tránh khỏi.
Lòng nhà
thạch thất này chỉ rộng chừng
hơn một trượng vuông vậy mà
phép
Lăng Ba Vi Bộ
cực kỳ thần diệu khiến cho Mộc
Uyển Thanh lẹ tay thế nào
cũng không
đánh trúng. Mộc Uyển Thanh lại
càng căm tức sực nghĩ ra
một
kế, giả
vờ kêu "ối chao", ngã lăn xuống
đất. Đoàn Dự thất kinh
hỏi:
- Em làm sao
thế?
Chàng cúi
xuống, thò tay ra ôm nàng dậy. Tấm
thân mềm mại Mộc Uyển
Thanh nằm gọn
trong lòng chàng. Nàng đưa tay trái
ra ôm cổ chàng, ghì
chặt lấy,
vừa cười vừa hỏi: Còn
trốn được nữa thôi?
tay phải tát một cái vào
má chàng
thật mạnh. Đoàn Dự nhịn đau
chỉ kêu được một tiếng
"trời ơi", rồi
đột nhiên
nhiệt khí ở huyệt đan điền
làm nóng rực cả người,
sóng tình nổi
lên cuồn
cuồn, không thể dằn lòng được.
Mộc Uyển Thanh đúng với ngoại
hiệu Hương
dược xoa, tiết ra một mùi thơm
làm cho người ngửi thấy
phải
mê mẩn
tâm thần. Lúc đó Đoàn
Dự lại đang ôm nàng, tay chạm
vào da thịt
êm dịu,
gợi cho chàng một khoái cảm đê
mê, da dẻ mùi hương đa lên
từng
cơn càng
làm cho trí khôn mê loạn, chàng
cúi xuống hôn nàng thật đậm.
Cái hôn
làm cho toàn thân Mộc Uyển Thanh rạo
rực, mềm nhũn. Đoàn Dự
ôm nàng
lại đặt lên giường, đa
tay ra cởi khuy áo nàng.
Mộc Uyển
Thanh khẽ nhắc:
- Chàng là
anh ruột tôi.
Đoàn Dự
tuy đang mê mẩn tâm thần nhưng
câu nói của Mộc Uyển Thanh
chẳng khác
tiếng sét nổ giữa lúc trời
quang mây tạnh, chàng giật mình
buông nàng
ra, hai tay vung lên tự tát hai bên má
mình bôm bốp mấy cái.
Vừa tát
vừa tự mắng "Đồ chó
chết! Đồ chó chết!".
Mộc Uyển
Thanh nhìn thấy hai mắt Đoàn Dự
đỏ như máu, loé ra những
tia
sáng khác
thường, da thịt trên mặt giật
lên từng cơn, lỗ mũi mấp
máy, cả
kinh nói:
- Nguy rồi! Đoàn
lang ơi! Trong thức ăn quả có
thuốc độc. Ta mắc lừa họ
rồi.
Toàn thân
Đoàn Dự phát nhiệt chẳng
khác gì ngồi trong lồng bốn bề
đốt
lửa. Chợt
nghe Mộc Uyển Thanh nói ăn phải thuốc
độc, trong bụng lại
mừng lẩm
bẩm: "ừ có thế chứ, ta
bị thuốc độc làm loạn trí
đến nỗi toan
cùng Thanh muội
làm trò đồi bại thì uổng
mất bao công trình đọc sách
thánh hiền,
thiếu chút nữa chẳng khác
chi loài cầm thú". Mỗi lúc người
chàng một
nóng thêm, không thể chịu được,
chàng phải cởi bỏ hết quần
áo
dài ra, chỉ
để một chiếc quần đùi.
Chàng tỉnh táo được một
lát, rồi đâu lại
hoàn đấy,
phải kiềm chế con lợn lòng một
cách miễn cưỡng.
Mộc Uyển
Thanh người cũng nóng ran, không
thể nhịn được, cởi bỏ
áo
xiêm ngoài
ra. Đoàn Dự vội la lên:
- Thanh em! Đừng
cởi thêm nữa! Ngồi dựa
vào vách đã cho đỡ
nóng.
Hai người
ngồi tựa lưng vào vách đá
nhưng chất thuốc độc mỗi lúc
một kích
thích thêm.
Sau lưng tuy mát được một chút
nhung từ đầu, mặt, ngực, bụng,
chân tay chỗ
nào cũng nóng như lửa đốt.
Đoàn Dự thấy Mộc Uyển Thanh
hai má đỏ
hồng, nhan sắc lại càng diễm lệ,
đôi mắt quyến rũ ướt
rượt như
muốn nhảy
xổ vào lòng chàng. Chàng nghĩ
thầm: lúc này mình còn quyết
tâm cố
chống lại chất thuốc độc nhưng
nhân lực có hạn, nếu rồi
đây không
chống nổi
nữa, gây ra hành vi dâm loạn,
làm mất hết thanh danh họ Đoàn
thì tiếng
xấu đó muôn đời không
rửa sạch. Chàng bèn bảo Mộc
Uyển
Thanh:
- Hiền muội
cho anh một mũi tên độc.
Mộc Uyển
Thanh hỏi:
- Để làm
gì?
Đáp:
- Để khi
anh không chống nổi lại sức thuốc
quá mãnh liệt thì anh tự tử
đi
cho rồi, khỏi
làm hại đến đời em.
Mộc Uyển
Thanh đáp:
- Tôi không
cho.
Đoàn Dự
nói:
- Thanh em ơi!
Anh cầu khẩn em một việc.
Mộc Uyển
Thanh hỏi:
- Việc gì
Chàng đáp:
- Hễ anh đa
tay ra sờ vào mình em thì em bắn
chết anh nghe!
Mộc Uyển
Thanh nói:
- Tôi không
nghe.
Đoàn Dự
năn nỉ:
- Anh cầu khẩn
em việc này vì danh dự của họ
Đoàn đã mấy trăm năm
nay
không thể
để anh một lúc phá tan. Nếu
không thế thì sau này anh chết
xuống còn
mặt mũi nào trông thấy tổ tiên
nữa?
Bất thình
lình bên ngoài thạch thất có
tiếng người nói:
- Họ Đoàn
nước Đại Lý chúng bay tử
tế lắm đấy? Ngoài mồn nhân
nghĩa,
trong bụng sài
lang, còn tưởng danh giá lắm
sao?
Đoàn Dự
cả giận nói:
- Mi là ai mà
dám nói láo?
Mộc Uyển
Thanh khẽ bảo chàng: lão chính là
"Thanh bào khách".
Lại thấy
Thanh bào khách nói tiếp:
- Mộc cô
nương! Ta làm theo nguyện vọng của
cô đó, cô bảo anh cô biến
thành chồng
cô đi! Ta đã hứa là quyết
tâm làm cho nên việc.
Mộc Uyển
Thanh cả giận nói:
- Mi dùng thuốc
độc hại người, có ăn
thua gì đến điều ta yêu cầu
mi đâu?
Thanh bào khách
nói:
- Trong đĩa
thịt quay ta trộn khá nhiều "Hoà hợp
âm dương tán" vào đó.
Người
nào ăn phải, nếu không cho âm
dương hoà hợp với nhau, làm
đôi vợ
chồng thì
chất thuốc mỗi ngày một phát
tác cực kỳ trầm trọng, chỉ
trong
tám ngày
là cùng da thịt sẽ nứt toác
ra, thất khiếu sẽ chảy máu ra mà
chết.
Dù các
ngơưi có bản lãnh như Đại
La Kim Tiên cũng không chống nổi đâu.
Đoàn Dự
căm hờn nói:
- Ta với
mi vốn không thù oán sao mi lại thi
hành kế độc này hại ta? Mi
muốn cho Đoàn
mỗ không còn mặt mũi nào trông
thấy người đời nữa.
Cùng
làm cho bá
phụ và gia gia ta đem điều ô
nhục chung thân ? Này này ta
bảo, không
được đâu, dù ta phải
chết khổ chết sở cũng đành,
chẳng khi nào
ta chịu làm
việc nhơ nhuốc đâu.
Thanh bào khách
nói:
- Đã hay
rằng riêng ta với mi không có
thù oán gì nhưng tổ tông họ
Đoàn
nhà mi với
ta có một mối thù sâu tựa
biển. Ta quyết làm cho hai gã tiểu
tử
Đoàn Chính
Minh và Đoàn Chính Thuần phải
suốt đời ô nhục, không
dám
nhìn mặt
người đời nữa mới
hả lòng căm phẫn của ta.
Lão nói
có vẻ đắc chí lắm nhnưg
vì môi miệng không cử động
được, nên
không bật
lên tiếng cười. Đoàn Dự
muốn cùng lão tranh luận nữa
nhưng vừa
liếc mắt
nhìn thấy Mộc Uyển Thanh chẳng khác
gì đoá phù dung mới nở
hay đoá
hải đường đang say sưa trong
trường xuân mộng, trái tim chàng
rung động
rạo rực, tựa hồ muốn nhảy
ra ngoài, trong đầu óc chàng suy
tính
rất nhiều:
"Mộc Uyển Thanh đã cùng ta đính
ước duyên bài, nếu đôi
ta
không được
trở về nước Đại lý
thì đâu có bật ra cái chuyện
là anh em ruột
thịt. Đây
chỉ là oan trái đời xa có
liên quan gì đến mình?". Nghĩ
tới đây
chàng run run
đứng dậy, bỗng thấy Mộc
Uyển Thanh cũng vịn tường đang
từ từ
đứng lên. Đột nhiên trong
lòng chàng dường như có
luồng điện chiếu
vào, chàng
lại nghĩ: "Không được! Không
được! Đoàn Dự hỡi
Đoàn Dự,
điểm tối
hậu của con người khác loài
cầm thú là ở chỗ này.
Nghĩ sai một ly,
sểnh chân
một bước, không những thanh
danh mình bị tan vỡ mà còn
đẩy cả
bá phụ
cùng gia gia vào vòng ô nhục suốt
đời". Nghĩ vậy chàng cất
tiếng gọi
to:
- Uyển Thanh em
ơi! Anh là đại ca, em là tiểu
muội đó. Em có biết không,
em đã
hiểu kinh Dịch chưa?
Mộc Uyển
Thanh còn đang mơ mộng, nghe chàng hỏi,
liền đáp:
- Tôi không
hiểu kinh Dịch là gì hết.
Đoàn Dự
nói:
- Nếu vậy
để anh dậy cho. Kinh Dịch ý nghĩa
xâu xa lắm, em phải lắng tai
nghe mới
hiểu được.
|