THẦN
ĐIÊU ĐẠI HIỆP - HỒI 7
Bốn
trẻ đồng môn
Kim Dung
Chẳng bao lâu
thuyền cặp bến đảo Đào-hoa.
Trong suốt cuộc hành trình, Quách-Tỉnh
nhờ Hoàng-Dung
săn sóc nên thương tích thuyên
giảm khá nhiều, vả lại được
một thời
gian nghỉ ngơi
sức lực chàng bình phục như
xưa.
Vợ chồng
Quách-Tỉnh không lúc nào quên
nghĩ đến Âu-dương-Phong. Họ
lấy làm lạ
chẳng biết
tại sao đã mười năm qua
ông lão anh hùng nầy vẫn còn
giữ được sức lực
tài
năng và
phong độ tự thuở nào, mặc
dù tuổi đã về chiều. Thì
ra con người kỳ dị ấy bất
chấp cả
thời gian.
Đó là
vợ chồng Quách-Tỉnh chưa chứng
kiến vụ phục thù của Kha-trấn-ác
đối với
Âu-dương-Phong
nơi cổ miếu. Nếu họ thấy trận
phục thù đó họ còn ngạc
nhiên sức
dẻo dai của
Âu-dương-Phong hơn nữa. Sáng
hôm ấy, sau khi bàn bạc cùng nhau,
Quách-Tỉnh
và Hoàng-Dung gọi Dương-Qua vào
cật vấn về sự việc quá khứ.
Dương-Qua
đang cùng con bé Quách-Phù bắt
dế, nghe kêu nó đã đoán
biết là nó sắp
trả lời
những câu hỏi khó khăn nên
đã dự ý trước.
Nguyễn Dương-Qua
cùng người mẹ là Trần-nam-Ngân
trước đây sống về nghề
bắt rắn
nơi chân
núi Trường-Lĩnh. Nghề bắt
rắn vốn không phải là nghề
kiếm ăn dư giả,
nhưng cũng
nhàn hạ. Ban đêm họ chỉ vất
vả mấy tiếng đồng hồ lục
lạo ở các ven rừng
ở bờ
bụi may ra cũng đủ độ nhật
trong một ngày.
Đối với
Trần Thị, nghề nghiệp và sinh kế
không quan trọng bằng việc giáo dục
con.
Ngày nào
cũng như ngày nào, người
mẹ kiên trinh ấy quyết tâm rèn
luyện cho con
mình mong trở
thành người lý tưởng.
Những lời
giáo huấn môn phong trước đây
đã vun đúc vào cho Dương-Qua
một tâm
tánh phong nhã.
Trần thị lại đem những ngón
sở trường trong vũ thuật
mà bà đã góp
nhặt trên
bước phiêu lưu giang hồ để
truyền lại cho Dương-Qua, đứa
con duy nhất của
bà.
Từ khi Dương-Qua
trí khôn mới bắt đầu
thành hình đã tỏ ra thông minh
đáo để. Nó
học đâu
nhớ đó. Không một quyển
sách nào, một lời giáo huấn
nào của từ mẫu răn
dạy mà
nó không thuộc làu. Đến như
việc bắt rắn, nó chẳng học
tập gì cả, cứ hàng
đêm xách
đèn theo mẹ, ấy thế mà mới
vừa lên tám nó đã có
nhiều kế hoạch bắt rắn
thông thạo
hơn người mẹ là khác.
Những lúc
cùng nhau lặn lội dưới chân
Trường-sơn để theo dấu vết
những con rắn,
người
mẹ thường kể cho Dương-Qua nghe
là trên đời này chỉ có
một người, hay đúng
hơn là
một danh nhân lấy việc nuôi rắn
để mưu đồ việc lớn.
Danh nhân ấy có thể sai
khiến được
rắn thành hàng ngũ, lập thành
trận thế và điều khiển theo
binh pháp. Danh
nhân ấy
hiện trú ẩn nơi Bạch-đà-Sơn.
Câu chuyện
nầy làm cho Dương-Qua lu ý và
thích thú nhất. Có nhiều lúc
Dương-Qua
mơ ước được thành
danh nhân đó, nên nó tự
mình bắt rắn huấn luyện theo
mơ tưởng.
Lần lần
Dương-Qua nuôi được một
đoàn rắn tinh khôn, biết nghe theo
mệnh lệnh của
nó.
Tuy nhiên, nó
vẫn chưa thỏa, ước mong sao một
ngày nào đó nó gặp được
vị danh
nhân để
có thể sai khiến theo phép thuật danh
truyền.
Mẹ con sống
với nhau được mười
năm thì một hôm người mẹ
rủi ro bị rắn độc cắn,
trong người
quên mang theo thuốc giải độc nên
ngất lịm, nằm mê mang dưới
chân
núi. Dương-Qua
vội chạy về nhà lấy thuốc giải
độc, nhưng đến nơi, nọc độc
đã thấm
vào tim, người
mẹ chỉ còn là một cái xác
không hồn.
Còn biết
làm sao hơn, Dương-Qua khóc lóc
một hồi rồi đành nuốt hờn
chôn cất người
mẹ, trở
về sống cô đơn nơi chân
núi với túp lều tranh trên
đồi, nó chỉ còn một con
chim hồng và
đàn rắn làm bạn.
Song lẽ, đã
mất mẹ, người mẹ yêu dấu
kia, nó còn thiết gì căn lều
ở chân núi Trường
Lĩnh nữa,
một hôm nó bỏ nhà đem con chim
nhỏ và đàn rắn đi phiêu
bạt đó đây, hi
vọng hão
huyền sẽ được gặp vị
danh nhân Bạch-Đà-Sơn để
học thuật luyện rắn.
Chẳng ngờ
bước phiêu lưu, tình cờ
đã đa đẩy nó gặp gỡ
Lý-mạc-Thu để mất cả chim
hồng và
đàn rắn khôn, và thân nó
bây giờ chỉ trơ trọi một mình
không biết đâu nương
tựa...
Bao nhiêu câu
chuyện về dĩ vãng nó đem kể
lại cho vợ chồng Quách-Tỉnh nghe.
Nghe đến
đây, Hoàng-Dung căm tức Lý-mạc-Thu
đã sát hại con chim hồng mà
chính
con chim ấy trước
đây Hoàng-Dung đã từng
nâng niu.
Tiếp đó,
Hoàng-Dung lại cật vấn đến việc
Dương-Qua ở đâu lúc Vũ-tam-Thông
và
Âu-dương-Phong
đấu nhau. Làm sao Dương-Qua lại
quen biết Âu-dương-Phong và
Âu-dương-Phong
là ai.
Dương-Qua
cảm biết Hoàng-Dung là kẻ linh lợi,
một kẽ hở nhỏ cũng đủ
để
Hoàng-Dung thấu
hiểu sự tình và khai thác hành
tung nên nó một mực tỏ ra rất
thản
nhiên, một
mực tỏ ra thành khẩn để
lập lại những điều mà nó
đã sắp đặt trước.
Thỉnh
thoảng nó
kể những mẩu chuyện xen vào ăn
khớp với người nầy
người kia để đánh
trống lảng.
Nghe thằng bé
kể lời lẽ tự nhiên, sự
việc hợp tình hợp lý, lại
tuổi tác nó còn nhỏ bé.
Hoàng-Dung thật
khó lòng nghi ngờ. Tuy nhiên, nàng
cũng khó mà tin cậy trước
cái
vẻ tinh khôn
của nó.
- Cháu ngoan
lắm! Thôi cháu hãy ra ngoài chơi
với anh em họ Vũ đi.
Dương-Qua
ra khỏi phòng, Quách-Tỉnh và Hoàng-Dung
tiếp tục bàn bạc.
Quách-Tỉnh
nói:
- Này em Dung!
Chắc em hiểu rõ lòng anh. Ngày nay
anh gặp được cháu Dương-Qua
anh tưởng
như cuộc hội ngộ trời cho thật
lấy làm vui sướng.
Nguyên vì
thuở trước ông thân sinh
Quách-Tỉnh cùng ông nội Dương-Qua
là đôi bạn
chí thiết.
Bấy giờ nhân hai người
vợ cùng có thai, đôi bạn
thân bèn uớc hẹn cùng
nhau, hễ sanh
đồng trai thì cho chúng làm anh em,
đồng sinh gái thì cho chúng làm
chị em, nếu
sanh một trai một gái thì cho chúng
làm vợ chồng. Sau đó mỗi
người vợ
đều sinh
mỗi người một trai. Bởi vậy
Dương-Khang và Quách-Tỉnh theo lời
nguyện
ước
của song thân kết làm anh em, xem nhau nh
ruột thịt mặc dù khác họ.
Về sau Dương-Khang
vì mạo nhận giặc cướp làm
cho cha già bị chết thê thảm ở
miếu
Thiết-Phương
Gia-hưng-vương. Từ đó Quách-Tỉnh
buồn bã thương nhớ không
nguôi.
Nay tình cờ
gặp đặng Dương-Qua, con của người
anh em, Quách-Tỉnh xiết bao mừng
rỡ.
Hoàng-Dung tuy
hiểu rõ tình ý của chồng,
song không muốn chồng mình đem tình
cảm đối
với Dương-Qua như thế, và
ngại rằng với lời ớc
hẹn của phụ thân, Quách-Tỉnh
sẽ buộc
gả con bé Quách-Phù cho Dương-Qua
mà lòng nàng không thích.
Hoàng-Dung bảo:
- Như thế
em không bằng lòng.
Quách-Tỉnh
ngạc nhiên nhìn vợ, hỏi:
- Em không bằng
lòng điều gì?
Hoàng-Dung đáp:
- Điều
rất đơn giản là em không muốn
gả Quách-Phù cho Dương-Qua, con một
tên
tướng
cướp.
Quách-Tỉnh
nói:
- Dẫu em cho
nó có thành tích bất hảo
đi nữa cũng nên nghĩ đến
lời thề ước của tiền
nhân. Vả
lại Dương-Qua diện mạo khôi ngô,
cử chỉ linh lợi, tư cách thông
minh. Nếu
chúng ta gia
công rèn luyện chắc chắn sau này
tương lai phải vẻ vang tươi sáng.
Hoàng-Dung lắc
đầu, nói:
- Em chỉ ngại
nó quá thông minh mà hỏng.
Quách-Tỉnh
mỉm cười, nói:
- Thế sao em
cũng thông minh và lanh lợi mà
không hỏng. Có gì phải e ngại?
Hoàng-Dung cũng
mỉm cười:
- Nhưng em nhờ
gặp được người chồng
tuấn kiệt như anh.
Quách-Tỉnh
nhún vai nói:
- Nhưng sao em chắc
rằng Dương-Qua không phải là người
chồng lý tưởng của
Quách-Phù?
Biết đâu khi lớn lên Quách-Phù
lặn lội đó đây mà không
sao tìm được
người
chồng thông minh tuấn kiệt như Dương-Qua.
Hoàng-Dung bĩu
môi, nói:
- Chà quí
quá!
Sau mấy câu
trò đùa, Quách-Tỉnh nghiêm
trang nói:
- Lúc sinh tiền
thân phụ thường nhắc với
anh rằng khi Dương-thúc-Tâm lâm
chung,
thúc phụ
tỏ ý hy vọng anh có thể giữ
trọn lời thề. Nếu nay anh không
săn sóc
Dương-Qua
coi như con đẻ thì anh đã phụ
lòng thân sinh, và chữ hiếu
anh không làm
tròn, mà
chữ nghĩa cũng chẳng đầy
đủ.
Dứt lời,
Quách-Tỉnh buông tiếng thở dài.
Tiếng thở
dài đầy tình cảm và nhơn
nghĩa đã làm cho tâm hồn lẫn
lý trí Hoàng-Dung
phải dao động.
Hoàng-Dung hạ
thấp giọng nói:
- Em nói thế
chứ đôi trẻ còn nhỏ đã
gấp gì định đoạt. Ngày
sau, nếu Dương-Qua quả
là người
tốt thì anh muốn thế nào em xin
nghe theo thế ấy, không có gì làm
cho anh
băn khoăn.
Quách-Tỉnh
liền đứng dậy, hai tay chấp lại
trịnh trọng nói:
- Đa tạ
nương tử bằng lòng bỉ nhân
vô cùng cảm kích.
Hoàng-Dung cũng
thủ lễ, chấp tay bái chồng, trịnh
trọng thưa:
- Thưa phu quân!
Thiếp bằng lòng trong tương lai, nếu
Dương-Qua là người tốt.
Quách-Tỉnh
nghiêm trang, nói với giọng cương
quyết:
- Dương-Khang,
cha của Dương-Qua sống trong Vương-phủ
Kim-quốc có thể có
những điểm
hư hỏng, nhưng Dương-Qua nếu đã
được giáo dục trên đảo
Đào-hoa
không có
lý gì lại không trở nên
một chàng trai tuấn kiệt! Điều
đó em khỏi lo!
Hoàng-Dung mỉm
cười nói sang câu chuyện khác,
không bàn luận đến việc
Dương-Qua
nữa.
Tuy nhiên, chúng
ta cũng nên xét qua đôi tâm
hồn non trẻ của Dương-Qua và
Quách-Phù.
Ban đầu,
lúc mới gặp nhau, cô bé Quách-Phù
vốn có ác cảm với Dương-Qua,
không
chịu làm
bạn với nhau. Nhưng trẻ thơ dễ
quên, chẳng bao lâu Quách-Phù lại
rủ
Dương-Qua
đi bắt dế ngoài khuê viên.
Và bao nhiêu hiềm khích đều
quên hết.
Lúc Dương-Qua
bị Hoàng-Dung gọi vào chất vấn.
Quách-Phù ngồi đợi mãi
một lúc
mới thấy
Dương-Qua trở ra.
Dương-Qua
nghe trong lùm cây có tiếng nói
xì xào liền đưa mắt nhìn
vào, thấy anh
em họ Vũ
ra đấy tự bao giờ, và cũng
đang cùng với Quách-Phù bắt
dế. Vũ-đôn-Nhu
tay xách một
chiếc lồng tre nhỏ, Quách-Phù bưng
một cái thẩu lớn, cả hai đang
lum
khum nhìn xuống
một tảng đá, nơi đấy Tu-Văn
đang ra sức lật lên một vừng
đất.
Vừng đất
vừa lật lên, một con dế rất
lớn nhảy phóc ra, Tu-Văn hối
hả đuổi theo chụp.
Quách-Phù
mừng rỡ, reo lên:
- A! Dế lớn
quá! Anh bắt cho em nhé!
Tu-Văn cẩn
thận cầm con dế trao cho Quách-Phù,
nói:
- Con dế này
đẹp lắm, xin biếu cô nương.
Quách-Phù
cầm lấy, mở nắp thần bỏ
vào. Qua làn thủy tinh con dế quả
có một thân
hình vô
cùng đẹp đẽ. Màu vàng
sẫm, đầu vuông, càng lớn,
vế to, chắc chắn nó là một
cự tướng
trong làng dế.
Vũ-tu-Văn
nói:
- Dế này
phải gọi là vô địch đại
tướng quân.
Rồi Tu-Văn
quay lại nói với Dương-Qua.
-Nầy Dương
huynh! Số dế của Dương huynh bắt
được có con nào địch
lại với con nầy
chăng. Nếu
có, đem ra đấu một trận th hùng
cho biết sức.
Dương-Qua
thấy Tu-Văn có vẻ khiêu khích,
tỏ ý bất bình nhưng không nói
gì cả, lấy
giỏ dế
của mình ra, lựa một con lớn
nhất, hùng dũng nhất thả vào
bồn đấu.
Con dế lớn
màu vàng sẫm thấy bóng địch
thủ liền gáy lên một tiếng,
giương hai càng
múa râu
lên trời trong dáng điệu rất
dũng mãnh.
Qua một lúc,
nó tung hai chiếc đùi đá
lại vào con dế của Dương-Qua một
đòn làm
cho con dế của
Dương-Qua khiếp quá, quay đầu
bỏ chạy.
Quách-Phù
vỗ tay reo mừng với sự đắc
thắng của con dế mình.
Dương-Qua
bực tức, nói:
- Như thế
dân đã thắng! Còn nhiều con
dế khác nữa chứ!
Nói xong, Dương-Qua
đa ra một con dế khác thả vào
bồn nhưng ba lần đều bị thất
bại. Lần
nào dế của Dương-Qua cũng bị
con dế màu sậm kia cắn đá
tơi bời sứt cánh,
cong càng, bể
bụng.
Dương-Qua
bị chạm tự ái, nói lớn:
- Thôi, tôi
chẳng thèm chơi dế nữa đâu.
Đoạn nó
bỏ đi. Nhưng nó vừa bước
được mấy bước. Tu-Văn
lắng tai nghe trong lùm
cây có
tiếng đổ rào, thanh âm nghe kỳ
lạ. Vũ-đôn-Nhu vỗ tay nói:
- Trong bụi nầy
chắc còn có một con dế oai hùng
không kém.
Rồi nó
chạy đến phanh phui bụi cây để
thu hồi, nhưng vừa vạch lùm cây,
nó bỗng
kinh hãi la lớn
nhảy ra đằng sau:
- Ôi chao! Con
rắn!
Dương-Qua
nghe là rắn liền nhảy đến
thì quả nhiên đó là một
con rắn độc, thân mình
điểm hoa
mai có khoanh tròn dưới bụi cây,
đầu ngóc cao và lưỡi
lè ra trông dáng điệu
hung hăng lắm!
Như đã
biết Dương-Qua vốn sống về nghề
bắt rắn cho nên nó không hoảng
hốt như
mấy đứa
trẻ kia, bình tĩnh tiến sát vào
một tay phe phẩy trước đầu
rắn, một tay đập
dưới
đất.
Con rắn hấp
tấp mổ vào tay Dương-Qua chưa trúng
đích thì đã bị bàn tay
kia của
Dương-Qua
tóm vào cổ quật xuống đất
chết tươi.
Bọn trẻ
khen tài Dương-Qua và đang xúm
nhau nhìn xác con rắn thì bỗng nghe
có
tiếng dế
reo. Rồi một con dế nhỏ từ dưới
xác con rắn bò ra, thân mình nó
xấu xí đến
kỳ dị,
màu đen như than, đôi cánh chẳng
có một đốm hoa nào tô điểm.
Quách-Phù
nhìn Dương-Qua cợt đùa nói:
- Kìa Dương
huynh! Con dế của Dương huynh đó
sao chẳng bắt.
Dương-Qua
phật ý, song cũng đáp lời:
- Vâng! Thì
tôi sửa soạn bắt nó đây.
Dứt lời,
Dương-Qua cúi xuống bắt lấy
con dế và thả vào chiếc bồn
thủy tinh của
Quách-Phù:
Lạ thay, con dế
lớn màu đỏ sậm, vừa
trông thấy con dế đen liền nép
mình khiếp sợ.
Dế đen
tiến đến tới đâu là
dế đỏ sậm thụt lui đến
đó.
Đối với
các con dế khác, dế lớn oai
hùng, vểnh râu múa càng như
thế mà với con dế
đen nhỏ
nầy thì lại tỏ ra khiếp nhược
chạy tròn theo hình bồn thủy tinh.
Chưa đủ,
để tỏ ra nhục nhã hơn nữa,
con dế lớn muốn thoát ra ngoài
bồn. Nhưng đâu
có được
với con dế nhỏ. Nó búng mình
nhảy theo cắn ngay vào bụng, dùng
hai càng
bật mạnh.
Chỉ một đòn thôi, con dế lớn
đã vỡ bụng chết ngay.
Thật ra cuộc
đấu này không có gì kỳ
lạ. Phàm loài dế có những
loại sống trong hang
của các
loài vật khác thường hay nhiễm
lấy màu sắc và độc tính
của những loại đồng
cư. Chẳng
hạn như dế cùng sống với
cóc người ta gọi là dế
cóc thì cánh có lốm đốm
hoa: dế cùng
sống với rắn thì gọi là
dế rắn. Dế này nhiễm độc,
cắn vào vật nào thì vật
ấy chết
tươi. Nhưng chỉ có giữa loài
dế mới phân biệt được.
Con dế Dương-Qua
vừa bắt chính là loại dế
rắn.
Quách-Phù
thấy dế lớn chết, tỏ vẻ
không vui, suy nghĩ một hồi rồi nói
với
Dương-Qua:
- Anh cho em xin con
dế "tiểu hắc quỉ" nầy nhé!
Tiểu hắc
quỉ là Quách-Phù muốn ám
chỉ con dế vừa nhỏ vừa đen
nhưng độc ác.
Dương-Qua
được dịp kiêu hãnh đáp:
- Cô nương
xin làm gì con vật xấu xí này!
Sao cô nương lại nguyền rủa nó
là tiểu hắc
quỉ?
Quách-Phù
bị chạm tự ái bĩu môi nói:
- Không cho thì
thôi! Coi bộ quí lắm đấy.
Dứt lời,
Quách-Phù lật úp chiếc bồn
xuống, trút con dế đen ra ngoài
đất rồi lấy chân
chà nát.
Dương-Qua
thấy thế nổi giận mặt đỏ
phừng phừng, đưa tay tát
vào con bé một cái nên
thân.
Bị cái
tát bất ngờ, Quách-Phù xửng
vững mặt mày. Cô ta đứng
trân chưa kịp suy xét
xem có nên
khóc hay nên không thì Vũ-tu-Văn
đã tiến đến sừng sộ:
- Đồ vũ
phu! Sao lại đánh người ta.
Dứt lời
Tu-Văn đấm vào bụng Dương-Qua
một thôi.
Vũ-tu-Văn
vốn được người mẹ
cố công rèn luyện nên đánh
rất đúng cách. Dương-Qua
bị đánh
bất ngờ, đau quá đưa tay
thoi lại. Nhưng Tu-Văn né kịp sang bên
rồi thuận để
đánh tới.
Dương-Qua
nhảy chồm lên, quyết cùng Tu-Văn
một trận kịch chiến. Khốn thay lúc
đó Đôn-Nhu
cũng chạy đến kịp đưa chân
khoèo vào chân Dương-Qua làm
cho
Dương-Qua
té nhào dưới đất. Vũ-tu-Văn
liền nhảy phóc vào người
Dương-Qua, gối
lên bụng,
hai đầu gối kẹp vào hông. Rồi
hai anh em họ Vũ thi nhau dùng cả bốn
tay
thoi Dương-Qua
tới tấp.
Dương-Qua
tuy lớn tuổi hơn anh em họ Vũ,
song không thể một mình đương
cự cả
hai. Phần thì
võ nghệ Dương-Qua cũng chẳng luyện
tập là bao lại ở trong thế bị
động
nên không
dư sức vận dụng nội công để
chiụ những đòn tán loạn
đó.
Hai anh em họ Vũ
thắng thế vừa cười vừa
thoi vào Dương-Qua bình bịch. Nhưng
tuyệt
nhiên, chúng
không dám động đến mặt
mày sợ vợ chồng Quách-Tỉnh
biết được thì
khốn.
Quách-Phù
thấy anh em họ Vũ đánh Dương-Qua
ban đầu lấy làm đắc ý.
Nhưng sau
thấy Dương-Qua
đau đớn quá cũng động
lòng và lo ngại.
Tuy nhiên, cô
bé này rờ lên mặt cảm
thấy dấu tay của Dương-Qua còn
nóng rát trên
vừng má,
tức giận nói với anh em Tu-Văn:
- Cứ đánh
nữa đi! Đánh nữa đi!
Hai anh em họ Vũ
nghe lời cổ võ của Quách-Phù
lại càng hăng lên nữa, ráng
sức thoi
thật mạnh
vào người Dương-Qua.
Dương-Qua
bị kẹt dưới sức nặng
của Tu-Văn vê hai đầu gối đau
đớn, không thể nào
vùng vẫy
được, đành nằm im thiêm
thiếp chịu đựng những quả
đấm liên hồi.
Đến lúc
hắn nghe tiếng Quách-Phù cổ võ,
bảo anh em Tu-Văn đánh nữa, hắn
lẩm
bẩm:
- A! Con bé này
độc ác thật. Rồi sau này mày
sẽ biết tay tao.
Trong lúc đó
hai anh em Vũ-tu-Văn thi nhau đánh vào
người nó như đánh vào
một bị
gạo. Dương-Qua
quá đau đớn, co rút người
lại, hai tay quờ quạng dưới
đất. Bỗng tay
nó vướng
phải một vật gì lạnh buốt. Thì
ra đó là xác con rắn chết
lúc nãy.
Một ý kiến
nảy nở trong óc, Dương-Qua nắm
lấy đầu con rắn vung lên. Hai anh
em
Vũ-tu-Văn
thất kinh, ngỡ con rắn sống lại,
vội bỏ Dương-Qua kéo nhau chạy.
Thừa thế,
Dương-Qua tung người dậy, đánh
vào mũi Vũ-tu-Văn một đòn
rất hiểm
độc, rồi
bỏ chạy.
Vũ-tu-Văn
bị trúng phải, máu mũi vọt
ra lai láng. Hai anh em tức giận băng
mình
đuổi theo
Dương-Qua. Quách-Phù cũng hăng
máu, chạy theo rất gấp, miệng la lớn:
- Bắt nó
cho được! Hãy bắt nó cho
được!
Dương-Qua
chạy một hồi quay đầu lại thấy
Tu-Văn mặt mày quần áo đều
nhuộm
máu. Biết
rằng nếu anh em họ Vũ đuổi
kịp ắt nó không thoát được
hiểm nghèo. Nó
liền nhắm
hướng về phía đồi núi
chạy một mạch.
Vũ-tu-Văn
tay bị đánh trúng mũi song thương
tích không lấy gì làm nhục.
Nó chỉ tức
giận Dương-Qua
đã làm nhục nó trước
mặt Quách-Phù mà thôi.
Thấy bị
đuổi quá gấp, Dương-Qua liền
leo lên đồi núi. Vốn quen sống
với đồi núi,
Dương-Qua
trèo núi rất nhanh. Chẳng mấy chốc
nó leo lên tận đỉnh.
ác hại
thay, đỉnh núi ấy phía bên kia
dốc đứng thẳng, nếu vượt
qua sẽ bị lăn nhào
xuống nát
thây.
Tình trạng
ấy khiến Dương-Qua bối rối quay
đầu nhìn anh em họ Vũ đang lần
mò
đuổi đến.
Nó chỉ
vào đỉnh núi la lớn:
- Nầy nầy!
Nếu chúng mày tiến lên một
bước nữa ta nhảy qua bên
kia đấy!
Anh em Vũ-tu-Văn
nhìn thấy dốc núi ghê sợ,
hoang mang không biết có nên đuổi
theo nó nữa
chăng.
Qua một hồi
suy tính, Vũ-tu-Văn cương quyết
nói lớn:
- Mày muốn
nát xương thì nhảy qua đó.
Chúng tao đâu thèm quan tâm đến
sinh mạng
mày.
Dứt lời
hai anh em họ Vũ ra sức đuổi nó.
Thấy không
thể hăm dọa được anh em Tu-Văn.
Dương-Qua phân vân không biết xử
trí cách
nào, thì chợt nó trông thấy
gần đấy có một tảng đá
lắc lư bên sườn núi tựa
hồ
như chỉ dựa
vào một điểm tựa mong manh.
Dương-Qua
chạy đến định núp mình
vào tảng đá. Nhưng tay nó vừa
mò tới thì tảng đá
bỗng sụt
xuống lăn theo sườn núi phát
ra những tiếng ầm ầm như sấm,
đất bụi tung
lên mịt
mù, trông rất khủng khiếp.
Tảng đá
lăn xuống đúng vào chỗ anh
em họ Vũ.
Vũ-tu-Văn
và Vũ-đôn-Nhu hồn vía không
còn, mặt mày xanh nhợt không còn
biết
tránh đi
đâu, chỉ chờ tảng đá
lăn xuống nghiền nát mà thôi.
Trong lúc nguy
hiểm, bỗng hai anh em Tu-Văn cảm thấy
như mình bay lơ lửng trên
không và
thoát dần ra khỏi đám bụi mờ.
Thì ra, hai con
thần ưng chẳng biết từ đâu
đến cứu đứa bé
thoát cơn nguy khốn. Hai
con thần ưng
đa hai đứa bé thẳng ra bể
khơi.
Hoàng-Dung đang
ngồi trong nhà bỗng nghe một tiếng
ầm kinh dị, rồi tiếp đến
tiếng
kêu của
thần ưng. Nàng đoán có việc
chẳng lành, liền vụt chạy ra ngoài,
thấy cát bụi
bay mịt trời
ở nơi sườn núi. Lại
thấy Quách-Phù đang ẩn mình
trong hốc đá. Nàng hốt
hoảng chạy
đến ôm chầm lấy con, đưa
ra khỏi chỗ hiểm nghèo.
Hai con thần
ưng thấy Hoàng-Dung liền hạ xuống
bỏ hai anh em họ Vũ trên đất
và
thốt ra những
tiếng kêu như muốn tường
trình công việc vừa xảy ra.
Hoàng-Dung ôm
lấy đứa con gái hỏi:
- Việc gì
như thế?
Quách-Phù
ngả đầu vào lòng mẹ, sụt
sùi kể lại câu chuyện nào Dương-Qua
tát vào
mặt nó,
nào Dương-Qua thoi vào người
Tu-Văn vọt máu, nào Dương-Qua xô
đá định
giết anh em họ
Vũ. Con bé đề cao việc anh em họ
Vũ, bênh vực nó, tuyệt nhiên
không hề
nói đến lỗi lầm của anh em
họ Vũ đối với Dương-Qua.
Nghe kể, Hoàng-Dung
sửng sốt không nói nên lời.
Bấy giờ
Quách-Tỉnh cũng chạy đến xem
thấy cơ sự trước mắt
lấy làm kinh ngạc, lo
ngại vì
sợ Dương-Qua trốn mất nên
chạy đi tìm.
Quách-Tỉnh
đi lùng một hồi lâu trong chân
núi chẳng thấy bóng Dương-Qua
đâu, liền
đua tay lên
miệng làm loa, rống lên một tiếng
như sấm động.
- Dương-Qua
ơi! Dương-Qua ơi!
Tiếng kêu
dội ra hàng chục dặm, nhưng rồi
dư âm cũng chìm đắm trong tĩnh
mịch
của núi
rừng, không có một lời
hồi đáp.
Ngỡ là
Dương-Qua có thể vượt biển
bơi vào đất liền, nên Quách-Tỉnh
dùng thuyền bơi
quanh đảo.
Nhưng rồi cũng vô hiệu. Trời
tối dần, màn đêm bao phủ cảnh
vật,
Quách-Tỉnh
phải trở về với một mối
buồn man mác.
Nguyên lúc
Dương-Qua vừa đụng vào tảng
đá, tảng đá vừa lăn
xuống thì nó cũng mất
thăng bằng
rơi xuống một cái hốc lớn.
Kế đó nó thấy đôi
thần ưng cắp anh em họ Vũ,
rồi đến
Hoàng-Dung xuất hiện, nó ái ngại
trong lòng, nghĩ rằng nếu nó trở
về thế nào
việc chẳng
lành cũng xảy ra. Nó liền tìm
một khe đá kín đáo hơn
lẩn trốn.
Bỗng nó
nghe tiếng Quách-Tỉnh gọi, nhưng nó
chẳng đáp lại, nép mình nằm
im thin
thít đến
nỗi dẫu Quách-Tỉnh có đến
gần cũng không thể nào trông
thấy.
Rồi nó
ngủ thiếp đi từ lúc nào
không biết. Đến khi thức dậy,
nó thấy bốn bề quạnh
vắng, màn
đêm bao phủ mịt mùng, chỉ còn
nghe tiếng côn trùng rỉ rả trong canh
khuya.
Nó cảm
thấy bụng nó đói như cào,
nó lần bước ra ngoài khe đá.
Gió lạnh lùa vào mặt,
ánh sao vàng
nhấp nhánh đầy nỗi cô đơn.
Nhìn xuống
chân núi về phía trang trại, nó
thấy ánh đèn còn leo lét
qua các khe cửa.
Một vài
bóng đen thấp thoáng trong sân, nó
tưởng tượng đến một
khung cảnh ấm êm
trong gia đình
với Quách.
Vừa đói
cơm vừa khát nước, vừa
thèm thuồng cái cảnh đoàn
viên, nó muốn quay về
sống chung với
họ Quách, nhưng nó lại sợ.
Hoàng-Dung, một con người lanh lợi
thông minh không
có một điều gì có thể
qua mắt được. Nó trù trừ
suy tính mãi.
Nhng rồi cuối
cùng nó thích cảnh tự do, không
muốn đem vào người nó
một ràng
buộc nào.
Nó trở
lại khe đá đánh một giấc
ngon lành cho đến sáng.
Ngày hôm
sau, nó vẫn nằm trong khe đá, không
dám ló mặt ra ngoài, vì nó
biết
Quách-Tỉnh
thế nào cũng đang đi tìm kiếm.
Rồi đến
lúc chiều tối, nó lại lần
ra ngoài, nhìn cảnh tấp nập vui vẻ
của trang trại như
muốn khêu
gợi lòng khát khao của nó. Tuy
nhiên, nó hình dung nét mặt nghi ngờ
của
Hoàng-Dung và
dáng điệu nham hiểm của Quách-Phù,
nhất định nó không trở
về.
Sống trong tình
trạng đó hai ngày thì người
nó lả đi vì đói khát,
nó nhất định phải tìm
phương sống.
Nó liền trèo qua bên kia đỉnh
núi mò đến một con suối bắt
nhái ở hai
bên bờ
cỏ đánh lửa nướng
ăn.
Nhưng khi đánh
lửa nó lại sợ vô tình
chỉ nơi trú ẩn mình cho Quách-Tỉnh,
nên nó rất
cẩn thận.
Trước khi mẹ nó thường
nói những lúc cần thiết phải
thổi lửa mà không
muốn lên
khói thì phải dùng những que
củi thật khô, bóc hết vỏ. Trường
hợp nó xét
thấy cần
cẩn thận hơn, nó chỉ dùng hai
lõm cây khô để tránh khói.
Đang ăn
mấy con nhái nướng ngon lanh, bỗng
nó nghe bên sườn núi có
tiếng rắn kêu.
Nó rón
rén bước ra xem, thì ra một con
rắn đang oanh hùng với một con
cóc. Con rắn
hổ phóng
cổ lên bằng nắm tay, đầu dựng
đứng toan áp đảo con cóc
vàng.
Cóc ta lấm
la lấm lét, chú mục nhìn theo đầu
rắn, hai chân trước ghì xuống
đất, hai
chân sau tọa
lạc trong thế sẵn sàng tung bắn.
Bỗng con rắn
hổ đâm vào thân cóc. Nhưng
cóc không nao núng ngẩng cao đầu
lên để
nghênh địch.
Và khi rắn xông vào thì cóc
đã phì một đám bọt trắng
làm cho rắn tối
mặt mày.
Rắn liền cuộn tròn thân hình
trong thế thủ, nhưng hình như độc
cóc nơi bọt
trắng bắt
đầu thấm dần vào mồm mép
của rắn, nên rắn dần dần
cảm thấy suy yếu,
cuối cùng
tự xét mình không đủ sức
đương cự, liền bỏ cóc
lẩn tránh vào bụi cây.
Đắc thắng,
cóc kêu lên mấy tiếng giống
như là tiếng kêu của Tây-độc
Âu-dương-Phong
lúc đánh thế võ "hàm mổ
công" vậy. (Hàm mổ có nghĩa
là con cóc,
con nhái).
Dương-Qua
kinh ngạc, tự hỏi:
- Phải chăng
Tây-độc Âu-dương-Phong đã
quan sát lối tấn công kỳ dị
của loài cóc để
sáng tạo
ra thế võ "hàm mổ công".
Đang suy nghĩ,
bỗng từ sườn đồi
có tiếng gọi của Quách-Tỉnh,
tiếng gọi nghe thiết
tha và cảm
mến. Tuy nhiên, Dương-Qua tự nghĩ
rằng Quách-Tỉnh là người
thù của
nghĩa phụ
nó, nếu nó trở về với
Quách-Tỉnh không khỏi bị đánh
tan xương.
Nghĩ thế
nó trở vào khe đá trốn.
Nó vật mình nằm xuống phiến
đá, bỗng nó thấy từ
bên ngoài,
Âu-dương-Phong rón rén bước
vào, vỗ nhẹ vào đầu nó,
nói:
- Cha trở
lại tìm con! Từ nay không còn
gì ngăn cách cha con ta nữa. Cha tiếp
tục dạy
con võ nghệ
để sau này lớn lên con sẽ
là một hiệp sĩ vô địch
trong thiên hạ.
Nói xong, Âu-dương-Phong
dựng nó đứng dậy, và
hai cha con mỗi người thủ thế
trên
phiến đá
như hai võ sĩ đang hờm đấu
với nhau.
Lạ thay, Dương-Qua
nhận thấy lần này Âu-dương-Phong
không có một lời chỉ dẫn
về
mỗi động
tác của chân tay, mà cứ nhìn
nó với cặp mắt đầy sát
khí rồi liên hồi tấn
công vào
nó như đang tấn công một địch
thủ chân chính. Nó có cảm giác
như nó đang
đương
đầu với một địch thủ
và nó thầm bảo có lẽ lần
này nghĩa phụ nó đã áp
dụng
một phương
pháp giáo dục thực tiễn hơn
chăng.
Bỗng lão
già hô lên những tiếng "ngoạp,
ngoạp" chấn động cả khe núi khiến
cho nó
nhớ lại
cuộc đấu hồi nãy giữa
cóc và rắn.
Vì đãng
trí nên thiếu đề phòng nó
bị một quả chưởng thôi sơn
của Âu-dương-Phong
đánh trúng
làm cho nó bật ngửa trên phiến
đá đau điếng cả người.
Nó lấy tay ôm mặt
suýt xoa, nhưng
vừa ôm mặt thì bỗng nó
tỉnh dậy, đưa mắt nhìn bốn
phía, không thấy
Âu-dương-Phong
đâu cả. Nó mỉm cười
biết rằng nó vừa qua một giấc
mộng.
Nó bước
ra khỏi khe đá, leo xuống núi để
tìm thức ăn thì bắt đầu
từ trong một lùm
cây tiếng
rống của Quách-Tỉnh vang lên:
-Dương-Qua!
Dương-Qua!
Nó bối
rối định vụt chạy, nhưng không
còn kịp nữa, chân nó lính
quýnh vấp vào một
tảng đá
ngã xuống và Quách-Tỉnh nhảy
đến ôm chầm nó vào mình.
Dương-Qua
nhắm mắt lại, tưởng rằng
Quách-Tỉnh sẽ nổi giận đánh
cho nó một trận
nên thân.
Nhưng không,
Quách-Tỉnh vẫn thiết tha, dịu giọng
nói:
- Cháu Qua! Sao
cháu dại dột muốn bỏ chú mà
đi?
Lại thấy
nó lả người đi vì đói,
Quách-Tỉnh liền vác nó lên
đem về trang trại.
Mọi người
thấy Dương-Qua trong tình trạng hôn
mê liền ra công săn sóc, nào
thuốc
men, nào hoa
quả. Tuyệt nhiên không một ai đả
động đến những sự việc
vừa qua.
Chẳng mấy
bữa, Dương-Qua được bình
phục sức lực như xa.
Vào một
bữa ngày lành tháng tốt. Quách-Tỉnh
cho thiết lập hương án ở
sảnh đường,
thỉnh bài
vị của Lục-quái Giang-nam, mời
sư phụ Kha-trấn-ác đứng
làm chủ lễ và tập
họp cả gia
đình lẫn gia nhân chứng kiến.
Quách-Tỉnh
và Hoàng-Dung mỗi người trịnh
trọng đứng vào hai bên bàn
án, còn bên
trẻ Quách-Phù,
Vũ-tu-Văn. Vũ-đôn-Nhu và Dương-Qua
gọn gàng trong bốn bộ y
phục hiệp
sĩ quỳ sát trước hương
án Lục-quái Giang-Nam.
Giữa bầu
không khí trang nghiêm của sảnh đường,
tiếng chiêng trống nổi lên vang
dội. Mọi
người im phăng phắc.
Chiêng trống
vừa dứt, Quách-Tỉnh bước
ra, hướng về bức di-họa của
Lục-quái bái
mấy bái
rồi thưa với Kha-trấn-ác:
- Thưa sư phụ,
hôm nay con là Quách-Tỉnh, xin phép
sư phụ được nhận bốn trẻ
môn
đệ của
võ phái Giang-Nam chúng ta. Tre già măng
mọc là lẽ đương nhiên của
tạo
hoá. Song trong
vườn võ nghệ, măng non cần
phải được uốn nắn để
lúc thành tre mới
hữu dụng.
Đoạn, Quách-Tỉnh
quay về phía bốn môn đệ nói:
- Quách-Phù,
Vũ-tu-Văn, Vũ-đôn-Nhu, Dương-Qua,
các con hãy bái lạy di-họa của
Lục-quái
Giang-nam đi. Trước linh hồn của
sáu vị anh hùng quá cố, và
trước sự chứng
kiến của
sư phụ ta, các con hãy thề trở
nên những môn đồ xứng
đáng, và hãy xem
nhau như ruột
thịt.
Lời nói
nghiêm trang, đầy thiện chí của
Quách-Tỉnh vừa dứt thì bốn
trẻ cùng một lúc
cung kính lạy
trước hương án, rồi lần
lượt xá Kha-trấn-ác, Quách-Tỉnh
rồi đến
Hoàng-Dung.
Cuộc lễ
xong, Quách-Phù níu áo mẹ nũng
nịu:
- Lúc nãy
trước bàn thờ vì trang
nghiêm quá con không dám nói chứ
bắt con kết nghĩa
với Dương-Qua
con không bằng lòng đâu.
Hoàng-Dung đang
suy nghĩ lời nói của con, chưa
kịp trả lời thì Quách-Tỉnh
đã quắc
mắt nói:
- Con không được
tỏ ra bội ước như vậy! Phàm
trong môn phái nhà ta, lời thề
là trọng.
Tính mạng
có thể mất chứ danh dự nhất
định không thể để mờ
phai. Nhất là lời thề
trước
Thất-quái Giang-nam, sáu chết một
còn, lại càng quan trọng lắm. Ta nay
còn
phải trọng
lời thề mà khắc cốt ghi lòng.
Đoạn hướng
về mọi người, Quách-Tỉnh
nói tiếp:
- Tính tôi,
công phu vũ nghệ học hỏi cũng
có thể gọi là khá nhiều, ngoài
căn bản do
Thất hiệp
truyền thụ, tôi đã từng
thao luyện vũ pháp nội công của
phái đoàn
Toàn-Chân
và của Tâm-Đại-Tông Đông-Nam-Bắc.
Nhưng để bắt đầu, tôi
xin truyền
dạy cho môn
đệ những ngón vỡ lòng
mà Kha-sư-phụ đã truyền giáo
cho tôi.
Trong lúc Quách-Tỉnh
nói, Hoàng Dung để ý vẻ mặt
trầm ngâm của Dương-Qua, và
nhớ lại
hành tung khả nghi của đứa bé
nầy, bụng bảo dạ:
- Cha thằng bé
nầy thực ra không phải ta giết,
nhưng việc đó ngoài ta ra có
ai biết
được.
Ai cũng nghĩ rằng ta đã sát
hại cha nó. Mà nếu mọi người
đều nói như vậy thì
nó không
thể nghĩ khác đi được.
Nay Quách-Tỉnh lại đem những bí
quyết của môn
phái mà
truyền dạy tất sau này đi học.
Chi bằng...
Nghĩ đến
đây, Hoàng-Dung liền nói với
chồng:
- Anh ạ! Em nghĩ
rằng một mình anh phụ giáo cho cả
thì sẽ quá vất vả. Xin anh giao
Dương-Qua
để em thay anh giáo dục.
Quách-Tỉnh
chưa kịp đáp lời vợ,
Kha-trấn-ác tán thành nói:
- Như vậy,
rất phải! Thế thì hai con đua nhau
dạy bảo để ta xem đồ đệ
nào mau tiến
bộ hơn.
Quách-Tỉnh
vẫn thường công nhận vợ
thông minh lanh lợi hơn mình, nếu
Dương-Qua
được
vợ chỉ giáo thì thấy không
trở ngại, liền nói:
- Tốt lắm!
Em sẽ giúp anh trong việc đào tạo
chúng nó.
Hoàng-Dung nói:
- Phàm trong
nguyên tắc dạy dỗ điều cầu
yếu là phải liên tục và duy
nhất. Vậy thiết
tưởng
chúng ta phải qui định một nhiệm
vụ hẳn hoi. Người nào phụ
trách môn đồ nào
phải chịu
trách nhiệm môn đồ ấy. Anh
không cần lo cho Dương-Qua, ngược
lại em
cũng không
cần để ý đến ba đứa
trẻ kia. Mỗi đứa bé có
một khả năng, tâm trạng và
hoàn cảnh
đặc biệt. Thế thì việc giáo
dục không thể đem áp dụng một
phương pháp
giống nhau.
Quách-Tỉnh
vô tâm, không hiểu được
dụng ý của vợ, trả lời:
- Điều
đó có gì mà phải phân
trần.
Hoàng-Dung liền
gọi Dương-Qua lại bảo:
- Qua nhi! Hãy
theo ta vào đây.
Dương-Qua
tuy còn nhỏ tuổi song đã có
đủ thông minh để suy luận. Nó
hiểu phần
nào dụng
tâm của Hoàng-Dung song nó vẫn có
ác cảm với ba đứa trẻ
kia, không
muốn cùng
chung tập luyện, nó hoan hỉ được
một mình một trường theo thọ
giáo với
Hoàng-Dung.
Hoàng-Dung bắt
nó vào thư phòng, đặt nó
ngồi trước một án thư, rồi
lấy ra mấy
quyển sách
cũ kỹ, giảng:
- Từ nay
mặc dù theo cuộc lễ chính thức
vừa qua, sư phụ của con là Quách-Tỉnh,
song ta được
ủy thác để chăm sóc giáo
dục con, con phải vâng lời ta dạy
bảo. Điều
trước
tiên con phải biết dưới sư
phụ của con lại có bảy sư phụ
danh truyền là
Thất-quái
Giang-nam, Kha-Công là đại-sư, còn
nhị sư là Châu-Thông có văn
tài đặc
biệt. Vậy
ta giảng cho con nghe những tuyệt tài
trong văn chương của Châu-Công.
Dứt lời,
nàng giở quyển thư cổ ra đọc:
- Vở viết:
học nhi thời tập chi, bất diệt
diệt hồ? Thư bảng tự viễn
phương lai, bất diệt
lạc hồ.
Đó là
hai câu rút trong Luân ngữ.
Dương-Qua
nghe đọc lấy làm kỳ quái,
nó thầm bảo:
- Tại sao bảo
nó thọ giáo vũ nghiệp mà lại
đem mang văn chương ra giảng dạy?
Tuy nhiên, nó
chẳng dám nói gì cả cứ
cắm đầu suy nghĩ.
Suốt mấy
ngày liền, Hoàng-Dung cứ đem
sách ra giảng tuyệt nhiên không đả
động gì
đến võ
nghệ, hết sách này đến sách
khác.
Một hôm,
sau buổi học, Dương Qua lững thững
dạo gót ra ngoài. Cảnh trí núi
rừng
trùng trùng
điệp điệp, hồ rộng mênh
mang nó chạnh lòng nhớ đến
nghĩa phụ, người
độc nhất
đã cứu vãn tâm hồn nó
một mối cảm giác thân yêu.
Để giải
buồn, nó đảo thân qua lại, dùng
hai tay cắm đầu xuống đất,
chổng chân ngưuợc
lên trời,
bắt chước theo lối đi của
Âu-dương-Phong thuở nọ. Rồi
nó ôn lại ngón võ
"Hàm-mô
Công" mà Âu-dương-Phong đã
truyền dạy lỡ dở từ
dạo nào. Nó cũng chua
chân, chong tay,
cong mình, y hệt điệu bộ của Tây-độc
Âu-dương-Phong. Nó vận
dụng các
bắp thịt rồi cũng tung người
lên với những tiếng kêu
"ngoạp, ngoạp".
Mồ hôi
nó toát ra như tắm, và cảm
thấy trong người thanh sảng, nhẹ
nhàng. Nó có
cảm giác
như đã tìm ra bí quyết của
ngón võ đó.
Thế là
ngay từ lúc hôm ấy, cứ
mỗi chiều lúc mãn học, nó
ra ven đồi, giữa cảnh rừng
nước
bao la, ôn luyện võ nghệ, vừa bồi
dưỡng thể chất vừa giải
thoát linh hồn.
Ngày tháng
êm đềm trôi trên đảo
Đào-hoa, Hoàng-Dung cứ một mực
dạy cho nó về
kinh nghĩa. Hết
Luận-ngữ đến Manh-tư rồi
đến Trung-dung. Thằng bé tỏ ra thông
minh đáo
để, nó nhớ làu làu
bất kỳ kinh sách nào đã
dạy.
Thật ra Hoàng-Dung
vốn có thành kiến với văn
nghiệp cho nên nàng quan niệm rằng
văn chương
chẳng qua là món để đầu
độc tư tưởng con người.
Dẫu có thông minh trí
tuệ đến
đâu cũng chẳng làm được
điều gì gọi là anh hùng trong
thiên hạ.
Với quan
niệm đó, Hoàng-Dung đem áp
dụng để ngăn cản bước
tiến về võ nghệ của
Dương-Qua.
Khi dạy đến Tứ-thư. Ngũ
kinh, Hoàng Dung đã sửa soạn cho
thằng bé
một tương
lai nhìn vũ trụ qua những câu
"Tứ viết".
Tuy nhiên, với
sức thông minh của nó, Hoàng
Dung cũng đã nhiều lần kinh ngạc,
tự
bảo:
- Nếu trau dồi
nó trong vũ nghiệp, thằng bé sau
này hẳn trở nên bậc phi thường.
Còn Dương-Qua,
lại có quan niệm khác. Nó bất
chấp phân biệt quan niệm văn chương
hay vũ thuật,
nó chỉ ước lượng việc
cần thiết đối với nó
là phải đối phó với
Hoàng-Dung. Nó
nghĩ ngợi phương pháp giáo
dục của Hoàng-Dung và lúc nào
nó
cũng cho Hoàng-Dung
đối xử với nó đầy
ác ý.
Nó hoài
tưởng đến Âu-dương-Phong,
một người thân nhất trên
đời mà nó còn tin
tưởng
được.
Vậy để
đối phó với pháp thuật
Hoàng-Dung nó nghĩ một cách đơn
giản là chỉ việc
dùng pháp
thuật của Âu-dương-Phong là có
thể chống đối nổi.
Nó không
hiểu rằng trong giới hảo hán
đương thời môn phái của
Âu-dương-Phong
cũng như
môn phái của Bạch đà Sơn
không được xem là chính thống.
Những lối phi
hành lộn
ngược những thế võ Hàm
mô công chẳng qua là những tà
thuật mà hiệp sĩ
chính thống
ai cũng xem như trái với võ
đạo.
Một chiều,
sau khi xem xong quyển Tả truyện, Dương-Qua
rời khỏi thư phòng, rảo
bước
về phía ven biển với ý nghĩ
mong ước được thoát
ly khỏi hải đảo. Nó nhìn đàn
hạc trắng
bay bổng lên cao, thèm thuồng mọi cái
tự do trong cuộc sống. Nó mới
được
có đôi
cánh như con chim hạc để bay đi
tìm nghĩa phụ.
Bỗng đằng
sau nó có những tiếng hô và
những tiếng thở. Nó nấp
sau mỏm đá nhìn
qua kẽ lá,
thấy Quách-Tỉnh đang kiên nhẫn
dạy hai anh em họ Vũ một miếng võ
gia
truyền.
Thật ra, quan sát
kỹ lối biểu diễn của Quách-Tỉnh
thì miếng võ này tuy lợi hại
nhưng
không đến
nỗi học tập khó khăn lắm. Thế
mà hai anh em họ Vũ tập đi, tập
lại năm
lần bảy
lượt vẫn chưa đạt được
ý muốn của Quách-Tỉnh.
Dương-Qua
than:
- Nếu sư
phụ trực tiếp dạy mình như thế
thì mình đã tiến bộ biết
bao. Hai đứa bé ngu
xuẩn nầy
tại sao lại may mắn gặp được
vũ sư lỗi lạc dường ấy.
Nó tiếc
cho nó! Nó tiếc không được
trực tiếp thọ giáo với Quách-Tỉnh.
Nhưng một
ý nghĩ bỗng đột xuất:
- Vì sao mình
lại không học lén? Nếu trong trường
văn chương đã có kẻ học
lén mà
trở nên
thánh hiền thì trong võ thuật mình
lại không thể học lén để
thành hiệp sĩ sao?
Nghĩ như
thế, nó rời khỏi nơi ẩn
núp, cởi trần ngay ra và biểu
diễn lại ngón võ của
Quách Tỉnh
đã dạy cho hai anh em họ Vũ.
Rồi từ
đấy mỗi chiều, sau khi rời
khỏi thư phòng nó lại bôn ba đến
nơi ven rừng để
học lén.
Một hôm,
nó ham tập luyện nhiều quá nên
trong người mỏi mệt nó nằm
trên một
phiến đá
cheo leo nơi bãi biển, ngủ thiếp đi
lúc nào không hay biết.
Bỗng có
tiếng sắt chan chát từ mé
biển vọng lên làm nó giật mình
tỉnh giấc. Nó nhìn
nơi phát
ra tiếng động thì thấy có một
chiếc thuyền vừa cập bến, đang
thả neo.
Bấy giờ
trời đang tối mịt, nó phải
vận dụng nhỡn quang mới trông
thấy hai người ăn
mặc rất
gọn ghẽ, mắt đăm đăm
quan sát tứ phía rồi nhảy lên
bờ. Cả hai bò sát trên
mặt đất,
hướng về trang trại.
Dương-Qua
cho đó là hai tên đạo tặc,
lấy làm tội nghiệp cho chúng đã
dại dột dấn
thân vào
tử địa.
Thật vậy,
Đào-hoa đảo là một sào
huyệt hiểm trở mà không có
kẻ nào có thể lọt vào
nếu không
có người hướng dẫn.
Nó thở dài, tiếc cho hai mạng
người sắp rơi vào tay
Hoàng-Dung.
Nó lại
nhìn sang phía khác và ngạc nhiên
nhận thấy dưới gốc cây
thúy liễu có bóng
một thiếu
nữ vận y phục màu trắng đang
đảo thân di động. Thiếu nữ
ấy dùng tay dí
ngược
đầu xuống đất. Thì ra đó
là cô bé Quách-Phù. Có lẽ
nó trộm thấy Dương-Qua
tập luyện
nên cố tình bắt chước
chăng?
Hai tên lạ
mặt bò dần tới. Và trong lúc
Quách-Phù đang chú tâm lo giữ
thăng bằng
cho thân hình
đảo ngược, hai tên kia bất
thình lình áp đến Quách-Phù
trói gô lại, đứa
bịt mồm
đứa nắm tay lôi xuống mé
biển.
Dương-Qua
sửng sốt, chưa biết phải nên
hành động thế nào cho có hiệu
quả. Nó chờ
xem hai tên lạ
mặt kia có những hành động
gì.
Hai tên lạ
mặt đặt Quách-Phù trong một lùm
cây, trói gô chân tay nó lại,
lấy áo nhét
mồm, rồi
tiếp tục hướng về phía
trang trại. Chúng tiến rất nhanh và
tỏ vẻ thông thạo
như những
ngời đã từng lui tới
vậy.
Tuy nhiên, chốc
chốc chúng dừng lại, tụm dần
vào nhau để bàn bạc những
gì không
rõ.
Dương-Qua
tự nghĩ:
- Nếu kêu
cứu chắc gì Quách-Tỉnh đã
ra kịp, trong lúc đó chúng có
thể thủ tiêu mất
con bé Quách-Phù
thì còn gì.
Trong lúc suy
tính nó nhìn con thuyền, nhìn mặt
biển, với ý nghĩ thoát ly đột
phát
trong óc nó.
Có lẽ đây là cơ hội ngàn
năm một thuở giúp cho nó thoát
thân.
Thế là
nó bỏ hẳn ý định phát
giác hai tên lạ mặt. Nó chạy xuống
biển với ý định lấy
trộm chiếc
thuyền để vượt biển ra khơi,
vào đất liền.
Nhưng lúc
nó chạy gần đến chiếc thuyền
thì bỗng trong khoang thuyền có tiếng
lách
tách. Rồi
cửa khoang mở một người
nhảy lên bờ...
Nó nép
mình quan sát sự thể. Hai tên lạ
mặt lúc này trở lại, đứa
đi trước dáo dáo xem
chừng, đưa
đi sau vác Quách-Phù lên vai lểnh
mểnh dò từng bước một.
Nhưng lạ thay!
Nó lại trông thấy một đứa
thứ ba! mà đứa thứ
ba nầy chắc chắn không
phải là
đồng bọn, vì nó đang nép
mình ẩn núp để quan sát như
Dương-Qua, đặc biệt
hơn nữa
đôi mắt nó chăm chăm gườm
vào hai kẻ lạ mặt.
Đợi
cho người lạ mặt thứ nhất
tiến đến gần, người thứ
ba nhảy chồm ra, đưa tay thoi
vào hông
rất mạnh. Người lạ thứ
nhất ngất xỉu xuống bãi cát
không kịp la lên một
tiếng và
tên đi sau vác Quách-Phù cũng
không kịp trông thấy nữa.
Người
lạ mặt thứ hai đem Quách-Phù
đặt vào khoang thuyền xong, không thấy
bạn
đồng hành
đâu, lấy làm lạ lên tiếng
hỏi:
- Kìa lão
đại! Lão đại còn làm
gì nữa mà chưa vào thuyền.
Tên sát
nhân vừa rồi vẫn núp bên
cạnh Dương-Qua giả giọng khàn khàn
đáp:
- Thật kỳ
quái! Thật kỳ quái!
Tên lạ mặt
thứ hai ngạc nhiên bỏ Quách-Phù
dưới thuyền lên khoang thuyền
nhảy
nhanh về phía
có tiếng nói.
Thừa dịp
đó, Dương-Qua nép mình bò
ra phía mé biển, lao lên khoang thuyền,
nấp
vào bên
kia ẩn thân.
Từ chỗ
núp Dương-Qua lắng tai nghe những
tiếng thình thịch. Nó đoán
chắc rằng tên
sát nhân
ban nãy đã hạ thủ luôn người
lạ mặt thứ hai nữa rồi.
Thật vậy,
chỉ chốc lát một nguời co chân
nhảy vào thuyền. Người đó
là Dương-Qua
nhận đúng
là người đã núp bên
nó và đã sát hại người
lạ mặt đi đầu lúc nãy.
Tuy nhiên, bây
giờ người ấy mặt mày
lấm tấm máu, quần áo tả
tơi, dáng điệu trông
dễ sợ
làm sao!
Dương-Qua
liền vận dụng thế võ Hàm-mô-công,
thân hình cong rúm, chân tay co
quắp, miệng
kêu lên mấy tiếng "ngoạp! ngoạp"
rồi tung người đâm bổ vào
bụng tên
sát nhân.
Bất ngờ
bị trúng phải một thế võ sức
nặng ngàn cân, tên sát nhân
văng bổng người
lên, rơi
xuống biển.
Dương-Qua
thở khì một tiếng nó không
ngờ thế võ nó rèn luyện
lâu nay lại đưa đến
một kết
quả khả quan như vậy.
Chưa kịp
mừng, Dương-Qua đã nghe tiếng
Quách-Tỉnh bất thần hỏi.
- Qua nhi! Con học
thế vó Hàm-mô-công ở
đâu thế? Có phải Âu-dương-Phong
đã
truyền dạy
cho con chăng? Lão ta bây giờ ở
đâu.
Dơng-Qua ngẩng
đầu lên thấy Quách-Tỉnh và
Hoàng-Dung đồng nhảy xuống thuyền
cùng một
lúc.
Rồi không
đợi nó trả lời, Quách-Tỉnh
nhảy vội xuống nước vời
lên sát nhân lên, rồi la
lớn:
- Em Dung ơi! Đây
là bạn của ta mà!
Tên sát
nhân miệng trào máu, vừa tức
giận nắm lấy Dương-Qua hét lên:
- Tại thằng
ranh con nầy sanh chuyện.
Bàn tay Hoàng-Dung
nắm vào như xé thịt. Dương-Qua
cảm thấy đau nhói cả người,
nhưng nó
nhất định cắn răng chịu đau
không rên rỉ.
Quách-Tỉnh
đến bãi cát nhìn mặt hai xác
chết thấy trong túi áo một tên
có bản đồ
Đào-hoa
đảo liền kêu Hoàng-Dung, nói:
- Em Dung, hãy
đến xem cái nầy!
Lúc đó
Hoàng Dung mới thả Dương-Qua ra,
nhảy đến bên Quách-Tỉnh cùng
xem bản
họa đồ.
Hai vợ chồng
bàn luận trông có vẻ quan trọng
lắm. Một hồi lâu, Kha-trấn-ác
đến. Cả
ba cùng tiếp
tục thảo luận.
Khi mọi người
như đã thảo luận xong, cùng nhau
về phía Dương-Qua, làm cho
Dương-Qua
có cảm giác bối rối lạ lùng.
Nó đưa tay chỉ vào khoang thuyền
nói:
- Thưa sư phụ,
Quách-Phù đang bị chúng nó
trói bỏ nơi đây.
Mọi người
xúm lại cởi trói cho Quách-Phù
và thấy Quách-Phù không bị
thương tích gì
nên rất
hoan hỉ.
Trên đường
về, Quách-Tỉnh bảo Dương-Qua:
- Này Qua nhé!
Con không thể ở yên trên đảo
này được. Ta phải đưa
con đến
Trùng-Dương-cung
ở Chung-Nam-Sơn để tìm giáo
chủ của phái Toàn-Chân mà
xin
thọ giáo
võ nghệ mới được.
Dương-Qua
nghe nói biết đó là kết
quả cuộc bàn bạc quan trọng của
vợ chồng
Quách-Tỉnh
vừa rồi. Nó im lìm nghe theo chẳng
dám tha hỏi gì cả.
|