THẦN
ĐIÊU ĐẠI HIỆP - HỒI 44
Thủy
tiên U Cốc
Kim Dung
Đạt-nhĩ-Ba
vẫn không tin, nhảy xổ đến
nắm lấy vạt áo Dương-Qua.
Võ công
Đạt-nhĩ-Ba giỏi hơn Dương-Qua
nhưng vì trong lúc sư-phụ hắn đang
tại
bệnh, nên
hắn bối rối tinh thần thì Dương-Qua
đã dùng một thế tầm thường
gạt hắn
sang một bên,
té nhủi xuống đất.
Trước
đây đã nhiều lần Đạt-nhĩ-Ba
e ngại Dương-Qua, còn Dương-Qua thì
đã rõ tài
nghệ của
đối phương nên vừa đánh
xong một thế lại phải lui về một
bớc.
Chẳng biết
lúc ấy do đâu hai đầu gối
của Đạt-nhĩ-Ba run lên, hắn té
sụm xuống đất,
ngẩng mặt
nhìn Dương-Qua nói với giọng
nghẹn nghẹn:
- Xin đại
sư-huynh hãy nghĩ đến ân nghĩa
đối với su phụ tôi. Nay sư-phụ
tôi về đây
dưỡng
bệnh mà sư-phụ động thủ thì...
Chỉ nói
đến, hai dòng lệ Đạt-nhĩ-Ba
đã tuôn trào, rồi ngất nghẹn.
Dương-Qua
tuy chưa hiểu Đạt-nhĩ-Ba muốn nói
gì, nhưng nhìn qua vẻ mặt ảo não
của
hắn, và
thấy sư-phụ hắn rũ rượi,
đang ngồi tham thiền, thì biết ngay
hoàn cảnh của hai
người
đang gặp lúc nguy biến, nên chàng
vội cúi xuống, đưa tay đỡ
Đạt-nhĩ-Ba dậy
ôn tồn
nói:
- Ta không làm
hại sư-phụ ngươi đâu! Ngươi
cứ an lòng.
Đạt-nhĩ-Ba
nhìn thấy nét mặt ôn hòa của
Dương-Qua lòng mừng khấp khởi.
Mặc dù
ngôn ngữ
cách biệt, tâm hồn chưa được
giao cảm cho mấy. Đạt-nhĩ-Ba cũng
rõ
Dưg-Qua không
có ác ý gì.
Giữa lúc
đó Kim-luân Pháp-Vương hé
mắt nhìn thấy Dương-Qua. Ông ta
sợ hãi vô
cùng. Vì
nãy giờ, ông ta không hề hay
biết gì việc Dương-Qua và Đạt-nhĩ-Ba.
Giờ
đây ông
thấy kẻ thù tự nhiên xuất
hiện trước mặt, làm sao ông
khỏi bối rối.
Qua một tiếng
thở dài não nuột, Kim-luân Pháp-Vơng
lẩm bẩm:
- Uổng công
ta tập luyện bao năm, nay lại phải bỏ
mình trên đất Trung-Nguyên nầy.
Thật vậy,
Kim-luân Pháp-Vương vừa bị
một hòn đá lớn đập
vào mình, ngũ tạng đến
thọ thương,
phải ẩn trong chốn rừng sâu nầy
để điều trị. Nếu Dương-Qua
kẻ thù ông,
tìm gặp,
ông chỉ còn có cái chết mà
thôi.
Lạ thay! Bây
giờ ông ta lại thấy Dương-Qua
với vẻ mặt hồn nhiên, đầy
thiện cảm,
bớc đến
trước mặt ông.
Trong lúc ông
ta còn đang ngơ ngác, thì Dương-Qua
đã cúi đầu nói:
- Kẻ hèn
này đến đây không phải
để trả thù, xin chớ "ngại".
Pháp-Vương
bối rối, không hiểu gì cả nên
lắc đầu lia lịa, mà trống
ngực tim đập thình
thịch.
Ông ta lập
tức vận công lên năm đầu
ngón tay để phòng gặp chuyện
trắc trở.
Dơng-Qua liền
nắm lấy đầu ngón tay ông
ta, bấm vào huyệt Dơng! Đạt-nhĩ-Ba
sợ
quá, bớc
tới xô Dơng-Qua lùi lại.
Dương-Qua
quắc mắt, đưa tay trái gạt Đạt-nhĩ-Ba
ra một bên, rồi nghiêm mặt bảo:
- Hãy đứng
yên.
Đạt-nhĩ-Ba
bị văng ra một bên, liền quay lại
nhìn sư phụ, thấy nét mặt ông
lại tươi
hẳn lên,
và trong miệng lại điểm một nụ
cười, lòng chàng quá đỗi
mừng, và cũng hết
sức kinh
ngạc như có phép mầu nhiệm huyền
diệu gì!
Chàng Nhĩ-Ba
đứng sững nhìn Dương-Qua
vận nội công truyền khí lực
của chàng vào
Thông-linh-đài
của thầy mình làm rung chuyển tám
huyệt trong ngơừi của Kim-luân
Pháp-Vương
phục hồi chẳng mấy chốc, và
vết thương trên ngực Kim-luân
Pháp-Vương
cũng khỏi hẳn, hai gò má của
lão trở nên hồng hào khác
thường.
Kim-Luân Pháp-Vương
đôi mắt như van lơn, cảm tạ
Dương-Qua, lão chắp tay nói:
- Cám ơn
ngài đã đến đây giúp
tôi.
Dương-Qua
bình tĩnh đáp:
- Thưa ngài,
đây là bổn phận của tôi
phải đến tạ ngài. Vì trước
kia tôi đã hiểu lầm
Hoàng-Dung và
Quách-Tỉnh là ân nhân của tôi,
nên đã có nhiều lời
oán trách ngài.
Nhưng ngày
nay tôi đã biết được
Quách-Tỉnh và Hoàng-Dung là kẻ
đã giết cha tôi
trước
kia. Nên nay quyết đi tìm kẻ thù
để báo cứu. Không ngờ
lại gặp Đạt-nhĩ-Ba, tôi
theo đến
đây để giãi bày sự
lầm lẫn trước đây.
Kim-luân Pháp-Vương
chắp tay tha:
- Tôi không
ngờ tráng-sĩ lại mang oan nghiệt
như vậy, nhưng tôi nhận thấy vợ
chồng
đại hiệp
họ Quách võ nghệ rất cao siêu,
nay Dương tráng sĩ muốn báo thù
thì e cũng
khó lắm.
Dương-Qua
trầm ngâm một hồi lâu, rồi
nói:
- Như thế
thì hai đời họ nhà tôi,
phải đành chịu chết dưới
bàn tay họ Quách vậy.
Pháp-Vương
buồn bã nói:
- Ban đầu
tôi cứ ngờ mình là vô
địch trong thiên hạ, nên muốn
đem sức mình ra áp
đảo quần
hùng, tranh thủ địa vị trong đám
võ hiệp. Chẳng ngờ sau trận ở
Kinh-Sài-Quan
tôi đã bị đám người
võ nghệ ở đó kéo đến
chừng bảy tám người, áp
đảo quá
mạnh, làm tôi phải chịu khuất
phục.
Dương-Qua
ân cần hỏi:
- Ngày nay có
thể giúp tôi để báo thù
cha được không?
Pháp-Vương
nói:
- Hiện nay tôi
vẫn còn muốn tranh hùng với
bọn đại-hiệp võ nghệ Trung-Nguyên.
Vậy
tráng sĩ
cứ chịu cùng tôi, tham dự
cuộc tranh hùng sắp đến được
không?
Dương-Qua
định gật đầu nhận, nhưng
liền nghĩ đến thảm cảnh quân
Mông-cổ sẽ tàn
sát dân
tộc Trung-nguyên, nên đáp:
- Tôi không
thể giúp quân Mông-cổ được.
Pháp-Vương
lắc đầu nói:
- Như vậy
là tráng sĩ định đương
độc một mình để báo thù
vợ chồng Quách-Tỉnh sao?
Quả thật
như thế là khó lắm.
Dương-Qua
nghĩ ngợi một lúc rồi nói:
- Tôi bằng
lòng giúp ngài trong việc đoạt
chức minh chủ, nhưng điều kiện
là ngài phải
giúp tôi
báo thù cho cha tôi.
Kim-luân Pháp-Vương
vui vẻ, ngửa bàn tay ra nói:
- Chúng ta là
bậc trượng phu chỉ nói một lời,
xin tráng sĩ cùng tôi đập bàn
tay ăn thề.
Kim-luân Pháp-Vương
và Dương-Qua đập bàn tay ba lần
giao ước với nhau:
Dương-Qua
nói tiếp:
- Tôi chỉ
chịu giúp ngài trong ngôi minh chủ,
nếu như sau này ngài giúp quân
Mông-cổ
tàn ác thì tôi bỏ lời
giao ước nầy.
Kim-luân Pháp-Vương
cưi hô hô nói:
- Mỗi người
đều có chí hướng riêng,
không thể cưỡng ép nhau. Nhưng
này Dương
tráng sĩ
ơi! ông bạn đã sống qua rất
nhiều môn phái, mỗi môn phái
đều có một nền võ
tuyệt đỉnh.
Thế mà ông bạn không chuyên
một phái nào, võ công tạp nham
như vậy,
thử hỏi
nếu muốn tranh hùng với vợ
chồng Quách-Tỉnh, kẻ đã vang
danh thiên hạ,
ông bạn
sẽ lấy đâu ra ngón sở
trường để ứng đối.
Câu nói
của Pháp-Vưng làm cho Dương-Qua
lúng túng, chẳng biết trả lời
ra sao.
Chàng tuy có
tính tham học, đã tập luyện được
nhiều môn, trải qua nhiều phái võ,
nào
là Toàn-chân,
Âu-dương-Phong, Ngọc-nữ Tâm-kinh,
Cửu âm chân kinh,
Hồng-thất-Công
v.v... Nhưng xét cho kỹ thì môn phái
nào chàng cũng chỉ mới nghiên
cứu tạp
nhạp, chưa luyện đến độ trác
tuyệt. Vì vậy, nếu gặp phải đối
thủ tầm thường,
thì chàng
có thể làm hoa mắt họ để
thủ thắng; còn nh gặp phải kẻ
chân truyền,
chàng rất
lúng túng, không sao tránh nổi.
Dương-Qua
thấy lời Kim-luân Pháp-Vương
vừa nói chẳng khác nào như
nhát búa
đánh vào
đầu, rung chuyển đến tim óc,
khiến chàng tỉnh ngộ và tự
nhủ:
- Võ công
ta chẳng khác tâm hồn của ta, chỉ
có bề rộng mà không có bề
sâu, thay đổi
tùy hoàn
ảnh của thời gian. Ví như ta đã
cùng ớc hẹn với Trình
Anh và Lục-vô-Song,
yêu nhau suốt
đời, thế mà đến lúc
gặp Hoàng-nhan-Bình, cô gái mỹ
miều kia, lòng ta
cũng không
khỏi xao xuyến.
Chàng buông
một tiếng thở dài, đưa mắt
nhìn phía trời xa, lẩm bẩm:
- Hoàng-dược-Sư,
Âu-dưng-Phong, Hồng-thất-Công sở
dĩ họ nổi danh trên đời
là vì
họ chuyên
chú rèn luyện theo một môn phái,
nghiên cứu đến chỗ uyên
thâm. Còn ta,
chỉ vì quá
ham muốn mà ta đã bao làm môn
nầy cha thông đã bước
sang môn khác.
Rốt cuộc,
không món nào có căn bản!
Ôi! Khổ thay! Ta đang học Ngọc-Nữ
tâm kinh,
thấy "Ngọc
tiêu kiếm pháp" của Hoàng-dược-Sư
và đả cẩu bổng của Hồng-thất-Công
cho là tuyệt
diệu, vội bỏ qua Ngọc-Nữ tâm-kinh
không học nữa.
Càng nghĩ,
gan ruột Dương-Qua càng nóng như
lửa đốt.
Qua một lúc
chàng tự nhủ:
- Ta phải tập
hợp các sở trường của
mọi môn phái để tạo ra một
phái mới, riêng biệt
của ta mới
được.
Nghĩ như
thế, Dương-Qua mừng khôn xiết.
Đôi mắt sáng lên. Mới
biết con ngời
muốn sáng
tạo sự nghiệp mới, lẽ tất
nhiên không nên dựa vào nơi
nầy, nơi khác để bắt
chớc được.
Dù sao có giỏi cho lắm, suốt đời
con người cũng chỉ ở vào
hạng hai,
hạng ba là
cùng.
Hơn ba ngày
trời, cứ từ sáng đến
trư từ trưa đến tối, Dương-Qua
chỉ gặp những
chuyện khó
nhọc không ăn không ngủ được.
Nên lúc nầy chàng đuối sức,
và tâm thần
bấn loạn
lên. Vì các phái võ lâm lần
lượt thay phiên nhau xâm chiếm vào
đầu óc
chàng. Chân
tay chàng tự động quay cuồng qua
nhiều thứ võ, cứ như thế
múa mãi như
người
điên.
Quá mệt
mỏi lại thêm uất ức, nên
chàng ngã vật xuống đất bắt
tỉnh.
Đạt-nhĩ-Ba
từ nãy giờ đứng
đàng xa trông lại, thấy cử
chỉ Dương-Qua điên điên
khùng khùng
lấy làm ngạc nhiên. Bây giờ
thấy Dương-Qua còn ngã xuống
đất,
Nhĩ-Ba lại
càng kinh hãi hơn, định chạy
lại đỡ chàng dậy. Nhưng Kim-luân
Pháp-Vương
đa tay cản Đạt-nhĩ-Ba lại nói:
- Con chớ
hấp tấp làm loạn tâm của Dương
tráng sĩ, để cho tráng sĩ nằm
nghỉ cho
khỏe.
Dương-Qua
nằm thiêm thiếp đến nửa
đêm mới tỉnh lại. Nhưng chàng
tỉnh lại là vung
tay chân, múa
võ đến mệt rồi lại ngất
xỉu xuống đất nằm thiếp đi.
Cứ như thế mà
chàng say, tỉnh
hơn bảy ngày trời không ăn
uống gì cả.
Trong lúc say
mê, quyền võ của chàng càng
thêm ác hiểm, nên một quả đấm
vung ra
như muốn
xẻ đôi thân, một cái đá
bung lên có thể bay một hòn đá
lớn Đạt-nhĩ-Ba sợ
quá không
dám mon men lại gần.
Sang ngày thứ
tám, thì quyền cước Dương-Qua
đã yếu dần, nên quả đấm
hôm tước
như trời
giáng, nay đụng vào thân cây
cũng chả làm cho chiếc lá lay động.
Dương-Qua
cảm thấy như tất cả võ công
của chàng đã thuần chính rồi,
tâm trí của
chàng lúc
nầy phân định được
rõ ràng. Từ từ chàng
ngồi thu hình lại, dụng vận hết
tâm não,
gân mạnh khiến cho cơ thể được
hồi phục lại.
Dương-Qua
ngồi dậy, nghe bụng đói như cào.
Chàng nhớ lại đã hơn mười
ngày rồi,
chưa có
ăn uống gì cả, nên định
đi tìm món ăn cho đỡ
dạ. Chợt nhìn thấy giỏ trái
táo
trên nệm
cỏ, chàng vội bước lại ăn
hết giỏ táo, mà Đạt-nhĩ-Ba
đã hái về cho Kim-luân
pháp-Vương.
Kim-luân Pháp-Vương
mừng rỡ kêu lên:
- Dương tráng
sĩ ơi! Tôi xin chúc mừng vũ
học của tráng sĩ đã thành
công.
Pháp-Vương
vừa nói, vừa uốn cong mình
như con rắn, rồi thở mạnh một
luồng khí
lạnh. Dương-Qua
vội né mình sang một bên, vung tay gạt
mạnh luồng khí lạnh bay tạt
ra xa. Pháp-Vương
lại phóng thêm một chưởng
phong nữa. Dương-Qua lại dùng năm
đầu ngón
tay chận lại. Chưởng phong của Kim-luân
Pháp-Vương gặp năm đầu ngón
tay liền quấn
lại. Dương-Qua thấy rõ tài nghệ
của chàng lúc nầy đã khá
hẳn rồi, nên
hiểu rõ
được Kim-luân Pháp-Vương
muốn tỏ cho mình biết vết thương
của ông đã
lành... Chàng
liền nói lớn:
Tôi rất
mừng cho vết thương của ngài
đã khỏi. Vì những người
trong lòng có văn thơ
thì hơi
thở cũng thơm tho.
Dưg-Qua từ
lúc phát hiện ra võ phái mới,
tuy vóc dáng của chàng còn trẻ,
mà đã có
vẻ am hiểu
rất thấu đáo. Kim-luân Pháp-Vưng
ngắm nghía Dương-Qua thầm nghĩ:
- Mình được
người nầy giúp sức thì
hay biết mấy!
Lão nghĩ
một lúc rồi nói:
- Dương tráng
sĩ ơi! Tôi định dẫn tráng
sĩ đến gặp một người
tài đại lược, tâm trí
cao
thượng.
Dương-Qua
liền hỏi:
- Thư ngài,
người đấy là ai?
Pháp-vương
đáp:
- Người
ấy là Vưng-tử Hốt-tất-Liệt,
cháu trai của Thành-cát Tư-Hãn,
con của Hoàng
thái-tử
Đà-Lôi xứ Mông-cổ.
Dương-Qua
từ ngày biết những hành
động, tàn ác của quân Mông-cổ,
mỗi khi nghe
đâu tiếng
Mông-cổ là ghét cay ghét đắng,
nên chau mày nói:
- Tôi đang
nóng lòng muốn báo thù cho cha
tôi, nên việc Mông-cổ tôi thấy
chưa cần
thiết gì
mấy.
Pháp-Vương
cười nói:
- Tôi đã
hứa giúp cho Dương tráng sĩ,
thì đâu có dám thất tín.
Nhưng hiềm vì
Vương-tử
Mông-Cổ mời đến không
thể nào từ thác đợc.
Vả lại binh tớng của
Hốt-tất-Liệt
không cách xa đây là mấy,
chúng ta có thể cùng đi.
Dương-Qua
không biết nói thế nào, để
từ thác được, nên thầm
nghĩ:
Đơn độc
một mình khó mà đánh lại
vợ chồng Quách-Tỉnh, chi bằng
ta chiều lòng
Kim-luân Pháp-Vương,
rồi sẽ định liệu sau.
Pháp-Vương
thấy Dương-Qua làm thinh, liền nói:
- Thôi bây
giờ chúng mình cùng đi.
Kim-luân Pháp-Vương
và Dương-Qua cùng băng đèo,
vợt suối hơn nửa ngày trời
đến
Mông-Cổ.
Lúc đến
doanh trại Mông-Cổ, quân cảnh vào
bẩm với chủ tướng, hai người
được mời
vào.
Doanh trại Mông-Cổ
là những túp lều tuy làm đơn
giản, nhưng rất đẹp. Vua quân
Mông-Cổ
không thích ở cung điện, bởi
vì họ đã quen với đời
sống chinh chiến.
Dương-Qua
thấy nơi ở của Hốt-tất-Liệt
rất trang nghiêm, tuy với lối bày
biện giản dị
không xa hoa.
Một vị Vương-tử tuổi trạc
hai mươi lăm đang ngồi đọc
sách, vừa
thoáng thấy
hai người, Hốt-tất-Liệt vội
chạy ra đón chào niềm nở,
mời vào trại.
Kim-luân Pháp-Vương
chỉ vào Dương-Qua nói:
- Hôm nay tôi
xin giới thiệu với vương tử
một vị thiếu niên đại anh hùng,
là Dương
tráng-sĩ,
một ngươi tuổi trẻ lỗi lạc
nhất trên đời.
Dương-Qua
quá ngạc nhiên, từ trớc
tới giờ chàng vẫn đinh
ninh dòng họ Thành-cát
T-Hãn rất
hung dữ. Không ngờ Hốt-tất-Liệt
đứng trước mặt chàng,
lại là một thư
sinh giống người
Hán, mà lại đọc sách chữ
Hán. Thật kỳ lạ vô cùng.
Dương-Qua
đang mải mê nghĩ ngợi, bị
Hốt-tất-Liệt vỗ vào vai làm
cho chàng giật
mình. Vương-tử
vui vẻ mời Dương-Qua uống rợu
"mã nhủ". Miệng mời tay cầm
một
hồ rợu
rót vào chén lớn.
Ngày thường
Dương-Qua vốn không phải là người
thích rượu. Nhưng lần nầy
vào
chốn vương-gia
không lẽ từ chối cách nào
đợc. Chàng nhìn qua thấy Kim-luân
Pháp-vương
đã uống cạn chén. Không thể
ngần ngại gì nữa, chàng cung
kính đỡ chén
rượu
trên tay Hốt-tất-Liệt, rồi uống
một hơi. Rượu vào miệng chàng
nghe cay sè cả
cuống họng.
Chư bao giờ Dương-Qua gặp rợu
nặng đến thế, nhưng chàng vãn
cố
giữ cho
vẻ mặt tự nhiên.
Hốt-tất-Liệt
cười hỏi:
- Rượu
có ngon không, thưa tráng sĩ?
Dương-Qua
đáp:
- Thưa Vương-tử,
rượu ngon lắm, uống vào như
dao cứa cổ, cay đắng lạ thờng.
Nhưng thế
mới thật là rượu của
nam tử, người con trai Hán-tộc
ai cũng ưa dùng thứ
rươu nặng.
Hốt-tất-Liệt
quá sung sướng, gọi quân lính
bưng thêm ruợu ra. Phút chốc mỗi
người
đã uống
tới năm chén lớn, Hốt-tất-Liệt
quay sang Kim-luân Pháp-Vương nói:
- Quốc sư
tìm được vị đại nhân
nầy ở đâu thế? Thật là
may mắn cho nước Mông-cổ
lắm.
Kim-luân Pháp-Vương
liền đem tình đầu câu chuyện,
thuật lại cho vương-tử Mông-cổ
nghe, và hết
lời xưng tụng Dương-Qua.
Nếu như
gặp người khác, thì chắc
khó tin ngay lời của Kim-luân Pháp-Vương
xưng
tụng quá
mức một người trẻ tuổi
như Dương-Qua. Nhưng Hốt-tất-Liệt
cũng là một
thần đồng,
trẻ mà tài trí cao xa xuất chúng,
khí độ rộng rãi, nên không
chút nghi ngờ
lời của
Pháp-Vương.
Hốt-tất-Liệt
ra lịnh cho quân lính làm tiệc thiết
đãi, và nói với Kim-luân
Pháp-Vương:
- Đợi
hội đây cho đông đủ, tôi
sẽ giới thiệu với quốc-sư
mấy vị cao nhân khác.
Hiện thời
Hốt-tất-Liệt trở thành một
vị vương tử Mông-cổ. Tuy nhiên
đó là một việc
khó khăn,
trắc trở vô cùng. Vì Thành-cát
Tư-Hãn lúc mang quân đi thôn
tính các nước
phía Tây,
gặp cuộc chinh chiến quá gay go dằng
dai cho nên Thành-cát T-Hãn luôn
luôn vắng
mặt ở triều đình, khiến
cho triều đình xục rục giữa
con trưởng và con thứ
tranh nhau chức
vị, đến nỗi họ mưu hại nhau.
Lúc đó con thứ ba là Oa-khoát-Đài
với
con thứ
tư là Đà-Lôi thì liên
kết nhau.
Thành-cát
Tư-Hãn lại ghét tính hung bạo của
người con trưởng và người
con thứ hai,
nên trước
khi chết, ông lu lại chiếu phong cho Oa-khoát-Đài
kế vị. Sở dĩ
Oa-khoát-Đài
được lên ngai vàng cũng
là nhờ Đà-Lôi một phần
lớn.
Năm Tân-Mão,
Oa-khoát-Đài thân chinh đánh
nước Kim, bỗng nhiên bị cấm
khẩu.
Đà-Lôi
vì quá thương anh nên nguyện với
trời Phật chịu chết thế.
Khi đó có một vị
pháp- sư
đến cứu Oa-khoát-Đài,
nhưng buộc phải có người trong
anh em thế mạng mới
được.
Thái-Tử Đà-Lôi nghe cứu
được anh nên mừng quá,
nhận uống ly rượu độc do
Pháp sư
ban phép. Lạ thay Đà-Lôi uống
xong ngã vật xuống chết, thì bệnh
của
Oa-khoát-Đài
cũng khỏi.
Vì vậy Oa-khoát-Đài
suốt đời cảm kính ân
sâu của Đà-Lôi, đã chịu
chết thay cho
mình, nên
đối với vợ con Đà-Lôi
rất ân hậu. Đến lúc Oa-khoát-Đài
chết đã di chiếu
lập con của
Đà-Lôi là Mông-Ca lên kế
vị.
Khốn thay lúc
đó, quyền hành lại rơi vào
tay Hoàng-hậu. Bà nầy không nghe theo
di
chiếu của
chồng, đã dùng mưu lung lạc một
vị đại thần trong triều, gạt
bỏ di chiếu
tiên vương,
tự mình lên chấp chánh bốn
năm. Sau bốn năm truyền ngôi cho con
bà là
Quý-Do. Quý-Do
lên ngôi chưa đầy một năm
bị mất quyền hành lại trở
về tay
Hoàng-hậu.
Trong triều thần
không chịu cho Hoàng-hậu giữ việc
triều đình, vị họ nhớ
đến công
đức
của Đà-Lôi. Nhờ mưu kế
của Hốt-tất-Liệt, Mông-Ca được
tôn lên vương-vị. Để
trả ơn cho
Hốt-tất-Liệt, Mông-Ca phong cho Hốt-tất-Liệt
làm hoàng-thất-đệ, sau nầy
sẽ được
nối ngôi mình.
Như vậy, sau
Mông-Ca thì đến quyền hành
của Hốt-tất-Liệt. Hốt-tất-Liệt
đã từng ở
Trung-Nguyên lâu
ngày, rất khâm phục nền văn
minh Trung-Nguyên, nên đã thường
cùng với
đám nho-sĩ học hỏi đàm
đạo thi thơ, lại luôn luôn tìm
tòi các vị võ nghệ cao
cường
làm vây cánh, để xâm chiếm
nhà Tống.
Yến tiệc
bày ra, Hốt-tất-Liệt mời các
quan khách an tọa, Hốt-tất-Liệt ngồi
bên
Dương-Qua.
Uống lưng chén rợu, bỗng Hốt-tất-Liệt
gọi lớn:
- Nào, xin mời
các tiên sinh ở Chiêu-hiền ra
mắt.
Rồi quay sang
Dương-Qua nói nhỏ:
- Tôi được
gặp mấy vị cao nhân tại Chiêu-Hiền,
mấy vị hợp ý tôi lắm,
tuy nhiên
cũng ngại
không vừa lòng quốc-sư và
tráng-sĩ.
Vừa lúc,
quân hầu vào bẩm:
- Thưa Vương-tử
khách đã vào.
Tấm màn
kéo lên, xuất hiện bốn người.
Dương-Qua ngạc nhiên, khi nhìn thấy
bốn
người
vừa bước vào.
Người
thứ nhất thân thể như một
xác chết khô.
Người
thứ hai vừa lùn, vừa đen.
Hai người
này không ai xa lạ, chính là Tiêu-tương-Tử
và Ni-ma-Tinh mà Dương-Qua
đã thấy
ở Sơn-cốc-Trung, trong một đêm
tối trời bữa nọ.
Người
thứ ba thân cao chừng tám thước,
tay to, chân lớn, hai mắt trắng đục
như khu
tộ.
Người
thứ tư mũi cao, mắt sâu hoáy,
râu vàng khè, dáng điệu người
Hô, nhưng ăn
mặc theo kiểu
người Hán, cổ đeo hai viên
ngọc sáng, tay có vòng chuỗi đá
quý, trông
không ra nam,
mà cũng không ra nữ.
Hốt-tất-Liệt
đưa tay mời bốn vị an tọa,
rồi giới thiệu với tân
khách. Người cao, lớn
thuộc giống
Hối-cương, tên là Mã-quang-Tổ,
từ nhỏ đã có sức
khỏe lạ thường, tay
không vật
chết voi, cọp như chơi. Lớn lên
lại được tập võ nghệ.
Mã-quang-Tồ
người to lớn, nhưng tay, chân
quá thô kệch, nên võ nghệ không
đến
mức siêu
đẳng. Tuy vậy, mà nhờ sức
khỏe hơn người, nên chỉ thua
bậc anh hùng siêu
thế, chớ
người nào võ tầm thường
gặp phải Mã-quang-Tổ khó mà
thoát chết.
Hốt-tất-Liệt
chỉ vào người đeo ngọc sáng
ở cổ, nói:
- Người
này là vợ Hồ tên là
Doãn khắc Tây, chuyên nghề buôn
ngọc. Doãn-khắc-Tây
từng giang
hồ đi khắp nơi, nên học khá
nhiều võ nghệ đặc biệt, đuợc
phái võ chân
truyền ở
xứ Ba-Tư thu dụng làm đồ
đệ. Doãn-y-khắc-Tây sắp tu
luyện "thành tài",
nhưng nghe tin Hốt-tất-Liệt
thu dụng hiền tài, không quản đường
xa tìm đến ra mắt.
Ni-ma-Tinh và
Tiểu-tương-Tử đến đưa
mắt nhìn Dương-Qua, thấy chàng
còn non trẻ
nên có
vẻ coi thường. Hai người chỉ
chăm chú nhìn Kim-luân Pháp-Vương,
thấy lão
tỏ vẻ khinh
thường không coi hai người
vào đâu cả.
Rượu
chừng vài ba tuần, Ni-ma-Tinh có tính
nóng nảy, ngồi yên không chịu
được
nữa, liền
đứng dậy thưa với Hốt-tất-Liệt:
- Kính vương-gia,
nhà Đại-Mông quơ lưới
quét hiền tài anh liệt. Chắc hẳn
anh hùng tứ
xứ qui tụ
nơi đây cũng khá đông
đảo.
Rồi lão
lùn đưa tay chỉ vào Kim-luân Pháp-vương
nói:
- Vị hòa
thượng được vương-gia
phong cho làm đệ nhất quốc sư,
có lẽ tài nghệ phải
siêu thế
lắm! Anh em chúng tôi muốn cho hòa
thượng chỉ dạy vài điều
hay.
Hốt-tất-Liệt
nghe Ni-ma-Tinh nói thế, chỉ mỉm cười
làm thinh Tiểu-tương-Tử đứng
dậy tiếp
lời:
- Ni-ma-Tinh từ
ngày ở Tây-Trúc về đây,
nhưng nghề võ Tây-Tạng do Tây-Trúc
truyền tới.
Lẽ nào màu xanh lại có thể
đậm hơn màu tím được.
Tiểu-tương-Tử
dụng ý khiêu khích, để được
xem một trận đấu thử thách
giữa
Kim-luân Pháp-vương
với Ni-ma-Tinh. Tiểu-tương-Tử
sẽ thủ vai ngư ông đắc lợi.
Kim-luân Pháp-Vương
chú ý nhìn Tiểu-tương-Tử,
thấy hai gò má có ánh xanh, thì
biết ngay, Tương-Tử
có sức nội công tu luyện cũng
đã đến mức phi thường,
Pháp-vương
trông thấy ở đây, chỉ có
Tương-Tử có dáng lợi
hại hơn hết.
Pháp-vương
tuy nghe lời khiêu khích, nhưng nét
mặt vẫn bình thản. Bỗng trong bàn
tiệc có
tiếng cười ré lên. Mọi
người chăm chú nhìn về
phía tiếng cười, thì đúng
là tên
buôn ngọc.
Doãn-khắc-Tây
vừa cười đắc ý,
vừa nói:
- Chà làm
tới quốc sư, chẳng qua cũng
nhờ ân-sư vương-gia thôi! Chắc
gì đã xứng
đáng thế.
Rồi hắn
ngoảnh mặt nhìn Ni-ma Tinh với vẻ
khiêu khích.
Kim-luân Pháp-Vương
vẫn bình thản, đưa đũa
ra gắp một miếng thịt lớn giơ
lên nói:
- Miếng thịt
này lớn nhất ngu-phủ tôi không
dám ăn, chỉ vì sự ngẫu nhiên
gặp phải
nó, nhà
Phật gọi sự ngẫu nhiên ấy
là pháp duyên. Vậy tôi xin nhường
chư vị gắp lấy.
Trong bàn tiệc
có Mã-quang-Tổ tâm địa còn
khờ dại, nên không hiểu được
ý định của
Kim-luân Pháp-Vương.
Chỉ thấy Pháp-Vương gắp miếng
thịt dơ lên, tưởng là quốc
sư
tự nhận
lão không đủ tài với
chức quốc sư, nên tự ví
mình như miếng thịt kia, nhường
cho khách.
Mã-quang-Tổ
liền đưa đũa ra tiếp, nào
ngờ đầu đũa của Mã-quang-Tổ
vừa chạm đũa
Kim-Luân Pháp-Vương
thì tay Quang-Tổ như bị điện giật
tê cứng. Vì nội công của
Kim-Luân Pháp-Vương
truyền ra đũa, nhập vào mạch
máu của Quang-Tổ tê điếng
người.
Quang-Tồ nhào xuống đất, mắt
méo xẹo. Quan khách trong bữa tiệc,
ai nấy
đều kinh
ngạc, luôn miệng trầm trồ:
- Quốc sư
làm gì hay thế?
Mã-quan-Tổ
ngượng quá, nói lớn:
- Đó chẳng
qua là một yêu thuật! Vậy có dám
cùng ta đấu võ chăng?
Hốt-tất-Liệt
cả cười, la lớn:
- Mã-tráng-Sĩ,
đừng nóng thế! Chúng ta muốn
tranh hùng đâu có muộn gì? Để
ăn
xong tiệc rồi
sẽ trổ tài có hay hơn không?
Mã-quang-Tổ
nín thinh ngồi dậy.
Ni-ma-Tinh lúc
nầy vẫn khinh thường Kim-Luân
Pháp-Vương, bây giờ thấy
quang
cảnh trước
mắt hết lòng lo nghĩ. Nhưng chẳng
lẽ trước mắt chư anh hùng
lại ép mình
chịu nhục
nhã thế nầy sao?
Ni-ma-Tinh vốn
gốc người ở Tây-Trúc,
nên ăn bốc, không ăn bằng đũa,
thấy
Mã-Quang-Tồ
không giật nổi miếng thịt trong đôi
đũa của Kim-Luân Pháp-Vương.
Ni-ma-Tinh mớùi
ôn tồn nói với Mã-quang-Tổ:
- Mã-huynh, hãy
nhìn đệ lấy miếng thịt đó?
Vừa nói,
vừa dùng năm đầu ngón
tay cứng như năm thanh sắt, vụt
ra chụp lấy miếng
thịt.
Kim-Luân Pháp-Vương
lanh như cắt, dùng hai ngón tay tách
đôi chiếc đũa, chặn vào
năm đầu
ngón tay của Ni-ma-Tinh. Năm ngón tay của
Ni-ma-Tinh bị đũa gài vào,
ngồi chết
khựng không cử động được.
Kim-Luân Pháp-Vương
dùng nửa chiếc đũa để
chặn đòn Ni-ma-Tinh, nên vận dụng
được
hai đầu đũa để giữ
chặt miếng thịt lại. Ni-ma-Tinh cũng
chẳng vừa, lão liền vận
dụng hết
nội lực vào năm đường
gân ngón tay, gân nổi lên cồm
cộp búng mảnh đũa ra
ngoài. Thế
là lão lùn gỡ được
đũa gài, bớt sự thẹn
mặt, nhưng vẫn ngồi yên không
dám dành
miếng thịt nữa.
Ngồi xem các
anh-hùng hiệp khách đấu thuật
với nhau, Dương-Qua từ lúc
đầu đến giờ
chỉ mỉm cười.
Đột nhiên nghe có tiếng vọng
vào!
- Quách-Tỉnh,
Quách-Tỉnh ở trong đó mau ra
đây!
Tiếng hô
nghe từ hướng Đông dội
đến. Nhưng thoáng qua lại nghe từ
hướng Tây vang
lại. Lạ thật!
Đông và Tây cách xa nhau, ai đâu
mà nhanh đến thế, chắc là
có hai ba
người
gì đó? Nhưng giọng nói vẫn
một giọng!
Trong lúc nầy
cuộc dành thịt, tiếp tục giữa
Kim-Luân Pháp-Vương với Tiểu-tương-Tử
bắt đầu.
Kẻ nửa cân người tám
lạng. Rốt cục miếng thịt phân
làm ba mảnh tung lên,
Dương-Qua
lanh mắt liền vung đũa ra kẹp lấy
một mảnh. Cả ba người cùng
nhìn nhau
cười
ngất. Mỗi người định đưa
mảnh thịt phần mình lên miệng,
thì thoáng một cái,
một bóng
đen xuất hiện và một người
bay vèo ra, giơ tay thu cả ba miếng thịt
cho vào
miệng, nhai tóp
tép, đưa mắt trừng trừng
nhìn chung quanh như chẳng thèm coi ai ra
gì hết.
Tất cả
đều thất kinh, ngơ ngác nhìn
nhau. Kim-luân Pháp-Vương, Dương-Qua
và
Tiểu-tương-Tử
đâu phải tài nghệ tầm thường,
thế mà miếng thịt bị giật mất
một cách
trắng trợn,
không ai chống đỡ nổi. Người
nào cũng lo định thần, nhìn
theo bóng người
ngang ngược
là ai! Chỉ thấy một cụ già, râu
tóc bạc phơ, hai má đỏ hồng,
miệng tơi
cười,
đôi mắt sáng quắc, tuổi tác
khó mà đoán được
là bao nhiêu.
Bọn quân
canh ồ ạt tứ phía chạy vào,
vây quanh dùng gươm, giáo chĩa
tua tủa vào ông
lão, đồng
thanh hô to:
- Tiến nhanh
bắt người quái khách.
Cụ già
ung dung khẽ đưa nhẹ hai ngón tay quét
qua, hơn hai chục ngọn giáo văng vào
một góc.
Lũ quân canh nhào sắp lớp.
Ngoảnh mặt nhìn về phía Dương-Qua
cụ già
gọi:
- Chú em! Hãy
đưa thêm rượu thịt ra đây,
bụng lão kiến đang bò nhiều
quá.
Kim-luân Pháp-Vương,
Ni-ma-Tinh, Tiểu-tương-Tử và Mã-Quang-Tổ
liền liên kết
nhau chống lại
để trổ tài cho vui lòng Hốt-tất-Liệt.
Bốn vị
Mông-cổ nhất tề xông lại áp
đảo cụ già. Chống trả sự
áp đảo của bốn vị dũng
sĩ, cụ già
đánh như dỡn cợt, mà
bốn dũng sĩ mồ hôi đã
ra nhễ nhại. Họ không thể tiến
đến cụ
già được nửa tấc.ương-Qua
nghe lời cụ già đưa đĩa
thịt lên mời. Lạ thay! Thịt trong
đĩa cứ tự động
bay tòn tọt
vào miệng cụ già.
Kim-Luân Pháp-Vương
thấy thế quá sức kinh ngạc,
nên hết lòng thán phục sức
nội
công của
khách lạ đã đến mức
tuyệt diệu với lối vận công
ra miệng tạo thành sức hút
kỳ dị
ấy.
Hốt-tất-Liệt
đã từng dự nhiều cuộc
chơi lạ thường, nhưng chưa bao
giờ được thấy một
quang cảnh lạ
thường như thế! Vương-Tử
cũng ngây người như gỗ,
miệng luôn luôn
tấm tắc
khen ngợi:
- Thường
thường người nào có
nội công giỏi lắm, cũng phải
thêm sức gió của bàn tay
vụt qua mới
thâu vật bày trên đĩa được.
Đằng này lại không cần gì
đến tay cả, mà tự
nhiên các
vật ở đĩa cứ lần
lượt bay tuột vào miệng, thật
chân nhán, kỳ tài trong thiên
hạ chưa từng
có.
Trong chúng anh
hùng bắt đầu run sợ, cụ
già vẫn khoan thai nuốt hết miếng
này, đến
miếng khác.
Phút chốc trên bàn tiệc hết
trơn thức ăn.
Ăn xong, cụ
già nhảy vọt lên đứng sững
trên bàn, đưa tay phải vẽ trên
không trung
một vòng
cánh cung. Bàn tay vẽ nhanh và mạnh
đến nỗi mọi người trông
thấy cả vệt
sáng. Thuật
nầy gọi là "Thái cực hình".
Bàn tay càng lúc, càng nhanh, càng
mạnh,
khiến cho chén
đũa trên bàn bị sức hút
nhổm lên, nối đuôi nhau bay vun vút.
Trong
nháy mắt
trên bàn tiệc sạch trơn.
Tiêu-tương-Tử
nhìn từ lúc đầu đến
giờ mới hỏi:
- Dám hỏi
tiền bối, như tiểu đệ không
lầm ngài có phải là họ Châu
không?
Cụ già
cười khanh khách, nói:
- Đúng
đó, ngươi cũng nhận ra ta ?
Tiêu-tương-Tử
chắp tay lạy chào:
- Thật không
ngờ Lão Ngoan-Đồng Châu-bá-Thông
tiền bối lại có mặt nơi đây!
Kim-Luân Pháp-Vương
và Ni-ma-tinh biết rất ít về các
cao thủ ở Trung-Nguyên,
nhưng nghe lời
Tiêu-Tương-Tử gọi lão Ngoan-Đồng
so với tánh ương ngạnh ban nãy
cũng hiểu
rõ người rồi.
Thấy cụ
già có quen biết với Tiêu-tương-Tử,
nên ai nấy đều bỏ ý tưởng
tỵ hiềm đổi bộ
mặt ganh tỵ
ra vẻ mừng vui thân ái.
Kim-luân Pháp-Vương
đứng lên, khẩn khoản nói:
- Xin tiền bối
lượng thứ lỗi vô lễ.
Tiện đây, kính mời tiền-bối
vui lòng dùng bữa cùng
Vương-gia,
mong hiền tài chấp thuận cho! Vương-tử
trông thấy cao-nhân, chắc lòng
hoan hỉ.
Hốt-tất-Liệt
cũng đứng lên thi lễ.
- Thật may mắn
trăm phần, xin tiền bối vui lòng
dùng bữa cùng chúng tôi và
nhờ tiền
bối chỉ
dạy cho tôi vài điều.
Châu-bá-Thông
chỉ lắc đầu lia lịa, nói:
- Ta ăn đã
đủ lắm rồi! Chẳng dám nài
thêm. Nhưng Quách-Tỉnh người
ấy có đây
không?
Dương-Qua
nghe nói đến Quách-Tỉnh, lòng
rộn ràng không yên, liền hỏi:
- Hỏi Quách-Tỉnh
có việc gì?
Châu-bá-Thông
xa nay rất quý mến đám thanh niên
trẻ tuổi thấy Dương-Qua không
cung kính gọi
mình là lão tiền-bối, chỉ
gọi trống không, thật lấy làm
lạ. Ông ta đáp:
- Quách-Tỉnh
là anh em kết nghĩa với ta. Chú
em có biết hắn không? Tính hắn
rất
thích giao du
với người Mông-cổ cho nên
ta mới đến đây tìm.
Dương-Qua
nhíu đôi mày, hỏi gạn:
- Nhưng hỏi
Quách-Tỉnh để làm gì mới
được chứ?
Châu-bá-Thông
đâu biết được tâm
sự của Dương-Qua, nên cứ
bình tĩnh trả lời:
- Quách-Tỉnh
gửi thư thăm ta mời đi dự
anh hùng yến, nhưng cách xa hàng ngàn
dặm.
Đi dọc đường
vì gặp nhiều chuyện cản trở,
nên đến chậm trễ mất một
ngày. Ta tới đó
anh hùng yến
đã giải tán, ta luôn tiện đến
đây.
Dương-Qua
nói:
- Vậy Quách-Tỉnh
không để thư lại sao?
Nghe Dương-Qua
tra vấn mãi, Châu-bá-Thông ngạc
nhiên hỏi:
- Chú em! Tại
sao chú cật vấn ta nhiều vậy? Chú
em có biết Quách-Tỉnh không?
Dương-Qua
hằn học trả lời:
- Sao tôi không
biết? Có phải vợ Quách-Tỉnh
là Hoàng-Dung không? Có phải con
gái
Quách-Tỉnh
là Quách-Phù không?
Châu-bá-Thông
đập hai tay vào nhau chan chát, cười
khà khà nói:
- Sai rồi, lầm
rồi! Hoàng-Dung là một con bé con,
làm gì có con gái lớn.
Châu-bá-Thông
nói làm cho Dương-Qua ngẩn người.
Nhưng chàng cố bình tĩnh hỏi
lại:
- Ông không
gặp vợ chồng Quách-Tỉnh đã
bao lâu rồi?
Châu-bá-Thông
giơ tay ra tính lẩm nhẩm, rồi đáp:
- Ta cách vợ
chồng hắn đến nay gần hai chục
năm.
Dương-Qua
cười khúc khích, nói:
- Không gặp
đã hai chục năm, mà không tin
Hoàng-Dung có thể có con gái. Thật
đúng với
cái tên Lão Ngoan-Đồng.
Châu-bá-Thông
cười khà khà, nói:
- ừ, thì
chú em đúng! Chú em đúng
hơn ta! Nhưng lão muốn chú em kể
thử đứa con
gái đó
như thế nào?
Dương-Qua
nói:
- Đứa
bé đó giống Hoàng-Dung nhiều
hơn giống Quách-Tỉnh.
Châu-bá-Thông
lại cười hô hố nói:
- Chú em định
cho con gái hơi giống Quách-Tỉnh để
nhát ai, với đôi lông mày
đinh
ngược,
với hai gò má vừa đen
vừa cao đó?
Dương-Qua
thấy Châu-bá-Thông có ý tin
nên nói tiếp:
- Tôi với
cha ruột Hoàng-Dung, là Hoàng-dược-Sư
chúa đảo Đào-Hoa là bạn
thân với
nhau.
Châu-bá-Thông
nghe nói lạ lùng nghĩ thầm:
- Thằng nầy
tuổi nó là bao nhiêu, mà nói
là bạn Hoàng-dược-Sư.
Nghĩ thế
ông liền hỏi:
- Như vậy
sư phụ của chú là ai?
Dương-Qua
đáp:
- Tên sư
phụ tôi lớn lắm! Nói ra chỉ
làm cho ông run sợ thôi!
Châu-bá-Thông
quá giận, nói:
- Chú em đừng
lo.
Dứt lời
Châu-bá-Thông dừng tay trái
quất mạnh vào cái bàn, cái
bàn bay vút vào mặt
Dương-Qua.
Dương-Qua
không chút nao núng xòe năm ngón
tay trái ra đỡ. Chỉ nghe tiếng
răn rắc,
cái bàn
đã bể vụn ra từng mảnh
rơi lã chã.
Châu-bá-Thông
thấy người thiếu niên dùng
võ công của phái Toàn-Chân,
đỡ nổi đòn
lợi hại,
lòng rất thích thú.
Còn Kim-luân
Pháp-Vương, Tiêu-tương-Tử,
Mã-quang-Tồ người nào, người
nấy ngồi
nhìn sững
sờ.
Thứ nhứt
là Tiêu-tương-Tử và Ni-ma-tinh
từ lúc đầu mới đến,
thấy Dương-Qua, coi
chàng không
được nửa con mắt. Lúc
nầy thấy cảnh ấy, lòng tự
bảo:
- Cái bàn
vụt mạnh như thế, chỉ có nước
né, chứ ai nào dám đỡ,
nếu như sơ ý một
chút là
bị gãy xương ngay; thế mà người
trẻ tuổi này chỉ cần dùng năm
ngón tay thôi!
Chẳng hiểu
ở nơi đâu lại sinh ra bậc
kỳ nhân sơn như vậy?
Châu-bá-Thông
lòng thầm khen ngợi, và đoán
biết Dương-Qua đã tinh luyện được
võ
công của
phái Toàn-Chân, bèn hỏi:
- Chú em quen
với Mã-Ngọc, Khưu-xứ-Cơ
chăng?
Dương-Qua
nói:
- Hai tên hèn
ấy quen làm gì?
Châu-bá-Thông
lại càng thích! Sở dĩ Châu-bá-Thông
thích ý là vì được
gặp người tri
kỷ, Bá-Thông
đã từng làm đệ tử
của phái Toàn-Chân, nhưng Bá-Thông
là con người
phóng đạt,
không ưa giới luật câu nệ,
nên không được trong môn phái
mến chuộng.
Châu-bá-Thông
bình tĩnh rất khâm phục Vương-trùng-Dương
và Cửu-chỉ Thần-Cái
Hồng-thất-Công,
nên ghét lối câu nệ quá của
Mã-Ngọc và Khưu-xứ-Cơ. Nay
lại nghe
Dương-Qua
gọi Mã-ngọc và Xứ-Cơ là
kẻ hèn thật là hiệp ý.
Châu-bá-Thông
tiếp:
- Còn Xích-đại-Thông
chú em nghĩ sao:
Dương-Qua
nghe đến "Xích-đại-Thông" đôi
mày dựng ngược tỏ vẻ
giận dữ, nói:
- Thằng khốn
ấy, có lần tôi đã cho nó
bị khốn.
Châu-bá-Thông
liền hỏi:
- Cho nó khốn
khổ bằng cách nào?
Dương-Qua
nói:
- Tôi đã
trói chặt nó, rồi đạp vào
cầu tiêu, nhốt mấy ngày đêm.
Châu-bá-Thông
thở dài, nói:
- Ta là sư
thúc của Xích-đại-Thông đó!
Trong cuộc nói
chuyện với Châu-bá-Thông, Dương-Qua
nẩy ra một ý nghĩ:
- Lão này
võ nghệ cao kỳ lắm, dụ lão
để cùng ta diệt vợ chồng
Quách-Tỉnh, chắc
không thể
nào được: nhưng không dụ
được thì lão sẽ giúp
Quách-Tỉnh thêm một sự
khó cho mình.
Chi bằng ta lập mưu giết lão rảnh.
Dương-Qua
bản tâm không phải con người
gian ác, nhưng chàng quá nóng lòng
báo
thù cha, dù
phải làm gì khó khăn, nguy hiểm
đến đâu cũng không sờn
lòng. Bởi vậy
chàng quên
nghĩ việc làm có độc ác
hay không?
Còn Châu-bá-Thông
đâu có biết tâm sự đau
khổ, hận thù của Dương-Qua, đã
phát
hiện một
ác ý như vậy? Nên Châu-bá-Thông
vẫn thực thà hỏi:
- Bây giờ
chú em có đi bắt thằng Xích-đại-Thông
nữa không?
Dương-Qua
hỏi lại:
- Nếu tôi
đi ông có cùng đi với
tôi không?
Châu-bá-Thông
ngẫm nghĩ hồi lâu, nói:
- Ta có nhận
được bức thư của Quách-Tỉnh,
lưu lại ở Lục-gia-Trang, có lời
dặn là
quân Mông-Cổ
sắp tràn xuống phía Nam để
hạ thành Tương-Dương. Phần
Quách sẽ
xuất lãnh
hào kiệt Trung-Nguyên để bảo
vệ Tương-Dương, nên có lời
mời ta giúp
hắn. Nay đến
đây tìm hắn không có, chắc
bây giờ đến Tương-Dương
sẽ gặp.
Hốt-tất-Liệt,
Kim-luân Pháp-Vương nghe câu chuyện
Châu-bá-Thông nói với
Dương-Qua,
nét mặt không vui. Hốt-tất-Liệt
khẽ bảo Pháp-Vương:
- Lúc này
họ tụ tập nhiều tay anh kiệt ở
Trung-Nguyên bảo vệ Tương-Dương,
thì làm
sao hạ được
thành ấy theo dự định hả
quốc sư?
Giữa lúc
mọi người đang suy tư định
lại võ công, chợt thấy tấm
da trước doanh trại
tung ra, một vị
hòa thượng hiến đến, vội
vàng đi vào.
Hòa thượng
trạc hơn bốn mươi tuổi, dung mạo
nho nhã, thần sắc như một thư sinh.
Hòa thượng
đi thẳng đến trước mặt
Hốt-tất-Liệt khẽ cúi chào,
rồi ghé miệng sát vào
tai Vương-tử
nói nhỏ một hồi lâu.
Sự thật,
hòa thượng vừa vào vốn
là người Hán, pháp danh Tử
Thông, chính là mưu sĩ
của Hốt-tất-Liệt.
Tử-Thông
lúc cha mẹ sinh ra đặt tên là
Lưu-Khâm, khi còn nhỏ làm viên
đại sứ tại
một huyện,
về sau mới xuất gia đi tu. Theo nhiều
người ca tụng thì Tử-Thông
hiểu
biết rộng,
sách nào cũng đã đọc
qua, lại rất thâm thúy kinh dịch, có
tài thiên văn, giỏi
tướng
số. Nói chuyện thiên hạ dễ dàng
như đọc trên bàn tay, được
Hốt-tất-Liệt yêu
quý lắm.
Châu-bá-Thông
thấy vị Hòa-Thượng đứng
cạnh Hốt-tất-Liệt, che khuất Dương-Qua
làm Bá-Thông
nói chuyện không được với
Dương-Qua, nên nói:
- Xin hòa thượng
xích sang một bên, để cho lão
nói chuyện với chú em. à còn
chú tên
là gì?
Dương-Qua
nói:
- Tôi họ
Dương tên Qua.
Bá-Thông
vồn vã hỏi tiếp:
- Sư phụ của
chú em là ai?
Dương-Qua
bình tĩnh nói:
- Sư phụ của
tôi là một người đàn
bà đẹp tuyệt trần, võ nghệ
huyền diệu vô song.
Nhung tên của
người tôi không được
phép nói cho ai rõ.
Châu-bá-Thông
nghe đến người đàn bà
đẹp, mồ hôi toát ra như tắm,
hồi tưởng lại một
người
tình cũ là nàng Anh-Cô, Châu-bá-Thông
đứng nín lặng hồi lâu,
rồi phất tay áo
một cái
bụi cát bay tung, miệng cười khà
khà, nói:
- Ta đi đây...
Hòa-thượng
Tử-Thông lễ phép nói:
- Kính xin lão
trượng hãy khoan bước. Tài
nghệ lão trượng khiến anh em chúng
tôi
thán phục
vô cùng, vậy tiện đây bần
tăng kính dâng lão trượng
một ly rượu.
Vừa nói
Tử-Thông vừa nâng ly rượu
cao khỏi đầu.
Châu-bá-Thông
cười, nói:
- Tốt lắm,
tốt lắm!
Miệng nói
tay đốp lấy ly rượu uống
tọt vào miệng. Tử-Thông liền
nâng ly rượu nữa,
nói:
- Đây là
ly rượu của vương-gia.
Châu-bá-Thông
cũng uống luôn. Tử-Thông toan
rót ly khác, thì nghe Châu-bá-Thông
kêu lên:
- á, á
ta đau bụng, buồn tiểu tiện quá!
Kêu xong ngồi
sụp xuống cởi quần "bịch" luôn
ra trước mặt quan khách, khiến
mọi
người
ngơ ngác. Châu-bá-Thông nói
tiếp:
- Đau bụng
quá! Chịu không nổi, chịu không
nổi!
Dương-Qua
đưa mắt nhìn Tử-Thông, chàng
thấy cử chỉ và nét mặt
nham hiểm của
Tử-Thông,
đoán biết trong rượu Tử-Thông
có pha chất độc. Nhưng chàng
thấy
Châu-bá-Thông
là người chất phác và
đối với chàng rất có
cảm tình, nên ý hại
Châu-bá-Thông
lúc này chàng không còn nữa.
Và khi thấy Châu-bá-Thông bị
trúng
độc, lòng
thương hại không nỡ để
cho Châu-bá-Thông chết thảm thương,
vô lý như
thế.
Dương-Qua
liền ghé miệng nói nhỏ vào
tai Châu-bá-Thông:
- Hãy tóm
lấy Hốt-tất-Liệt, buộc hắn
phải bắt Tử-Thông mang ngay thuốc
giải độc.
Châu-bá-Thông
lắc đầu cười hô hố,
nói:
- Không phải,
tự rượu độc uống có
ít quá, nên làm ta sinh đau bụng.
Hòa thượng hãy
rót nhiều
nữa đi cho ta uống.
Cả mọi người
lấy làm lạ ngơ ngác nhìn nhau.
Còn Tử-Thông lo sợ Châu-bá-Thông
trước
khi chết sẽ tác uy mạnh, nên nghe
Châu-bá-Thông gọi, mà không
dám mon men
bước
đến.
Trông thấy
Tử-Thông không rót rượu
nữa, Châu-bá-Thông đứng
bật dậy. Kim-luân
Pháp-Vương
sợ Bá-Thông hãm hại Hốt-tất-Liệt,
nên phóng mình lại đỡ
cho Vương-tử.
Nhưng không!
Châu-bá-Thông chỉ vươn tay chợp
cả vò rượu, mà Tử-Thông
đặt ở góc
bàn uống
ừng ực. Một lúc vò rượu
cạn khô.
Ai nấy đều
thất-phách hồn kinh, mặt mày xám
ngắt.
Châu-bá-Thông
cười khà khà, nói:
- Trong bụng ta
đã chứa nhiều chất độc,
nên phải lấy độc khử độc.
Nói xong ông ta
há miệng
thật lớn rượu từ trong
bụng phụt mạnh ra miệng, thành luồng
sáng sắc như
hai lưỡi
kiếm.
Châu-bá-Thông
đã vận khí toàn thân, để
đưa rượu ra thành một chưởng
khí. Bá-Thông
hướng
rượu vào phía Tử-Thông.
Tử- thông trúng luồng chưởng
khí rượu té nhào
xuống đất
bất tỉnh, Kim-luân Pháp-Vương lẹ
tay đưa chiếc bàn sắt che cho
Tử-Thông.
Luồng rượu làm cho chiếc bàn
sắt thủng một lỗ như cái bát.
Châu-bá-Thông
lại quay sang phía khác, luồng rượu
đập mạnh vào cột gỗ giữa
doanh
trại. "Rầm"
một cái, cột gãy ngang làm đôi,
tiếp theo tiếng ào ào, răng rắc,
cả tấm bạt
da căng doanh
trại ngã ầm xuống, úp đè
lên đầu Hốt-tất-Liệt, Kim-luân
Pháp-Vương
cùng bao nhiêu
anh hùng hiệp khách trong doanh trại.
Mọi người
lại thất thanh, lính quýnh tìm chỗ
thoát.
Châu-bá-Thông
thấy cả bọn bò lổm ngổm, khoái
chí cười hô hố, rồi nhảy
lên trên
doanh trại chạy
đạp lung tung. Không ngờ Kim-luân
Pháp-Vương dùng một ngọn
cước
phóng lên làm Châu-bá-Thông
sơ ý ngã nhào. Kim-luân Pháp-Vương
liền cất
tiếng cười
khanh khách, kêu lớn:
- Thú quá!
Thú quá!
Kim-luân Pháp-Vương
đưa Hốt-tất-Liệt ra khỏi doanh
trại. Hốt-tất-Liệt vẫy tay gọi
hơn trăm
lính hầu, dựng doanh trại lại để
tiếp tục bày tiệc.
Mọi người
quay nhìn tứ phía tìm kiếm Châu-bá-Thông,
nhưng chỉ thấy bốn bề vắng
lặng. Châu-bá-Thông
đã cao bay xa chạy mất.
Bọn Kim-luân
Pháp-Vương, Tiêu-tương-Tử
quá xấu hổ vì sự phòng
vệ sơ sót của
mình, nên
đến trước mặt Hốt-tất-Liệt
tạ tội.
Hốt-tất-Liệt
vốn là người quảng đại,
nên nét mặt chẳng lộ chút gì
giận dữ, trái lại còn
rất tán
thưởng cái trò chơi quái
gở của Châu-bá-Thông.
Vương-Tử
vui vẻ, nói:
- Tôi rất
tiếc là gặp được người
hào kiệt tuyệt vời như Châu-bá-Thông,
mà mình
không đủ
sức giữ người ấy ở
bên cạnh, thật là uổng!
Sau đó
tiệc rượu tiếp tục. Hốt-tất-Liệt
đứng lên nghiêm nghị, nói:
- Đại quân
Mông-Cổ đánh Tưương-Dương
nhiều lần, mà không thể hạ
được thành chỉ
vì đồn
Tương-Dương là nơi tụ hội
nhiều hào kiệt, anh tài, nay lại có
thêm
Châu-bá-Thông
thì mong gì chiếm được. Chẳng
biết chư vị ở đây có
kế hoạch gì hay
hơn không?
Ni-ma-Tinh quá
nóng, không nghĩ ngợi hơn, kém
gì cả, liền nói:
- Thưa Vương-tử.
Châu-bá-Thông tuy võ nghệ giỏi
nhưng bọn ở đây chưa chắc
đã
kém hắn.
Vương-Tử cứ việc lo lệnh
tấn công Tương-Dương, có gì
là quân đổi quân,
tướng
đổi tướng, nếu Trung-Nguyên
có lắm hiền tài thì Tây-vực
ta thiếu chi hào kiệt?
Hốt-tất-Liệt
khoan thai giảng giải:
- Lời Ni-ma-Tinh
nói cũng đúng, nhưng từ
xa đến nay về chiến trận muốn
thắng cần
phải nhờ
mưu lược. Mà muốn có mưu
lược, trước nhất phải
biết được địch tình.
Nếu
bên nào
tính giỏi hơn là bên đó
thắng.
Tử-Thông
cung kính đứng dậy, nói:
- Vương-gia
thật là một vị thánh minh.
Tử-Thông
vừa dứt lời, thì bên
ngoài có tiếng vọng vào:
- Ta đã
bảo đừng đi, là đừng
đi! Đồ vô dụng!
Mọi người
nghe rõ tiếng Châu-bá-Thông, nhưng
không hiểu được lý do gì,
mà
Châu-bá-Thông
còn trở lại dùng lời ngạo
nghễ.
Hốt-tất-Liệt
hối hả, nói:
- Chư vị
hãy mau đi tìm Châu-bá-Thông
về đây cho ta.
Mọi người
đều chạy ra ngoài tìm Châu-bá-Thông,
nhìn khắp tứ phía chợt thấy
Châu-bá-Thông
từ nơi xa tít trên gò bằng
phẳng hướng Đông, với
bốn người lạ mặt.
Kim-luân Pháp-Vương
gọi lớn:
- Chúng ta cùng
đến đó.
Kim-luân Pháp-Vương,
Ni-ma-Tinh, Tiêu-tương-Tử, Mã-quang-Tổ,
và Y-khắc-Tây
cùng chạy
như bay về hướng bốn người
lạ mặt và Châu-bá-Thông. Thấy
bốn người kia
đều mặc
áo màu xanh rườm-rà, cổ
lỗ. Trong đó có ba người
nam, đội mũ cao lêu
nghêu, một
người giữa bụng thắt chiếc
giải xanh bay phất phới trước
gió. Cả bốn
người
trông rất hiền hậu, trông có
vẻ thanh nhã. Một người trong bốn
người nói:
- Chúng tôi
không muốn làm khó dễ đâu
chỉ vì tôn huynh đã đạp
bể nồi linh đơn, bẻ
gãy linh chi,
xé nát đạo thư của thầy
chúng tôi, nên chúng tôi muốn
mời tôn huynh về
cho thầy tôi
rõ nếu không chúng tôi sẽ
bị rầy la.
Châu-bá-Thông
vỗ đùi, cười lớn:
- Mày là
thằng quê mùa, xấc láo! Như
vậy là mầy không may đã gặp
phải tao.
Người
kia bình tĩnh trả lời:
- Tôn huynh nhất
định không theo chúng tôi sao?
Châu-bá-Thông
lắc đầu lia lịa, la lớn:
- Lui ra kẻo toi
mạng hết!
Người
kia bỗng reo lên:
- A cho mau, chớ
bọn họ đến kia rồi!
Chớp mắt,
bốn người mặc áo xanh tung ra
một cái lưới phủ trùm Châu-bá-Thông
vào
trong rồi gút
lại. Châu-bá-Thông như cọp mắc
bẫy, nằm cong queo trong lưới. Bốn
người
kia hai người khiêng Châu-bá-Thông,
còn một nam một nữ theo sau. Họ
chạy
đi như bay.
Sự biến
chuyển không thể nào lường
được. Không ai ngờ tài
nghệ như Châu-bá-Thông
mà bị
bắt một cách dễ dàng như thế.
Dương-Qua
thấy Châu-bá-Thông vô cớ
bị bắt, nên quá thương tâm
liền vận lực để khí,
tung mình lên
cao đuổi theo bọn áo xanh, và gọi
lớn:
- Các ngươi
đem Châu-bá-Thông đi đâu?
Bọn Pháp-vương
cũng nối theo Dương-Qua. Trong nháy
mắt đã đuổi theo hơn hai
chục dặm
đến bờ một dòng suối
lớn. Bốn người đưa
Châu-bá-Thông xuống thuyền thả
dây xuôi
dòng. Tức khắc chiếc thuyền
đã biết mất dạng.
Ni-ma-Tinh nhảy
vọt lên ngọn cây để chạy
theo bọn áo xanh. Còn năm người
trong
bọn, nhảy
sang bờ suối về hướng
Nam, đoạt một chiếc thuyền vô
chủ xuôi theo lối
của Ni-ma-Tinh
chỉ.
Bốn người
áo xanh cho thuyền vào một lạch nhỏ
phía Tây. Con lạch nhỏ bị nhiều
cây
lớn sum
sê che lấp mất, phải nhờ Ni-ma-Tinh
đi trên đọt cây cao chỉ lối,
bọn
Dương-Qua
mới khám phá được
con rạch và gọi đồng bọn đuổi
theo. Tất cả đều quay
thuyền theo hướng
Ni-ma-Tinh hớng dẫn. Chèo đi một
khoảng xa thì đá hai bên lỏm
chởm, khiến
cho lối xuôi thuyền bị nghẹt lần
lại. Bầu trời đối với
họ chỉ còn là một
vệt trắng
như lưỡi kiếm.
Mã-quang-Tử
kêu lên:
- Hỏng rồi,
hỏng rồi! Hết lối chèo rồi!
Mọi người
nhìn về hướng trước
mũi thuyền, thấy chín mỏm đá
trông tựa bức bình
phong, đứng
sừng sững chận hết lối
qua lại.
Tiêu-Tương-Tử
liền nói:
- Hoàn cảnh
này phải nhờ Mã-quang-Tổ đem
thuyền lên mới được.
Mã-quang-Tổ
nói: - Tôi làm sao cho có đủ
sức lực, mời đại-ca
thử xem.
Kim-luân Pháp-Vương
đang trầm tĩnh tìm kế đưa
thuyền qua, miệng lẩm bẩm:
- Tấm bình
phong cao, rộng như thế nầy, làm sao
có thể đem thuyền qua được.
Dương-Qua
thấy mọi người lo nghĩ, liền
nói lớn:
- Quốc sư
ơi! Chúng ta cùng họp sức nhấc
thuyền qua.
Pháp-Vương
mừng quá, nói lớn:
- Hay lắm! Tôi
và Tráng-sĩ ở bên nầy,
còn ở bên kia do bốn người
mau cùng nâng
lên!
Mọi người
đồng tình đáp ứng lại
lời của Pháp-Vương vang dội
cả khu rừng. Mười hai
cánh tay nâng
bổng chiếc thuyền lên, lao qua chín
tảng đá. Chỉ nghe tiếng véo
thuyền
bay lên không
trung, cả sáu người đều
dùng thuật khinh thân phi theo thuyền, rồi
dịu
dàng để
thuyền xuống nước, như một
chiếc lá rụng.
Sáu người
ban đầu mới gặp nhau có nhiều
điều khích bác tị hiềm nhau,
nhưng bây giờ
cùng chung sức
làm một việc, tự nhiên họ có
tình đoàn kết.
Tiêu-tương-Tử
ngồi trước mũi thuyền, nói:
- Chuyện trước
mặt chúng ta cần thiết nhất là
tìm cứu cho được vị
cao thủ
Châu-bá-Thông
mới là giỏi. Còn như hành
động chúng ta trước đây
không có gì đáng
ngợi khen
cả.
Ni-ma-Tinh tiếp
lời:
- Lời Tiêu
đại-ca nói đúng lắm, nếu
đem so với bọn áo xanh ban nãy,
chúng chỉ có
bốn người
lại còn đèo thêm một nhân
mạng nữa, mà cũng làm nổi
việc một cách dễ
dàng. Còn
chúng ta đến sáu người,
nhưng theo không kịp chúng thì chưa
đáng gọi là
anh tài.
Nghe Ni-ma-Tinh nói
mọi người đều lấy làm
lạ, chỉ có bốn người mà
có thể đem
thuyền lại
còn khiêng được Châu-bá-Thông
nữa thì thật là một hành
động kỳ lạ.
Ma-Tinh nói:
- Hay chúng nó
ẩn núp đâu đây, chứ
bọn nó có bốn người, trong
đó lại có một cô gái
mới mười
bảy, mười tám tuổi, còn
đèo thêm một mạng phải khiêng
nữa thì tài nào đi
mau như thế.
Pháp-Vương
cười nói:
- Chớ nên
nhìn bề ngoài mà đánh giá
tài nghệ. Như Dương-Qua đây
với số tuổi chừng
ấy trên
đầu, ai nhìn thấy bề ngoài
có thể biết là kẻ siêu nhân.
Nếu không có con mắt
tinh đời
như Kim-luân Pháp-Vương nầy, chắc
khó lòng nhận thấy.
Dương-Qua
khiêm tốn nói:
- Tiểu đệ
chỉ là một kẻ hậu tiến không
đáng kể. Xin chư vị hãy lu ý
đến bọn áo xanh
đó, chúng
đã bắt Châu-bá-Thông một
cách rất dễ dàng, như thò
tay lấy một vật trong
túi!
Mọi người
đã tán thưởng nghệ thuật
của Dương-Qua, nhưng nghe chàng nói
như vậy,
lòng thắc
mắc lo nghĩ lại càng tăng gấp
bội.
Trong sáu người,
chỉ có Dương-Qua là ít tuổi,
nhưng tài nghệ được mọi
người mến
phục nhất.
Pháp-Vương,
Mã-quang-Tổ, Ni-ma-Tinh đều là người
ở Tây-vực Tiêu-tương-Tử
thì
chỉ lo luyện
tập ở rừng sâu, nên chỉ
có một mình Doãn-y-khắc-Tây
là hiểu biết rõ các
giang hồ, về
tông tích lai lịch các võ phái
Trung-nguyên. Thế mà Doãn-y-khắc-Tây
chỉ vò
đầu, không thể tìm ra người
con gái trong bọn áo xanh là ai.
Cùng nhau chuyện
trò chưa bao xa, thuyền đã đi
được một quãng xa, lạch nước
đã
cùng đường,
thuyền hết lối. Sáu người
đi sâu tiến vào rừng, vượt
qua những hố sâu,
đèo cao,
băng qua rừng lá rậm rạp. Bỗng
trước mặt sáu người
hiện ra một con đường
hẹp chạy
thẳng lên núi.
Cả bọn không
chút ngần ngại, vận sức tiến
nhanh. Càng đi lên càng thấy cao
chót vót,
cuối cùng
ai nấy đều lạc lối, tựa
hồ như ma đa lối, quỉ dẫn đường
cứ quanh co mãi.
Pháp-Vương
vốn võ nghệ cao cường, nên
cứ vững tâm, không tỏ vẻ
sợ sệt. Chỉ có
Mã-quang-Tổ
võ công chưa đến mức chân
truyền nên thở hồng hộc, loạng
choạng,
vấp ngã
như người say rượu, nhờ
có Ni-ma-Tinh dìu đi, mới khỏi
lao đầu xuống vực
thẳm.
Mã-quang-Tổ
trong lòng quá thẹn. Gặp việc gian nan,
nguy hiểm mới biết sức vóc
mình chả
thấm vào đâu.
Quanh quẩn một
lúc, bóng chiều đã tắt.
Màn đêm bắt đầu hiện
xuống núi rừng, bọn
áo xanh vẫn
biệt tăm biệt dạng.
Mọi người
đang lo ngại, thì chợt đàng
xa có ánh lửa lập lòe làm
cả bọn mừng rỡ, nghĩ
thầm:
- Trong rừng
sâu núi thảm thế này mà có
người ở cũng lạ, nếu
quả là bọn áo xanh thì
chắc chúng
là ma mị lắm đấy.
Kim-luân Pháp-Vương
chăm chú nhìn về hướng
ánh lửa, nói:
- Anh em, hãy
vận khinh công tiến nhanh đến đó
xem thế nào?
Trong chớp
mắt họ đã bay đến bốn
đống lửa. Mã-quang-Tổ vì
đuối sức phải lểnh
mểnh theo sau.
Lúc đến
nơi, thấy một khoảng đất trồng.
Trên đỉnh núi chỉ có bốn
đống lửa đỏ rực,
giữa mỗi
đống lại có một ngôi nhà
bằng đá.
Ni-ma-Tinh đã
từng học đạo "Du già" ở
Tây-Trúc nên thấy lửa không
chút gì e sợ,
liền vận
sức phóng mạnh vào đống
lửa, tông mạnh cánh cửa đá
của tòa nhà phía
Đông.
Cửa mở
toang! bên trong vắng vẻ! Giữa nhà
một thanh niên hai tay chắp lại, nét
mặt
đượm
vẻ u buồn. Ni-ma-Tinh lấy làm lạ,
không hiểu người nầy ngồi
chịu cực hình gì
đây, hay
luyện nội công?
Ni-ma-Tinh bước
lại nhìn kỹ, thấy những dây
sắt quấn kín hai chân của người
thanh
niên chừng
hai mươi lăm tuổi.
Ni-ma-Tinh lần
lượt đi sang nhà thứ hai,
thứ ba, thứ tư: người
nào cũng đều có chung
một cảnh
tượng như vậy.
Duy có nhà
thứ tư, ngời ngồi chịu cực
hình lại là một cô gái chừng
mười bảy mười
tám tuổi.
Đúng là bọn bắt Châu-bá-Thông.
Nhưng Châu-bá-Thông hiện ở
đâu?
Năm ngừi
trong bọn cùng nối gót theo Ni-ma-Tinh, đi
luôn vào các gian nhà đá,
nhưng không
thấy Châu-bá-Thông. Họ chỉ thấy
những thanh niên ngồi trong đống
lửa
đỏ hừng
hực cháy, ai nấy đều tỏ
vẻ thương hại, sợ những
người thanh niên ấy cháy
thành than.
Dương-Qua
tính từ xưa nay, làm một việc
không cần biết đến hậu quả.
Nay lòng lại
chất chứa
mối tình sầu nên không dè
dặt trong mỗi hành động nữa.
Chàng đi qua nhà
đá nhìn
mặt ba gã thanh niên không tỏ vẻ
gì thương hại. Nhưng đến nhà
đá thứ tư,
chàng thấy
một thiếu nữ yêu kiều lộng
lẫy, bỗng thở một hơi dài
não ruột. Chàng
phóng mình
nhảy lên một cây cao gần đó
bẻ mấy cành lá đập đống
lửa đang cháy
xung quanh thiếu
nữ áo xanh. Giữa lúc đập
túi bụi thì Mã-quang-Tổ vừa
đến nơi,
cũng lăng
xăng giựt các cành lá đập
giúp. Tức khắc đống lửa
tắt ngóm.
Đập xong
đống lửa thứ nhứt,
Dương-Qua toan bước sang đập
đống lửa khác, chợt
nghe thiếu nữ
lảnh lót nói:
- Xin quý khách
hãy dừng tay, để chúng tôi
khỏi bị trách phạt.
Dương-Qua
nghe nói, ngạc nhiên nhìn. Chàng định
cất tiếng hỏi lại, thì có một
người
nói vọng
ra giọng sang sảng:
-Động chúa
ra lệnh cho các đệ tử biết
nếu có viễn khách đến thì
hình phạt ngưng, bốn
trò hãy
tiếp đón viễn khách cho ân
cần.
Thiếu nữ
áo xanh dịu dàng nói:
- Xin đa tạ
động chúa.
Người
kia truyền lệnh xong, liền tung mình lộn
tròn như quả bóng, nhào qua các
đống
lửa, dùng
chìa khóa mở trói cho bốn người
áo xanh.
Dương-Qua
định thần, nhìn thấy người
này mặc áo màu xám khác với
ba chàng áo
xanh và cô
thiếu nữ đang bị hành hạ.
Hình phạt
được hoãn lại, bốn người
áo xanh chắp tay chào khách, nói:
-Chúng tôi
xin mừng viễn khách, và mời
viễn khách tạm ngồi nơi nệm cỏ
nghỉ, vì trong
nhà bị
đốt lửa nóng không được
vào.
-Xin cứ
an lòng, anh em chúng tôi thấy lửa
nóng càng thích.
Ni-ma-Tinh miệng
nói chân đi thẳng vào trong ngôi
nhà đá nóng bỏng ấy, ngồi
chễm
trệ trên
chiếc ghế đá tròn, nhìn ra
các bạn đồng hành cười
sằng sặc, tỏ ý thích chí
lắm:
Tiêu-tương-Tử
không chịu được cũng hô
vài tiếng rồi bước thẳng
vào nhà,
Doãn-y-khắc-Tây
cười nói:
- Xin các anh
chớ lo đến tôi, đối
với lửa tôi đã từng
tự thiêu nhiều lần rồi.
Kim-luân Pháp-Vương
thấy vậy sợ mất uy quyền quốc
sư, nên cũng bay tọt vào.
Còn Mã-quang-Tổ
lểnh mểnh vừa đến nơi,
hơi nóng tạt ra cháy tóc khét
nghẹt, đành
ôm đầu
lui ra, nói vài câu đỡ ngượng:
- Ôi Mã-quang-Tồ
này xin chịu thua quí huynh.
Nói xong, chàng
tập tễnh trèo lên cây bẻ cành
đậy lửa.
Dương-Qua
vừa bước vào chợt nghe
tiếng trêu cợt:
- Nếu quí
khách có sợ nóng xin mời
lên cây.
Nàng vừa
nói vừa cười trong trẻo
khiến cho Dơng-Qua lính quýnh.
Từ lúc
Dương-Qua đập tắt lửa, lòng
thiếu nữ áo xanh đã thấy
cảm mến Dương-Qua.
Vì chàng
đã tỏ lòng lo sợ cho nàng.
Bây giờ thâm tâm nàng cũng
sợ Dương-Qua bị
nóng. Chẳng
ngờ Dương-Qua không tỏ vẻ
gì sợ sệt, bình tĩnh bước
vào nhà, khiến
nàng quá
cảm phục.
Một người
thanh niên trong bọn áo xanh nói:
- Chính tôi
không dám đường đột
hỏi quí tinh cao danh!
Doãn-y-khắc-Tây
chưa nghe hết câu đã hấp tấp
nói:
- Tôi chính
là người Hồ nước
Ba-Tư, tên là Doãn-y-khắc-Tây.
Ngoài việc ăn chơi
hàng ngày,
chỉ còn biết nghề buôn ngọc
quí. Còn về phần võ nghệ tôi
không dám
sánh với
anh em tôi.
Người
áo xanh đáp:
- Chúng tôi
ở nơi hang sâu núi thẳm, hầu
như xa cách hẳn với nhân thế,
nên không có
lúc nào
được tiếp đón với
bạn hữu đông vui như thế
này. Chẳng hay quí khách đến
đây có
điều chỉ dạy bảo.
Doãn-y-khắc-Tây
cười nói:
- Anh em chúng
tôi đến đây với mục
đích tìm lão Ngoan-Đồng Châu-bá-Thông,
chẳng ngờ
gặp nhiều chuyện kỳ quái thế
này.
Hai người
chủ khách say sưa chuyện trò, thì
khí nóng trong tòa nhà mỗi lúc
một tăng.
Tiêu-tương-Tử,
Ni-ma-Tinh, vì phải vận hết sức
nội công để chống lại áp
độ của nhiệt
khí, đến
nổi phải quỳ gối xuống.
Doãn-y-khắc-Tây
lúc nầy thở hổn hển, miệng
khô như đốt, đôi mắt nhắm
lại. Trong
lúc đó
bọn áo xanh vẫn tươi cười
vui vẻ như ngồi trong gió mát, và
tiếp tục hỏi
Doãn-y-khắc-Tây:
- Thế thì
quý vị là kẻ cùng môn phái
với lão sao?
Doãn-y-khắc-Tây
mệt quá cố sức đáp lời
nhưng không đáp được
hết câu:
- Chúng... tôi...
với...!
Tuy Kim-luân Pháp-Vương
cố giữ được vẻ đĩnh
đạc, nhưng thật ra đã quá
sức mệt.
Ông ta thầm
trách Ni-ma-Tinh tài nghệ tu luyện chưa
được đến bao nhiêu, mà
phách
lối đưa
cả bọn vào thế khó xử.
Pháp-Vương
bực quá đưa mắt nhìn Ni-ma-Tinh,
té ra Ni-ma-Tinh đôi mắt đã
nhắm
nghiền, miệng
thở phì phào.
Riêng Dương-Qua
vì trước đây, đã
nằm liền mấy năm trên Hàn-ngọc-Sàn,
nên đã có
phép điều
tiết nóng lạnh trong khi gặp nóng đến
mức nào, chàng cũng chẳng
cần phải
vận nội công,
cho nên cả bọn đều mệt nhừ
mà Dương-Qua vẫn nh thờng.
Người
áo xanh nói:
- Lão ta quá
lắm, đã đến tận đây
phá phách.
Dương-Qua
nói:
- Có phá
phách gì nhiều không? Tôi nghe hình
như tôn chủ đây trách ông
ta đốt sách,
đập bể
cái gì đó?
Ngay từ
lúc đầu thấy sự bình thản
của Dương-Qua trong nóng bức, ai
nấy đều khen
ngợi, giờ
lại thấy chàng nói rất thản
nhiên âm thanh không hề bị xao động
tí nào, nên
mọi người
càng khâm phục hơn.
Người
áo xanh nói tiếp:
- Mấy hôm
trước, lão ta đến đây
giả điên giả cuồng, trêu chọc
đủ điều, rồi lại đá
bể
nổi thuốc
linh đơn của thầy chúng tôi.
Thiếu nữ
áo xanh cũng xen vào:
- Không phải
như thế thôi đâu! Lão nghịch
đó còn đạp rụi mất hai
cây lan thảo thần
nữa chứ!
Dương-Qua
lắc đầu có vẻ than phiền
nói:
- Cái lão
Ngoan-Đồng đó quấy phá! Lan
thảo thần phải trồng mất đến
bốn trăm năm
mà lão
nỡ đưa chân ra đạp rụi
như thế!
Đoạn Dương-Qua
nói sang chuyện khác:
- à! Thật
chúng tôi quá sơ suất. Vào
nhà người mà quên hỏi
danh tánh chủ nhân. Vậy
tiện đây
xin cho biết đại danh của quí nương.
Thiếu nữ
đôi má ửng hồng, ngập ngượng
muốn đáp, nhưng một người
áo xanh rước
lời:
- Điều
ấy rất khó lòng, vì chúng
tôi chưa được thầy cho phép
xưng danh. Mong quí
khách tha thứ
cho!
Dương-Qua
ngẫm nghĩ:
- Bọn nầy
là ai mà cố ý ẩn dật, không
muốn xưng tên cho ai biết. Nếu như
thế cũng
không có
gì lạ lắm.
Chàng liền
hỏi:
- Vậy bây
giờ thân phận của Châu-bá-Thông
ra sao rồi?
Câu chuyện
đang hỏi han, lễ nghĩa thì Doãn-y-khắc-Tây
lại hét lên, rồi hổn hển chạy
ra ngoài, vì
hắn không thể chịu nổi sức
nóng quá cao trong nhà đá ấy
nữa.
Người
áo xanh thứ ba vẫn tự nhiên,
nh không lưu ý đến tiếng hét
của Khắc-Tây, chỉ
theo dõi lời
nói của Dương-Qua, rồi đáp:
- Châu-bá-Thông
còn phải chịu thêm một tội lớn
nữa là đã đốt nhiều
sách quý trong
động, làm
cho sư phụ và các huynh trưởng
chúng tôi quá giận đuổi theo
đánh, nhưng
lão đã
cao bay xa chạy, trốn mất rồi, nên
sư-phụ chúng tôi tức giận
lão lắm!
Người
áo xanh nói chưa dứt lời,
đã nghe tiếng hét của Tiêu-tương-Tử.
Tiêu-tương-Tử
không chịu
nổi nên phải chạy ra ngoài.
Dương-Qua
tiếp lời người áo xanh
nói:
- Châu-bá-Thông
võ nghệ siêu quần, hành động
cổ quái, khó mà bắt lão
lắm!
Bọn áo
xanh rất thích nói chuyện với
Dương-Qua, vì chàng với bọn
áo xanh như cùng
một lứa
tuổi, và chàng cũng chịu nóng
như họ.
Trong lúc Dương-Qua
và bọn áo xanh đang nói chuyện
về Châu-bá-Thông, dùng tài
thuật kỳ
quái chống lại với động-chúa,
thì Kim-luân Pháp-Vương bỗng gọi
lớn:
|