THẦN
ĐIÊU ĐẠI HIỆP - HỒI 39
Bày
thạch trận vây khốn Kim-Luân
Kim Dung
Hai đường
gươm xuống qua rất mạnh, nhưng nhờ
có mã giáp sắt hộ thân nên
mũi
kiếm chỉ
trượt qua đứt sơ sơ, tuy
có ra máu nhưng không nguy hiểm mấy.
Mặc dù
không bị trọng thương nhng Kim-Luân
Pháp-Vương cũng đã kinh hồn
hoảng
vía vì
hai đường gươm ấy, lật
đật nhào lộn ra sau tránh các
đòn khác, đang dồn dập
phóng mạnh
vào người ông.
Dương-Qua
thừa thế reo to:
- Cô nương,
lúc bấy giờ nen đánh theo
thế "nguyệt hạ hoa tiền" (dưới
trăng trươc hoa)
thì hơn.
Miệng hò
reo, tay vung gươm lia lịa chém trên đâm
dưới vun vút, đứng ngoài
nhìn vào
không khác
chi một luồng bạch tuyết đang bao vây
cả thân hình Kim-Luân.
Lúc bấy
giờ lưỡi gươm của Tiểu-Long-Nữ
cũng rít lên xào xạt, xé gió
ào ào lộng lên
kết thành
những đốm trắng linh động,
không khác nào muôn ngàn đóa
bạch hoa đang
bay trước
gió, có lúc uốn khúc như hàng
đàn rắn bạc, làm cho Kim-Luân
hoa cả mặt
không còn
biết nơi nào né tránh nữa.
Ngay chỗ địch thủ đứng
cũng không phân biệt
được
rõ ràng, thì làm sao còn chống
cự cho được. Vì vậy e phải
lùi ra sau múa vòng
chống đỡ
cầm chừng, thái độ vô
cùng lúng túng.
Thấy địch
thủ đang lùi dần để tìm
một lối thoát, Dương-Qua lại thét
lớn:
- Bây giờ
nên theo thế "thanh ẩm tiểu chước"
(vừa rót uống) để tấn
công thì vừa.
Nói vừa
dứt lời, chàng chống gươm
như người đang say rượu
còn Tiểu-Long-Nữ lại
quay ngược
mũi gươm lên tựa như người
đang bưng ly rượu để uống
vậy.
Kim-Luân trông
thấy hai người vừa đánh
vừa đỡ ăn khớp cùng
nhau chặt chẽ không
khác gì
hai người máy, mà đường
gươm nào cũng rất lợi hại,
vừa kỳ ảo vừa biến hóa
phi thường
không thể nào chống đỡ
cho kịp thì trong lòng đã hoảng
sợ, nghĩ bụng:
- Trời
đất mênh mông, anh tài phát
sinh ngày càng lắm. Hai người
còn trẻ măng mà
kiếm pháp
lợi hại dường này, thật
bên Tây Tạng chưa có ai bì kịp.
Không ngờ đất
Trung-nguyên lại
lắm nhân tài như thế. Xưa nay
ta chẳng khác nào ếch ngồi đáy
giếng, coi trời
bằng vung, không chịu mở mắt
nhìn hết anh hùng trên thiên hạ.
Bây
giờ sáng
mắt ra thì kể cũng hơi muộn.
Thật ra, với
tài nghệ của Kim-Luân Pháp-Vương,
có thể gọi được là
thiên hạ vô địch.
Ngay như cả
hai người Dương-Qua và Tiểu-Long-Nữ
cùng hiệp sức chiến đấu
cũng
không thắng
nổi. Tuy nhiên nhờ cả hai đã
biết khéo léo áp dụng kiếm
pháp "song
kiếm hợp
bích" của bà Lâm-Triều-Anh sáng
chế nên ông mới chịu thua sút
và tránh
đỡ
không kịp. Kiếm pháp này tưởng
trên thế gian cũng chưa có môn
phái nào cao siêu
bằng.
Theo kiếm pháp
này, cứ mỗi chiêu số phải
có một đường thuận và
một đường nghịch
cho trai đánh
gái đỡ, hoặc gái đánh
trai đỡ ăn khớp lạ thường,
đối phương không thể
nào dự
đoán trước được.
Hơn nữa, mỗi thế đều
có đặc một cái tên vô
cùng bóng bẩy
khả ái
như "cầm sắc tương hòa" (sắc
cầm cùng hòa tấu), "tùng hạ
đối địch" (đánh cờ
dưới
bóng cây tùng), "tảo tuyết phanh
trà" (quét tuyết mở trà) hay
"tri biện điệu hạc"
(giặc hạc
bên hồ). Tên gọi càng êm tai
thì lối đánh đỡ càng
đẹp mắt bấy nhiêu.
Nguyên Lâm-Triều-Anh
là một bậc thiên tài, âm thạo
cả cầm kỳ thi họa, từ ngày
bị
thất tình
vì Vương-Trùng-Dương trở
về ẩn thân trong Cổ-mộ đài
đã đem hết tài năng
sở trường
ra sáng chế nên pho võ công này.
Thật ra, Lâm-Triều-Anh biên soạn và
sáng chế
ra không ngoài mục đích tiêu
khiển để quên những nỗi
buồn lắng đọng trong
tâm tư. Chính
bà cũng không ngờ rằng kiếm
thuật này, mười năm sau đã
giúp cho một
đôi nam
nữ thiếu niên của phái Cổ-mộ
đã áp đảo được
một cường địch lợi hại
nhất võ
lâm hiện
thời.
Có một
điểm đặc biệt là, cũng
đồng thời song đấu, nhưng
phải là một đôi nam nữ
đang yêu
nhau tha thiết, có thể sống chết
cùng nhau thì cuộc đấu mới
thêm phần lợi
hại và
tuyệt diệu, diễn tả được
tất cả sự huyền diệu của
cặp thư hùng. Lúc đầu vì
chưa
hiểu hết
những sự thâm thúy của kiếm
thuật, hai người tập luyện có
vẻ hời hợt ít hứng
thú, nhưng
khi gặp một kình địch lợi
hại, càng đẩy càng thấy những
cái hay ho tuyệt
diệu của
các thế kiếm đã dạy.
Dương-Qua
và Tiểu-Long-Nữ là đôi
bạn tình mới bắt đầu
yêu thương nhau tuy chưa
chung chăn gối,
nhưng hai tâm hồn như một, cùng
hòa hợp một niềm rung cảm như
nhau, không khác
nào Lâm-Triều-Anh trong lúc đang
cảm xúc ngồi soạn thảo ra
Ngọc-nữ
Tâm-kinh. Cho nên cả hai càng đấu
càng nhớ thêm kiếm quyết,
càng đánh
càng thông
suốt thêm những cái tinh diệu
của đường gươm, không
khác gì người xe tơ
đã gỡ
dần ra sợi rối.
Hoàng-Dung đứng
ngoài nhìn xem trận đấu, vừa
chú ý theo dõi thái độ của
hai người.
Bà thấy
Tiểu-Long-Nữ đôi má đỏ
hây hây, chốc chốc nhoẻn một
nụ cười e lệ liếc
sang. Dương-Qua
thì mắt đưa mày liếc mỗi
cử chỉ đều quan tâm tới
dáng điệu và cảm
xúc của
người yêu, hình như lúc nào
cũng muốn chứng tỏ cho cô nương
mình biết
rằng, dù
cho biển cạn non mòn, gươm dao kề
cổ cũng không quên nàng.
- Mặc dù
chống cự với một cường
địch vô cùng hung ác, nhưng hai
người vẫn không
hề nao núng
và luôn luôn giữ một thái
độ dịu dàng của một trai gái
đang biển hạn non
thề, bất
chấp cả đến thiên hạ.
Hình ảnh
của hai người khiến cho Hoàng-Dung
chợt nhớ lại hồi nào mình
cùng
Quách-Tỉnh
quen nhau, yêu nhau rồi cùng sánh nhau bao
nhiêu năm trường trên cuộc
đời
gian nguy gió bụi. Bao nhiêu đó cũng
đủ sưởi ấm được
cõi lòng bà đang chua xót
vì hoàn
cảnh đang lâm nguy của thực tại.
Nhờ phúc
chí tâm linh, Dương-Qua cùng Tiểu-Long-Nữ
càng đấu càng nhớ ra những
thế hay và
cùng sáng chế ra lắm thế kỳ
diệu ác liệt hơn nữa, khiến
Kim-Luân
Pháp-Vương
đánh đỡ gần muốn đứt
hơi.
Bị dồn
vào thế bí, lúc bấy giờ
Kim-Luân Pháp-Vương mới hối
tiếc:
- Phải chi lúc
nãy ta đừng dẫm nát các
bàn ghế thì bây giờ đã
có nơi ẩn nấp thuận tiện
rồi. Thôi,
không còn cách nào hơn là
tìm cách nhảy theo cầu thang xuống
phía dưới
thoát nạn
cho rồi.
Nghĩ vậy
rồi ông lùi dần lại phía cầu
thang. Khi tới nơi, ông vừa đánh
vừa bước xuống
từng bước
một.
Dương-Qua
và Tiểu-Long-Nữ tự nhiên
được chiếm ưu thế từ
trên đánh xuống. Cả hai
cùng có
một ý nghĩ:
- Chuyến này
chúng ta đã có thể trục xuất
mày ra khỏi khách sạn cho mà xem.
Hoàng-Dung đứng
nhìn trận đấu, thấy Dương-Qua
và Tiểu-Long-Nữ đã khéo
phối
hợp lối
đánh "song kiếm hợp bích" trong
ngọc nữ-tâm kinh đuổi được
Kim-Luân
Pháp-Vương
thì trong lòng rất mừng. Nhưng
khi thấy lão tìm cách rút lui dần
thì bà
ngại rằng,
nếu để hắn thoát khỏi và
tìm được cách đối
phó thì nguy hiểm lắm. Phải
chi hai người
cố gắng diệt được hắn
thì quân Mông-Cổ không khác
nào rắn đã mất
đầu đỡ
được một gánh nặng cho anh
hùng Trung-nguyên và đỡ được
hậu họa.
Vì vậy nên
bà vội nói vọng xuống cho hai người
cùng nghe:
- Qua nhi, trừ
cỏ phải bứng sạch gốc, không
nên để sau này nó mọc lại
thì nguy hiểm
lắm nhé.
Dương-Qua
cũng muốn làm theo lời dạy
của Hoàng-Dung. Nhưng có một điều
đáng
tiếc là
khi sáng chế ra kiếm pháp này,
Bà Lâm-Triều-Anh chỉ có dụng
ý phô trương
những ngón
lợi hại của võ công mình
chứ không có ý sát hại
ai. Vì vậy nên hai người
chỉ có
thể làm cho đối phương lúng
túng chịu thua chứ không có
những đòn hiểm yếu
hạ sát
được địch thủ.
Kim-Luân càng
ngày càng bị áp lực của
hai đường kiếm, vừa đánh
vừa rút lui, trong
bụng lo lắng
không thoát khỏi chết. Gần tới
đất, ông co gio đạp mạnh gãy
luôn ba nấc
thang rồi phóng
luôn xuống đất.
Dương-Qua
muốn nhảy theo nhưng không kịp.
Đặt chân
xuống đất, Kim-Luân đưa chiếc
vòng ra thủ thế phía trước
rồi nói lớn:
- Hôm nay được
nếm mùi võ công của Trung-nguyên,
tôi rất lấy làm thán phục.
Vậy
xin liệt vị
vui lòng cho biết môn kiếm kỳ diệu
này mệnh danh là chi?
Dương-Qua
vừa cười vừa đáp
lại với giọng đùa cợt:
- Võ nghệ
Trung-nguyên chỉ có hai môn võ tuyệt
tác, ấy là "dùng bổng đánh
chó" và
"dùng gươm
đâm lừa".
Kim-Luân nghe
lạ tai quá, lập lại:
- Dùng gươm
đâm lừa! Môn võ công có
cái tên cũng ngồ ngộ nhỉ?
Dương-Qua
ngước mặt cười to và
nói luôn:
- Lừa trọc
ấy chứ còn thứ nào nữa?
Ngộ lắm phải không?
Lúc bấy
giờ Kim-Luân mới biết ra là
chàng mượn cớ để mắng
mình, xem như đồ lừa
đồ chó!
Tụi này không bao nhiêu tuổi mà
xấc láo thật!
Nghĩ đến
đây, Kim-Luân giận điên lên
mắng lớn:
- Súc sinh miệng
còn hôi sữa. Một ngày gần
đây ta sẽ cho mi nếm đòn của
ta.
Nói xong ông
tung vòng kêu leng keng rồi phi thân biết
mất.
Dương-Qua
có biết đâu rằng chỉ vì
những phút bồng bột nóng nổi
nói những câu
châm biếm
móc họng đến nỗi gây thành
thù hận. Về sau biết bao nhiêu thù
hận liên
tiếp xảy
ra nguyên do cũng vì hậu quả của
lối đối xử vô lễ ngày
hôm nay.
Thấy Kim-Luân
Pháp-Vương chỉ nhún vai một cái
đã bay đi mất dạng thì biết
rằng
muốn đuổi
theo cũng không kịp nữa nên quay
mình trở lại lên lầu.
Lúc bấy
giờ Đạt-nhĩ-Ma đang ôm
Hoắc-Đô ngồi trên lầu cạnh
bàn ăn trông thấy
Dương-Qua
xách kiếm bước vào đứng
ngay dậy hỏi nhỏ:
- Sao, tiểu huynh
định hạ sát anh em tôi chăng?
Xưa nay Dương-Qua
có tánh ưa đùa cợt ngạo
nghễ người lớn hơn, chứ
không có ác ý
hay muốn sát
hại người. Nay thấy tình cảnh
hai người đang ở trong vòng
nguy biến
đáng thương
hại thì lòng không nỡ, nên
quay sang thưa cùng Hoàng-Dung:
- Thưa Quách
Bá Mẫu, ý con muốn tha bọn này,
bá mẫu có bằng lòng chăng?
Hoàng-Dung gật
đầu tán thành.
Dương-Qua
rút trong người ra một cái ống
nhỏ đặt vào vết thương của
Hoắc-Đô cho
hút hết
nọc ong ra rồi đưa thuốc bảo xoa
vào chỗ ấy.
Hoắc-Đô
và Đạt-nhĩ-Ma mừng quá
vội dùng tiếng Mông-cổ tỏ lòng
cám ơn. Sau đó,
Hoắc-Đô
vội lấy ra một gói thuốc bột
trao cho Dương-Qua mà nói rằng:
- Vị tiền
bối hôm nọ múa bút bị mấy
mũi đinh độc của tôi chắc
nay chưa hết. Xin cứ
dùng thuốc
này mà thoa tự nhiên khỏi ngay.
Xong đâu
đấy, Đạt-nhĩ-Ma nghiêng mình
tạ ơn Dương-Qua một lần nữa
rồi cõng sư
đệ lên
lung bước ra khỏi khách sạn.
Quả nhiên
y có sức khỏe như thần, tuy cõng
một người to lớn trên lưng
nhưng bước đi
không thấy
tỏ ý gì là nặng nhọc hay lán
cấn.
Cả bọn võ
sĩ Mông-cổ cũng lẳng lặng theo
hai người bước xuống lầu.
Dương-Qua
cầm gói thuốc giải độc trước
mặt Hoàng-Dung rồi lễ phép thưa
rằng:
- Kính thưa
Quách Bá-mẫu, cháu xin gửi
thuốc chữa cho Chu lão tiền bối
và kính lời
từ biệt.
Cháu nhờ Bá-mẫu chuyển lời
của cháu kính thăm Quách bá
bá.
Hoàng-Dung hỏi:
- Cháu định
đi đâu bây giờ?
Dơng-Qua đáp
nho nhỏ:
- Thưa bá
mẫu, cháu định cùng Cô nương
đây tìm nơi hoang vắng xa xôi
ẩn dật,
nguyện không
bao giờ chung đụng với đời
để làm hại đến thanh danh của
bá mẫu.
Hoàng-Dung suy
nghĩ:
- Dương-Qua
không nệ tử sanh, liều mình giải
cứu mẹ con ta thì ơn này rất
trọng. Nay
vì tuổi
trẻ để cho chữ tình làm
mê muội mai một cuộc đời
anh kiệt. Ta lẽ nào làm ngơ
mà không
tìm cách giác ngộ được
nó ra khỏi bến mê?
Nghĩ xong bà
nói lớn:
- Đi một
ngày một đi, làm chi mà tội
thế cháu? Hôm nay là ngày đoàn
tụ vui mừng
của bác
cháu và anh em trong gia đình. Vậy
cháu hãy ráng ở lại với
bác một vài hôm
rồi sẽ
đi không muộn.
Thấy Hoàng-Dung
đã lùng lời lẽ thắm
thiết để lưu mình, chẳng lẽ
chối từ mãi, nên
đành phải
nhận lời.
Hoàng-Dung lấy
tiền ra bồi thường cho khách
sạn về chi phí ăn uống cùng
những đồ
đạc bàn
ghế bị hư hao trong cuộc chiến đấu
vừa qua, rồi bảo dọn phòng nơi
quán trọ
gần đó
tạm nghỉ.
Cơm chiều
vừa xong, bà sai Quách-Phù và
hai anh em họ Võ mời Tiểu-Long-Nữ
sang
trò chuyện.
Khi Tiểu-Long-Nữ
vừa tới bà tươi cười
nói:
- Tôi có
vật này, muốn tặng Cô em để
lưu làm kỷ niệm của buổi gặp
gỡ hôm nay.
Tiểu-Long-Nữ
hỏi:
- Bà có
lòng thương tặng món gì vậy?
Hoàng-Dung kéo
Tiểu-Long-Nữ lại sát bên mình,
lấy lược chải tóc cho nàng
như một
người
em gái.
Mái tóc
nhung của nàng xõa xuống ngang vai óng
ánh như tơ trông vừa ngây
thơ vừa
ngộ nghĩnh.
Sau khi chải chuốt
xong xuôi bới tóc gọn gàng,
bà lấy một chiếc trâm bằng
vàng đem
cài lên
mái tóc của nàng rồi nói:
- Chị muốn
tặng cô em chiếc trâm này dùng
để cài tóc nhé.
Chiếc trâm
này là một món bảo vật quý
giá vô cùng. Toàn thân giống
như một cành
hoa hòa chạm
trổ rất tinh xảo, có những đóa
hoa hàm tiêu dính ở đầu
trâm, khiến ai
mới trông
qua cũng phải trầm trồ là mỹ
thuật. Càng xem lâu càng thấy những
cái quý
giá trong nét
chạm và lối trình bày.
Chiếc trâm
này nguyên lai do phụ thân Bà là
Hoàng-Dược-Sưư, Chúa đảo
Đào-Hoa,
chuyên môn
sưu tầm những bảo vật của
thiên hạ, sau này lựa những
viên ngọc thật
quý và
vàng ròng đem chạm thành chiếc
trâm này cho con gái. Xem thế cũng
đủ biết
trâm này
giá trị là dường nào.
Từ lúc
nhỏ, Tiểu-Long-Nữ chỉ cài bằng
nữ trang tầm thường, bằng
sừng hoặc xương
hoặc kết
bằng cỏ. Nay được Hoàng-Dung
tặng một chiếc trâm bằng vàng
dát ngọc
quý báu
thì mừng lắm, cám ơn luôn
mồm.
Sau khi cài trâm
trên tóc nàng rồi, Hoàng-Dung thủ
thỉ nói chuyện luôn mồm ra chiều
tương đắc
lắm.
Qua những
câu chuyện hàn huyên, Hoàng-Dung nhận
thấy Tiểu-Long-Nữ bản chất
thành thật,
thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy và
cuộc đời chẳng có một
tý kinh nghiệm nào
hết. Mặt
nàng tươi như hoa phù dung buổi
sáng, thân hình óng ả kiều
diễm, càng ngó
càng đẹp.
Thấy nàng
quá xinh, Hoàng-Dung suy nghĩ:
- Nếu như
nàng cùng Dương-Qua không có
nghĩa thầy trò, hai đứa lấy
nhau quả xứng
đôi vừa
lứa, gái sắc trai tài, thế
gian chắc không đôi nào sánh
kịp.
Suy nghĩ xong
bà dịu giọng hỏi nhỏ:
- Này cô
em, quả em có thật tình yêu thương
Dương-Qua hay chỉ nói đùa cho vừa
lòng nó?
Tiểu-Long-Nữ
cười tươi như hoa và nói:
- Dạ thương
thật chứ. Nhưng tại sao bà lại
hỏi như vậy, chẳng hay có điều
gì can hệ
chăng?
Nghe Tiểu-Long-Nữ
trả lời một cách thẳng thắn
và hồn nhiên. Hoàng-Dung bỗng
chạnh lòng
nhớ lại ngày còn niên thiếu.
Hồi ấy bà và Quách-Tỉnh yêu
thương nhau
tha thiết, nhưng
cha mình lại không chịu gả cho chàng,
ngoài ra bọn Giang nam Thất
quái, sư
phụ của Quách-Tỉnh cũng không
bằng, lòng họ xem nàng là yêu
nữ và buộc
Quách-Tỉnh
phải xa lánh nhất thiết không cho
gần mình. Cả hai người phải
trải qua
trăm cay ngàn
đắng, vào tử ra sinh, nhưng rốt
cuộc rồi cũng lấy nhau làm chồng
vợ có
con có cái
cho tới ngày nay.
Liên hệ
tới cặp này bà suy nghĩ:
- Dương-Qua
và Tiểu-Long-Nữ đã thật
tình yêu nhau tha thiết, có khác
nào chúng
mình xa kia. Vậy
thì mình nỡ nào đi chia rẽ
họ cho đành lòng. Ngặt một nỗi
là hai
đứa
đã mang danh thày trò quá rõ
rệt trên dưới phân minh, nếu
để xảy ra chuyện
bướm
ong bậy bạ sao khỏi mang tiếng loạn luân.
Cả hai đều tài nghệ tuyệt vời,
tương
lai đầy
hứa hẹn, nếu vương phải tội
lỗi này thì cũng như chôn cả
cuộc đời rồi còn mặt
mũi nào
nhìn anh hùng trong thiên hạ nữa.
Suy đi nghĩ
lại xong, bất giác Bà chiếp miệng
thở dài não ruột, rồi quay sang
Tiểu-Long-Nữ
nhỏ nhẹ nói:
- Long cô-nương
này, em còn thiếu kinh nghiệm chưa hiểu
việc đời mấy. Chị dù
sao
cũng đã
từng trải hơn nhiều, tuy không
tài chỉ hơn em nhưng cũng có thể
thấy được
nhiều chuyện
lạ, cái hay thì theo, cái bậy nên
tránh. Sở dĩ con người hơn
được thú vật
là vì
biết điều phải trái và không
để ái tình làm ngu muội. Nếu
làm người mà mải mê
theo tình ái
quên cả lý chí thì thiên hạ
cho là "thú tính" nghĩa là không
hơn chi loài
súc vật.
Chị chỉ ngại rằng, nếu sau này
em lấy Dương-Qua sẽ bị thiên hạ
chê cười
khinh khi và
không ai thèm nhìn tới mặt hai
người nữa đấy.
Tiểu-Long-Nữ
nghe nói đã buồn lòng, nhưng
vẫn cười gượng đáp:
- Thiên hạ
nhìn hay không, đối với chúng
tôi có can hại gì đâu.
Nghe nói như
vậy, Hoàng-Dung suy nghĩ:
- Cô bé
này không phải hạng muốn xem thường
dư luận, nhưng có lẽ từ bé
chí lớn,
sống trong Cổ-mộ,
không giao thiệp với xã hội bên
ngoài, chỉ chuyên về võ nghệ
nhưng không
am hiểu mấy về lễ nghi, đạo
đức. Cũng như ngày nay, tại
các nhà
trường,
mấy thầy giáo chỉ chú trọng
dạy viết chữ thật đẹp, làm
văn cho thật hay, chứ
mấy ai lưu
tâm tới chuyện luân thường
đạo lý, đào luyện đạo
đức cho con em? Thật
đáng ngán
thay cho những hạng thày giáo chỉ
nhắm về bát gạo nồi cơm. Nếu
thiên hạ
chỉ toàn
những hạng như thế này thì
xã hội còn nhiều sự đảo
lộn xấu xa hơn nữa.
Suy nghĩ xong
bà nói tiếp:
- Cô em không
cần tới họ đã đành,
nhưng còn Dương-Qua chẳng lẽ cũng
như thế sao?
Tiểu-Long-Nữ
đáp:
- Xin bà chị
chớ lo điều đó. Nay mai hai
chúng em sẽ trở về Cổ-mộ,
sống ẩn tích mai
danh, xa rời
xã hội loài người, có
cần gặp gỡ hay tiếp xúc với
ai nữa đâu?
Hoàng-Dung giả
bộ ngơ ngác hỏi tiếp:
- Thế ra một
khi đã về Cổ-mộ rồi cả
hai sẽ vĩnh viễn ly khai với xã
hội loài người hay
sao?
Tiểu-Long-Nữ
quả quyết đáp:
- Dạ đúng
như vậy. Bà chị cũng thừa
hiểu trong xã hội không biết bao nhiêu
là hạng
người
điêu ngoa xảo trá, tiếp xúc
với họ chỉ thêm bực mình
mà thôi.
Nàng vừa
nói vừa lăng xăng đi đi
lại lại trong phòng hình như để
cởi mở bớt những
nỗi bực
trí đang tràn ngập trong tâm hồn.
Hoàng-Dung bắt
đầu gợi lại câu chuyện:
-Dương-Qua
sống cuộc đời phiêu bạt
từ thuở bé, nay đây mai
đó không khác nào cánh
chim trời
tung mây lướt gió.
Tiểu-Long-Nữ
cười xòa đáp với
giọng đầy tin tưởng:
- Bà chị
không cần phải lo nghĩ về điểm
đó. Một khi đã có em bên
cạnh tự nhiên anh
ấy sẽ
thấy yêu đời, quên cả
bao nhiêu cảnh xảo trá phiền phức
bên ngoài ngay. Chừng
ấy em chắc
chắn anh ấy không buồn chán đâu.
Hoàng-Dung thở
dài than nhỏ:
- Lòng người
đâu phải sắt đá mà
cứ mãi mãi trơ trơ đến
muôn đời không thay đổi.
Chị
ngại rằng
trong thời gian ba năm Dương-Qua chưa
buồn chán, nhưng sau đó khi cuộc
đời
vắng lạnh trong Cổ-mộ đã thấy
buồn tẻ, thế nào y cũng nhớ
lại những cảnh phồn
hoa vui vẻ ngoài
đời, chừng ấy, em có
đủ sức giữ chân y nữa
hay không? Chừng ấy,
em sẽ đóng
vai một góa phụ sống với chuỗi
ngày vò võ một thân một bóng
trong rừng
sâu, và
trong những phút cô độc, suy nghĩ
lại những lời hôm nay, em sẽ
thấy chị là kẻ
sành đời,
có tài đoán trước được
mọi việc. Chừng ấy dù có
hối tiếc thì cũng đã muộn
rồi. Chi bằng
ngay bây giờ, khi bàn tay chưa nhúng
phải chàm, em nên đắn đo suy
nghĩ lại
trước khi hành động.
Nói tới
đây bà đổi lại giọng thân
mật hơn trước:
- Tục ngữ
có nói: "Đàn ông năm bảy
tấm lòng, lòng yêu thương vợ,
lòng yêu người
ngoài". Một
khi hoa đã biết bướm thì
dù ai có mãnh lực gì đi
nữa cũng không thể nào
giữ mãi
không cho bướm rời hoa đâu
nhé.
Nghe Hoàng-Dung
nói, dần dần thấy cũng có
lý. Tiểu-Long-Nữ đứng lặng
yên cắn
môi suy nghĩ,
bao nhiêu ý nghĩ trái ngược
nhau đã bắt đầu tranh chấp
và gây sóng gió
trong lòng nàng.
Một chập sau nàng mới nói:
- Vậy để
em tìm cách dò xét ý tứ
Dương-Qua xem sao?
Nói xong nàng
lẳng lặng bước lanh ra ngoài.
Hoàng-Dung đưa
mắt nhìn theo miệng lẩm bẩm khen vùi:
- Con người
như nàng quả nhiên xinh đẹp, mặt
như hoa phù dung, thân hình mảnh
mai như cành
liễu yếu. Dáng bước đi
không khác gì nàng tiên đang
lả lướt bên cánh
hoa soi hình dưới
bóng nguyệt! Một con người dễ
thương như thế này đáng
lẽ phải
được
hưởng chữ hạnh phúc hoàn
toàn mới phải. Vì chữ
luân lý và lễ nghĩa ta buộc
lòng xen vào,
làm phá vỡ cuộc tình duyên
của hai đứa thật cũng quá
tội. Nhưng thôi,
thà rằng
cực lòng trước để khỏi
đau lòng sau.
Nghĩ tới
đây bà bỗng chợt nghĩ:
- Tánh nàng
thiệt tình như đếm, không biết
sẽ dùng lời lẽ chi để
dò ý Dương-Qua
đây? Ta
phải rình nghe cho biết.
Nghĩ xong bà
rón rén bước lại cạnh phòng
Dương-Qua, áp tai vào vách tường
nghe
thử.
Lúc ấy
phía trong, Tiểu-Long-Nữ đã hỏi
Dương-Qua:
- Này Qua nhi,
hiện tôi cũng nhận rằng cậu hết
tình yêu thương tôi. Nhưng một
thời
gian qua, mối
tình này sẽ chán chê rồi
phai lạt đi, chừng ấy cậu sẽ
nghĩ sao nhỉ?
Bỗng nhiên
thấy Cô nương có ý nghĩ
lạ đời như vậy, Dương-Qua
lạ lùng vô cùng
không biết
nguyên nhân vì đâu, nhưng cũng
đáp:
- Tại sao cô
nương bỗng cố ý tưởng
khác đời như thế? Hễ
yêu nhau thì yêu mãi cho
tới khi
đầu bạc răng long, chứ đâu
có chuyện nửa chừng rồi
chán nản được.
Câu trả
lời này khiến cho Tiểu-Long-Nữ
cảm động đến ứa lệ,
nàng bồi hồi đứng lặng
một hồi
rồi nói tiếp:
- Được
vậy thì có gì hơn. Tôi chỉ
sợ nói thì dễ nhưng không
giữ đợc thủy chung đó
thôi.
Nói xong nàng
rút chiếc trâm trên đầu xuống
móc lên tường rồi bảo
nhỏ:
- Khuya rồi,
chúng ta ngủ đi, sáng sẽ hay.
Dương-Qua
nói:
- Vừa rồi
nghe Quách bá-mẫu nói đêm
nay Cô nương cùng ngủ chung phòng
với mẹ
con bà, còn
tôi ngủ với anh em nhà họ Võ,
thế sao cô nương lại về đây
để ngủ?
Tiểu-Long-Nữ
gay gắt đáp:
- Mặc kệ!
Ai lại để cho hai người đàn
ông lạ hoắc ngủ chung trong phòng cậu
cho
được.
Ta cứ ngủ đây chứ không
đi đâu hết có sao không?
Nàng nói
xong thổi ngay ngọn đèn.
- Té ra Triệu-chí-Kính
đã nói đúng sự thật.
Thì ra hai thầy trò hắn đã
bậy bạ cùng
nhau lâu rồi.
Thôi, trai gái nó ngủ chung phòng
nói chuyện nhảm nhí ta hơi đâu
nghe
ngóng cho mệt
và mất thể giá.
Nghĩ xong bà
định cất bước đi nơi
khác. Nhưng bỗng nhiên trong phòng
có tiếng mở
cửa kêu
kẹt một cái. Bà liền nán lại
lắng tai nghe nữa.
Tiếng kẹt
đó là do Duơng-Qua mở cửa
cho gió thổi vào trong phòng. ánh
trăng từ
cánh cửa
lùa vào trong phòng trông rõ hết
mọi vật. Bà định thần nhìn
lại thì thấy
Tiểu-Long-Nữ
nằm trên chiếc võng treo tận nóc
nhà, còn Dương-Qua thì nằm trên
giường
kê phía đàng xa. Té ra mặc dù
hai người cùng ngủ một phòng
nhưng vẫn phân
biệt và
giữ đúng lễ nghi khuôn phép,
không có điều gì tà dạy.
Hoàng-Dung làm
thinh, chấp tay sau đít thủng thẳng
bước đi ra ngoài, trong lòng
phân vân
quyết làm sao cho đúng tâm trạng
và hành động của cặp này.
Khi bà về
tới phòng ngủ bỗng gặp Quách-Phù
và hai anh em họ Võ cũng vừa
đi lại.
Bà bèn
bảo nhỏ:
- Tu-Văn, Đôn-Nho,
hai con nên về phòng mà ngủ, không
cần phải tới phòng
Dơng-Qua nữa
nhé.
Hai anh em họ Võ
cuối đầu tuân lệnh.
Quách-Phù
ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế
mẫu thân?
Hoàng-Dung chỉ
trả lời suông một câu:
- Việc không
can hệ tới con, chớ hỏi vô
ích.
Võ-Tu-Văn
đứng gần hơn, nghe nói chế
nhạo với một giọng vừa pha
trò vừa mỉa mai.
- Có gì
mà không hiểu? Bọn này trò
không ra trò, thầy chẳng nên thầy,
lúc nào cũng
có thể
ăn chung ngủ lộn, có khác chi đồ
súc vật đâu?
Hoàng-Dung hừ
một tiếng rồi nghiêm giọng bảo
nhỏ:
- Ta cấm không
được có những lời
lẽ như thế nữa.
Võ-Đôn-Nho
nói thêm:
- Nước
này mà Sư mẫu còn bênh chúng
làm chi nữa. Đối với
những hạng người vô liêm
sỉ, thiếu
luân thường như chúng nó,
con không thèm trò chuyện cho uổng
miệng.
Quách-Phù
gạt ngang hỏi:
- Thôi đừng
nói nữa. Dù sao họ cũng có
công cứu mạng chúng ta. Phải xem
họ như
những người
có ơn lớn và cư xử
cho phải phép. Còn chuyện riêng của
họ làm sao mặc
kệ, chúng
ta không nên đinh dự vào mà
phê phán. Để có trời
đất chừng trị.
Võ-Tu-Văn
bỉu bôi ra vẻ anh hùng:
- Ân nghĩa
làm chi với bọn người vô
luân. Thà để tôi chết về
tay của Pháp-Vương
Mông-Cổ
còn hơn bắt phải chịu ơn cái
thằng súc sinh ấy.
Hoàng-Dung không
bằng lòng bảo nhỏ:
- Thôi chớ
khá lắm lời, hãy đi ngủ
cho rồi.
Câu chuyện
đối đáp giữa Hoàng-Dung
và ba người, trong phòng Dương-Qua
và
Tiểu-Long-Nữ
nghe rõ mồn một, không sót một
câu.
Ngay từ
lúc nhỏ, Dương-Qua và hai anh em họ
Võ đã đối với nhau
không hạp ý, và
lúc nào
chàng cũng xem hai người như hạng
tiểu nhân dưới tay, nên tuy nghe
nói xấu
mình, vẫn
không thèm chấp nhặt. Nhưng Tiểu-Long-Nữ
thì trái lại. Nàng luôn luôn
thắc mắc
tự hỏi:
- Tại sao ta cùng
Dương-Qua yêu nhau mà họ lại tỏ
ý khinh miệt và oán ghét như
thế
ấy. Tại
sao họ dám bảo chúng ta như đồ
súc vật?
Nàng suy nghĩ
mãi không tìm ra nguyên nhân, và
đêm ấy cứ chập chờn
mãi không
ngủ được.
Đêm càng
khuya, tư bề càng tịch mịch. Tiếng
dế dun kêu ri ri hòa lẫn với
tiếng gió
đa cành
lá ngoài hè thành một âm thanh
não ruột, càng nghe càng buồn thêm.
Tiểu-Long-Nữ
trằn trọc mãi không ngủ được,
bèn gọi Dương-Qua dậy nói:
- Qua-nhi, ta có
câu chuyện muốn hỏi ý kiến
cậu. Nên thành thực trả lời
cho ta nhé.
Đừng
nói dối mà đắc tội đấy.
Đang ngủ
mơ màng bị đánh thức dậy,
Dương-Qua vội hỏi ngay:
- Chuyện gì
Cô nương cứ hỏi, không khi
nào tôi có điều gì man trá
đối với cô nương
đâu.
.................
(Xin lỗi bạn
đọc, truyện bị thiếu 2 trang)
Nghĩ tới
đây, chàng đau đớn quá
ngất xỉu trên đất.
Một chặp
sau, chợt tỉnh dậy, tâm thần thác
loạn, Dương-Qua lồng lộng như ác
thú bị
thương, xô
cửa ầm ầm, miệng kêu thảm
thiết:
- Cô nương,
cô nương ơi!
Vừa nghe
kêu, tiểu nhị vội chạy vào hỏi
tự sự. Vừa trông thấy
tên Tiểu-nhị,
Dương-Qua
mếu máo hỏi:
- Cô gái
áo trắng đã đi ra từ
lúc nào và đi ngõ nào rồi.
Chú có biết xin làm ơn chỉ
dùm.
Tiểu-nhị
nào biết ất giáp chi, chỉ đứng
lặng thinh, không đáp được.
Lòng rối
nhu tơ vò, Dương-Qua nghĩ bụng:
- Nếu chuyến
này không tìm ra thì ngàn đời
xa cách mãi.
Nghĩ xong, chàng
đi xâm xui ra chuồng ngựa dắt
ngựa ra, leo vội lên lưng phóng càn
về hướng
Bắc.
Khi ấy Quách-Phù
vừa thức dậy từ trong bước
ra, thấy Duơng-Qua phi ngựa chạy đi
vội gọi lớn:
- Dương ca
ca, đi đâu sớm vậy. Có
chuyện gì gấp rút thế?
Dương-Qua
không thèm nghe cũng không buồn đáp
lại, giơ roi cho ngựa phi mau như
gió thổi,
chỉ trong nháy mắt đã vượt
ra ngoài hai mươi dặm rồi.
Ngồi trên
mình ngựa chạy bất kể phương
hướng. Dương-Qua kêu gọi như
một người
tuyệt vọng:
- Cô nương
ơi, cô nương! Cô nương đi
ngã nào rồi?
Thấy bóng
nữ lang nào mặc áo trắng chàng
cũng tưởng là Tiểu-Long-Nữ
vội vàng
chạy tới
ngay, khi tới gần nhìn lại không
phải. Rồi chàng lại lủi thủi
bỏ đi nơi khác.
Lầm lũi
chạy thêm một quãng nữa bỗng
gặp Kim-Luân Pháp-Vương và bọn
tùy tùng
đang cưỡi
ngựa đi về hướng Tây.
Kim-Luân Pháp-Vương
nhìn thấy Dương-Qua một người
một ngựa chạy như điên
không có
định hướng, thì ngạc nhiên
lắm, vội vàng quay ngựa chạy qua
chận đầu.
Trong khi ấy
Dương-Qua không một tấc sắc trong
tay, lại gặp đại cường địch
đón
đầu, thật
vô cùng nguy hiểm. Tuy nhiên vì đang
bận tâm tìm kiếm Tiểu-Long-Nữ
không có,
chàng bất chấp mọi việc nào
khác, và dù thần chết đứng
kề bên lưng cũng
không thèm
đếm xỉa.
Thấy Kim-Luân
Pháp-Vương giục ngựa lại chận
đường, Dương-Qua đã
không lẩn
tránh lại
còn dừng lại hỏi lớn:
- Này, ông
có gặp Sư phụ tôi đi về
hướng này hay không?
Kim-Luân Pháp-Vưng
thấy Dương-Qua không lánh mặt mình
đã cho một chuyện lạ
lùng, nay thấy
chàng hỏi như vậy lại càng ngạc
nhiên hơn nữa, bèn đáp
lại:
- Không gặp.
Vậy cô ấy không đi cùng lối
với người sao?
Vốn là
tay thông minh xuất chúng, nên sau mấy
câu nói chuyện, Dương-Qua chợt
tỉnh ngộ
và nhận xét ngay cục diện đã
xảy ra nh thế nào rồi. Chàng bỗng
nghĩ bụng:
- Mình tới
đây, trong tay không có binh khí tùy
thân, tại sao còn đứng lại
nộp mạng
cho nó?
Kim-Luân Pháp-Vương
thì mừng rỡ nghĩ:
- Nó tới
đây một mình, ta không thừa
dịp bắt cổ đi, còn chờ
khi nào nữa chứ?
Ông bèn
xông tới, đưa tay chộp lấy.
Ngay khi đó Dương-Qua đã cho ngựa
bước lùi ra
sau nên chộp
không trúng.
Kim-Luân bèn
thúc ngựa tiến thêm lên cố
bắt cho được.
Lời tục
có nói "đường dài biết
sức ngựa, nước loạn biết
trung thần! Trong lúc này mới
biết con ngựa
ốm của Dương-Qua là một thần
mã.
Vừa thấy
Kim-Luân phi tới trước thì
nó đã tung bốn vó nhảy vụt
qua đầu rồi phi thân
phóng xa gần
mừi trượng mới đặt
chân xuống đất lao vút tới
như tên bắn. Kim-Luân
tuy có ngựa
cũng khá hay nhưng cũng không tài
nào đuổi theo kịp nữa.
Chạy theo một
chặp nhưng không theo kịp, Kim-Luân nghĩ
bụng:
- Thầy trò
nó đã thất lạc rã rời,
ta cần chi phải đuổi theo cho nhọc sức.
Bỗng nhiên
ông nghĩ thêm chuyện khác:
- Hắn còn
đây, có lẽ mẹ con Hoàng Bang-Chủ
cũng còn lẩn quẩn đâu đây
chứ chưa đi
xa. Chi bằng
ta quay lại đi tìm cầu may xem sao.
Nghĩ xong, ông
dẫn bọn tùy tùng quay trở lại.
Dương-Qua
phi ngựa như bay, chạy hơn hai chục dặm
mà không thấy bóng dáng
Tiểu-Long-Nữ
đâu hết.
Trong lòng nôn
nóng hơn lửa đốt, chàng
phi ngựa chạy tán loạn, mấy lần
suýt té nhà
xuống ngựa.
Chàng ôm
chặt lấy cổ ngựa, miệng la lớn
như nói trong mơ:
- Cô nương
ơi, nỡ lòng nào bỏ tôi
cho đành? Tôi đã làm gì
nên tội mà Cô nương lại
đối xử
tình tệ như vậy, Cô nương ơi?
Tiếng chàng
kêu thật bi ai tha thiết, miệng thì la
mà hai hàng nươc mắt chảy ra
không
ngớt.
La một chập
mệt quá, chàng ôm cổ ngựa
suy nghĩ:
- Hay là tại
mình bảo nếu chán Cổ-mộ thì
cùng ra ngoài, nên Cô nương cho
mình là
người
không chung thủy nên tức bực
ra đi lần nữa chăng?
Nghĩ vậy,
chàng lau nước mắt rồi tự
nhủ:
- Cô nương
nhất định trở về Cổ-mộ
chứ không đâu xa. Ta cứ
trở về tự nhiên sẽ gặp
ngay.
Nghĩ xong chàng
giục ngựa nhắm hướng về
Cổ-mộ chạy như gió cuốn.
Đường
về phương Bắc xa cách nghìn trùng,
nhưng trong lòng nôn nóng gặp lại
người
yêu, nên
Dương-Qua bền chí cho ngựa chạy
mãi mà không thấy ngán.
Để đỡ
buồn, chàng ngồi trên mình ngựa
hát nghêu ngao.
Vừa đi
vừa hát, không bao lâu đã
đúng ngọ. Lúc bấy giờ
trong bụng Dương-Qua đã
thấy đói.
Chàng dừng ngựa ghé lại cái
quán nhỏ bên đường mua
vài tô mì ăn đỡ dạ.
Khi ăn xong, thò
tay vào túi thấy không còn một
xu nhỏ. Dương-Qua vừa lo vừa
thẹn
không biết
tính làm sao đây. Cuối cùng
chàng đánh liều chờ khi chủ
tiệm vô ý nhảy
phóc lên
ngựa chạy như tên bắn.
Vừa chạy
chàng vừa nghe văng vẳng tiếng
chủ tiệm chưởi bới om cả
lên. Dương-Qua
nghĩ thầm:
- Họ chửi
cũng đáng lắm.
Chạy mãi
mặt trời đã xế bóng
và ánh tà dương cũng dần
dần sắp tắt. Phía trước
mặt là
một khu rừng
cây cối rậm rạp, có vẻ vắng
vẻ hoang vu.
Khi đến
cạnh ven rừng, bỗng nhiên từ
bên trong có tiếng bình khí chạm
nhau leng
keng rang rảng,
xen vào là tiếng quát tháo om sòm.
Lạ quá,
chàng vội giục ngựa tới gần,
lắng tai nghe ngóng.
Rõ ràng
là tiếng nói của Quách-Phù
và Kim-Luân Pháp-Vương.
Dương-Qua
đoán chắc thế nào cũng có
việc không lành xảy ra cho mẹ con
Hoàng-Dung rồi.
Chàng liền
buộc ngựa vào gốc cây, len lén
bước vào, nhón gót nghểnh
cổ nhìn vào.
Cách đó
hơn mười trợng, ngay phía trước
mặt dưới mấy cây cổ thụ
cành lá sum suê,
hai mẹ con Hoàng-Dung
và anh em họ Võ đang chống đối
cùng Kim-Luân
Pháp-Vương,
cạnh nhiều đống đá chập
chồng lởm chởm.
Hai anh em họ Võ
đã bị thương, mình mẩy đầm
đìa cả máu. Hoàng-Dung đầu
tóc bơ
phờ, quần
áo, xốc xếch, tinh thần bối rối
trông thấy rõ ràng.
Dương-Qua
nghĩ bụng:
- Nếu cục
diện kéo dài, bốn người
này nếu không bị bắt sống,
nhất định cũng phải tán
mạng dưới
chiếc vòng ác nghiệt của Kim-Luân.
Chàng nghĩ
thêm:
- Không có
cô-nương, nếu một mình ta nhảy
vào chẳng những không đối
lại hắn mà
nhiều khi còn
phải nguy hiểm là khác nữa.
Tuy nhiên, trông thấy người quen
bị nạn
thì cũng
không thể làm ngơ cho được.
Trong lúc đang
phân vân suy nghĩ chưa biết nên
làm gì, thì Kim-Luân đã vung
vòng
sắt tấn
công kịch liệt.
Hoàng-Dung không
dám chống đỡ, vội nhảy
lùi ra trốn sau một đống đá
gần bên.
Dương-Qua
nhìn thấy lấy làm lạ vô cùng.
Anh chú ý thử Quách-Phù và
hai anh em họ
Võ làm
gì. Khi thấy Kim-Luân Pháp-Vương
tung vòng ra đánh, thì cả ba ngồi
xuống
nấp vào
các mô đá chập chùng nhấp
nhô.
Bọn Đạt-nhĩ-Ma
cùng đứng vây vòng tròn
xung quanh đó chứ không chịu
xông vào để
bắt.
Cứ nhìn
thần sắc Quách-Phù và hai anh em
họ Võ thì thấy cả ba đều
có vẻ tin tưởng
và yên
chí ở phía sau các đống
đá ấy lắm.
Dương-Qua
ngạc nhiên vô cùng. Chàng không
thể tưởng tượng được
những chồng đá
tầm thường
như thế kia mà lại có phép mầu
nhiệm ngăn cản Kim-Luân Pháp-Vương
không xâm
phạm tới bọn Hoàng-Dung và khiến
Bà đã chuyển nguy thành yên.
Suy nghĩ một
chập chàng bỗng chợt nhớ
ra:
- à, hay là
"loạn thạch trận" đây chăng? Như
vậy sao anh em họ Võ không nhân cơ
hội nầy
tẩu thoát đi cho rồi?
Kim-Luân Pháp-Vương
cứ đánh mãi nhưng không
hạ được hai mẹ con Hoàng-Dung.
Còn bao nhiêu
bọn võ sĩ Mông-Cổ hễ tên
nào hại dân đều bị Quách-Phù
đâm chết hết
cả. Kim-Luân
đoán chắc trong đống đá
ngổn ngang này thế nào cũng có
điều huyền
bí hay Hoàng-Dung
đã bố trí mưu thần chước
quỷ chi đây. Muốn khỏi lầm
mẹo địch,
cần phải
thận trọng xem xét cho kỹ rồi mới
hành động được, lần
này làm sao cũng
phải tóm
cổ cả bọn cho hết mới xong.
Mặc dù
không xông ra trận địa, nhưng Kim-Luân
vốn là một kẻ nhiều mưu lược,
ý
nghĩ rằng:
- Mặc dù
chúng có chỗ lánh thân, nhưng
thân chung không khác gì chim lòng
cá
chậu, không
thể nào trốn thoát đi đâu
cho được. Mình cứ bình
tĩnh xem xét thật kỹ để
hiểu rõ
những bí ẩn của nơi này
rồi tấn công luôn.
Nghĩ xong cho
là đắc sách, Kim-Luân ra lệnh
cho đồng bọn rút lui ra sau, và chính
bản thân
ông cũng lùi xa trận địa mấy
trượng.
Bọn Đạt-Nhĩ-Ma
và tui võ sĩ Mông-Cổ lùi ra
xa hơn, đứng phía sau Pháp-Vương
chờ
lệnh.
Đứng
ngoài nhìn vào Kim-Luân Pháp-Vương
suy nghĩ:
- Nếu đây
là một trận đồ thì nhất
định phải bố trí theo hình "thái
cực" biến hóa theo
"lưỡng
nghi" và "ngũ hành bát quái". Chi
bằng ta áp dụng theo phương thức
"ngũ hành
tương khắc"
để phá thì nhất định
phải thành công.
Suy nghĩ lại
một chặp ông nhìn lại lần nữa,
xem hai bên tả chi và hữu dực
lại thấy
biến hóa
khác rồi, thật là kỳ khu, nên
ông không biết tính sau cứ đứng
nhìn trân như
tượng
gỗ.
Dơng-Qua đứng
đàng xa chú mục nhìn theo, thấy
Kim-Luân đứng đờ người
suy
nghĩ. Bỗng
nhiên trong ánh mắt của ông lóe
lên luồng hào quang sáng rực,
hình như
ông vừa
tìm đuợc cách phá trận
này rồi.
Bỗng nhiên
Kim-Luân nhún mình phi thân vào giữa
trận, đưa tay chộp Quách-Phù
kéo ra.
Hoàng-Dung và
anh em họ võ kinh hồn hoảng vía, vì
ai ai cũng đinh ninh Quách-Phù
thế nào
cũng bị hạ. Muốn xông ra cứu
thì nguy hiểm tới tánh mạng ngay,
còn làm
ngơ không
cứu, thì tình mẫu tử phải
cắt đứt phen này.
Thật ra trong lúc
chưa nghĩ được cách phá
trận, Kim-Luân bèn giả bộ đứng
đờ người
ra nhìn sững,
mục đích đánh lừa mọi
người.
Quách-Phù
tuổi trẻ thiếu kinh nghiệm, thấy y
đứng nhìn sững, tưởng
không nguy
hiểm nên
mon men ra ngoài bìa trận để theo dõi
hành động ra sao. Bất ngờ Kim-Luân
triển thi khinh
công tối thượng, phóng mình
lại bắt nàng không thể nào
thoát khỏi.
Nắm được
Quách-Phù rồi. Kim-Luân đã
điểm huyệt ngay. Nhưng y dụng ý
điểm vào
huyệt khiến
cho nàng bị tê liệt cả người
nhưng vẫn biết đau đớn
và kêu la, khiến cho
Hoàng-Dung nóng
lòng xông ra cho y bắt luôn thể.
Quả nhiên
nghe tiếng con gái la khóc, Hoàng-Dung
quá đau lòng không thể nào
dằn
được,
bèn phi thân nhảy ra khỏi trận, ôm
lấy Quách-Phù, định nhảy trở
vào trận đá.
Mừng quá,
Kim-Luân lập tức tung vòng sắt
ra đập tới. Lúc ấy Dương-Qua
đứng ngoài
theo dõi thấy
Hoàng-Dung vì nóng lòng mắc kế
Kim-Luân, trong bụng đã hoảng hốt
muốn la lên
nhưng không còn kịp nữa. Khi Hoàng-Dung
vừa dợm chân nhảy vào thì
chiếc vòng
sắt đã tung lên và đập
tới như núi sập. Dương-Qua
lập tức phi thân tới
ngay vừa
lúc chiếc vòng đánh xuống.
Vì trong tay không
có sẵn võ khí, Dương-Qua bèn
cúi xuống bê một tảng đá
to tướng,
sức nặng
non ngàn cân, ném mạnh vào chiếc
vòng, nghe choang một tiếng điếc ráy.
Chiếc vòng
bị táng quá mạnh, sút khỏi
tay Kim-Luân rơi xuống đất, Hoàng-Dung
thừa cơ
hội bồng Quách-Phù nhảy vào
trận loạn thạch.
Kim-Luân thấy
Dương-Qua lại xuất hiện, bất ngờ
đánh rơi vũ khí mình thì
nổi giận,
nhưng mỉm
cười bảo:
- Hay lắm, hôm
nay lại gặp chú mi. Như thế khỏi
nhọc công tìm đâu xa nữa.
Thật ra lần
này tay không xông vào vòng chiến,
chẳng qua cũng vì lòng nghĩa hiệp,
chứ thật
tình Dương-Qua đâu có muốn,
và chàng cũng chẳng thiết một
việc gì hết.
Khi đã
đứng vào thạch trận, chàng
bỗng giật mình suy nghĩ:
- Phen này lâm
trận, tức nhiên đã đem
thân vào cõi chết. Thôi còn
hy vọng nào được
tái ngộ
cùng Cô nương nữa.
Thấy Dương-Qua
đột nhiên cứu được
hai mẹ con mình, Hoàng-Dung chép miệng
than
nhỏ:
- Qua con, đây
là lần thứ mấy, con đã
liều thân cứu mạng của ta và
em Phù?
Dương-Qua
tha:
- Sao bá mẫu
lại nói chỉ lời đó. Chẳng
qua là bổn phận của con đó thôi,
có gì mà ơn
đức.
Nếu gặp bá mẫu bi nạn mà làm
ngơ thì còn đâu là khí
tiết của con người hiệp
nghĩa.
Hoàng-Dung than
tiếp:
- Sao con giàu
lòng hiệp nghĩa thế. Mà sao cha con
thì... trái lại? Nói tới đây
bà bỗng
nín bặt.
Dương-Qua
cảm động hỏi qua giọng nói run
run:
- Thưa bá
mẫu, lúc sanh tiền cha con như thế
nào? Người có làm hại
những ai, và hại
nhiều lắm
không?
Hoàng-Dung lắc
đầu nói:
- Bảo hai nhiều
thì khong đúng đâu, nếu con
thích nghe bác sẽ kể lại cho.
Nhưng nói
tới đây, bà bỗng rú
lên thật lớn:
- Con xem chừng,
hãy nấp vào đống đá,
lão Hòa-thượng Kim-Luân đang
đánh lén kia
kìa.
Dưg-Qua nghe theo
ngồi ngay xuống phía sau một đống
đá.
Ngồi yên,
chàng nhìn lại trận đá thấy
huyền bí lạ lùng, trong lòng hết
sức thán phục
bèn hỏi
Hoàng-Dung:
- Bá mẫu,
như thế này thì tài trí của
bá-mẫu thật thiên hạ ít kẻ
dám bì.
Hoàng-Dung chỉ
mỉm cười không đáp, bà
cúi xuống giải huyệt cho Quách-Phù.
Được
mẹ giải
huyệt xong, Quách-Phù nói:
- Anh biết không?
Trận pháp này mẹ em học của ông
ngoại em đấy anh có nghe nói
về ông
ngoại của em chưa?
Khi còn ở
Đào-Hoa đảo, Dương-Qua cũng
có biết qua Hoàng Dưc-sư và chứng
kiến
tài lực
siêu phàm của ông. Ngặt vì lúc
ấy hãy còn quá nhỏ nên chàng
biết và nhớ
chuyện chi. Bây
giờ nghe hỏi chàng có vẻ tiếc
rẻ nói nhỏ:
- Đời
tôi chỉ mong được gặp lại
lão trượng. Nếu không thật
cũng uổng một đời thanh
niên.
Chàng nói
vừa dứt lời, thì Kim-Luân
Pháp-Vương đã phóng tới,
vung vòng sắt tấn
công mãnh
liệt.
Trong tay không
có sẵn binh khí, Dương-Qua vội mượn
cây gậy trúc "đả cẩu của
Hoàng-Dung để
ứng chiến.
Chàng áp
dụng theo phép "loạn đả tàn vân"
múa tít cây gậy trúc như gió
táp mưa sa
khắp người
nhưcó một đám tường
vân bao phủ.
Hai người
đang đánh nhau độ vài chục
hiệp bỗng nhiên đá chạy cát
bay ầm ầm như
động đất.
Kim-Luân sợ hãi vội vàng tung
mình nhảy ra khỏi trận.
Hoàng-Dung bảo
con gái và hai anh em họ Võ khiên
đá bày lại trận, rồi gọi
Dương-Qua
lại gần hỏi nhỏ:
- Ai đã
dạy con phép đánh theo thuật đả
cẩu bổng đấy?
Dương-Qua
bèn đem câu chuyện gặp gỡ
Hồng-Thất-Công trên Hoa-Sơn, khi chứng
kiến cuộc
tranh tài giữa Tây độc và
Bắc-Cái, được hai người
truyền dạy võ nghệ như
thế nào
thảy đều tường thuật tỷ
mỷ không thiếu một chi tiêt, duy có
chuyện
Hồng-Thất-Công
đã chết chàng chưa thuật lại
vì sợ khiến bà đau lòng
trong lúc này có
hại cho sức
khỏe.
Nghe thuật lại
mọi việc, Hoàng-Dung thở dài nói:
- Được
như con thật là thế gian hãn hữu.
Trên đời có mấy ai gặp
những trường hợp
may mắn lạ
lùng như thế?
Hình như
chợt nghĩ ra điều gì, bà
bỗng nói lớn:
- Qua con, con đã
có tài thông minh lanh lẹ như vậy,
nhân hôm nay chúng ta sẽ nhờ
cái tài
của con mà thoát được đại
nạn nơi đây. Dương-Qua thấy
bà nói mà nét mặt
tươi hẳn
lên, thì chàng vẫn giả bộ ngơ
ngác hỏi lại:
- Nếu Bá
mẫu được đầy đủ
sức khỏe thì hai bác cháu mình
hợp sức cũng có thể đánh
bại được
lão này. Khổ nỗi lúc này
Bá mẫu chưa được khỏe
lắm, nên để cháu đi tìm
Quách Bá
phụ tới giải cứu nhé...?
Hoàng-Dung đáp:
- Không được
đâu, ta đang đau, đâu phải
cảm nóng đâu mà có thể
hết ngay trong
chốc lát.
Hiện nay Bá phụ con đang ở xa,
mà cô nương của con cũng đang
ở phương
nào không
biết, làm sao tìm ra ngay cho được.
Chi bằng ta có một mẹo hay, để
chỉ
cho con biết
thì có lợi thực tế hơn.
Vậy để bác nói nhỏ cháu
nghe nhé?
Dương-Qua
đáp:
- Có mẹo
gì hay, xin bá mẫu cứ nói,
nếu làm được, cháu không
dám từ thác một việc
gì hết.
Hoàng-Dung từ
tốn nói:
- Nguyên loạn
thạch trận này do phụ thân ta dạy
lại, tuy chỉ có chừng ấy đống
đá,
nhưng sức
biến hóa kỳ ảo khôn lường
nổi. Bây giờ cháu cứ nghe
theo những điều do
bác chỉ
lại thì thế nào cũng dành
phần thắng lợi về mình.
Dương-Qua
nghe nói nghĩ thầm trong bụng:
- Học lực
của Hoàng Đạo-chúa thật vô
cùng cao rộng, thế gian ai ai cũng phải
phục.
Hôm nay ta lại
học thêm một tuyệt kỷ của Võ
lâm.
Hoàng-Dung kể
tiếp:
- Hồng Sư-phụ
của ta chỉ truyền cho con mấy thế
cơ bản trong đả cẩu bổng pháp,
và
sau này, tuy
con ngồi trên cây học lén được
một mớ nữa nhưng chưa đầy
đủ đâu. Hơn
nữa đấy
chỉ là những phép lạ chứ
không phải là phương thế ra áp
dụng lúc chiến đấu.
Nhân tiện
hôm nay Bác muốn dạy lại cho cháu
tất cả diệu pháp tinh vi của pháp
thụat
đả cẩu,
vậy cháu có bằng lòng không?
Dương-Qua
tuy mừng không chỗ để, nhưng
vẫn giả vờ thoái thác nói
rằng:
- Phép đả
cẩu chỉ ai truyền từ Bang-chủ
qua Bang-chủ của Cái-Bang. Tuy Bá-mẫu
có
lòng thương
tưởng, cháu rất đội ơn,
nhưng cháu chỉ sợ như thế sẽ
có lỗi với quy luật
Cái-Bang đi
chăng?
Hoàng-Dung thừa
biết chàng chối từ lấy lệ,
bèn cười bảo:
- Thôi, cháu
khỏi cần khách sáo nữa. Phép
đả cẩu bổng này, tuy là thuật
pháp trấn
môn của
Cái-Bang, tuy nhiên sư-phụ ta đã
đem truyền cho cháu hết ba phần.
Cháu
nấp trên
cây học lóm được hai phần
nữa. Nay ta dạy thêm cho cháu ba phần.
Còn lại
ba phần nữa
đủ mười, sau này, nhờ
tài lanh lẹ trí thông minh, cháu cũng
có thể suy
nghiệm mà
tìm ra cho hết những bí quyết
của nó được.
Theo quy luật Cái-Bang,
phép này không thể truyền lại
cho một ai ngoài vị Bang-Chủ
kế vị.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh này chúng
ta cũng cần phải quyền biện mới
được.
Nếu ta câu
chấp không truyền lại cho cháu, rủi
ta chết đi có phải đả cẩu
bổng pháp sẽ
bị thất
truyền đi chăng?
Dương-Qua
mừng quá sụp xuống lạy luôn
hai lạy rồi thưa:
- Giá khi cháu
còn bé mà Quách Bá-Mẫu
dạy cho cháu một vài tuyệt nghệ
thì lúc này
cháu tiến
bộ biết mấy? Mà Bác cũng
được tiếng tốt nữa.
Hoàng-Dung mỉm
cười hỏi:
- Đến
nay cháu có còn oán hận bác
nữa không?
Dương-Qua
đáp:
- Có khi nào
cháu lại dám oán bá-mẫu.
Hoàng-Dung lần
lượt đem hết các bí quyết
đánh đỡ trong đả cẩu
bổng pháp ra giảng
giải và
dạy lại cho Dương-Qua.
Kim-Luân Pháp-Vương,
đứng ngoài loạn thạch trận
nhìn vào, thấy Hoàng-Dung và
Dương-Qua
chuyện trò nho nhỏ, sau đó, bà
cầm cây gậy trúc đư ngang đưa
dọc,
thỉnh thoảng
lại cười xòa, hình như tin
tưởng vào phép biến hóa
của thạch trận không
đếm xỉa
gì tới mình cả.
Càng nghĩ,
Kim-Luân càng tấm tức. Ông bèn
cố ý theo dõi và chờ xem
hành động của
họ ra sao để
tìm biện pháp đối phó.
Hoàng-Dung và
Dương-Qua đợc rảnh tay ngồi
bàn bạc, thảo luận kỹ càng về
một
pháp trong đả
cẩu bổng pháp, từ giờ
Thìn qua giờ Tỵ đã bầy
đủ mọi thế không còn
sót một
đường nào.
Kim-Luân đứng
ngoài theo dõi, không biết hai người
đang làm gì, ông trông thấy
Hoàng-Dung cứ
nói nho nhỏ, nét mặt nghiêm nghị,
hình như đang giảng giải một võ
thuật gì
đây. Còn Dương-Qua trái lại
thì tươi tỉnh và đem hết
tinh thần, chăm chú
nghe. Thấy vậy,
Kim-Luân e ngại suy nghĩ:
- Có lẽ
họ truyền thụ cho nhau những ngón
gì hay để hại ta chứ gì.
Phen này nếu
chiến đấu
lại ta cần phải thận trọng cho lắm
mới được.
Dưương-Qua
ôn lại những đoạn sau và
hỏi thêm vài điểm khúc chiếc.
Hỏi tới đâu,
Hoàng-Dung giảng
giải thêm rất rành mạch. Khi thấy
chàng không còn gì thắc mắc
nữa, Hoàng-Dung
khen lớn:
- Cháu thật
là thông minh đúng mức. Ngay
trí nhớ của bác cũng phải
thua sút cháu
nhiều. Bây
giờ cháu đã đủ sức
kềm chế và thắng được
Kim-Luân rồi. Vậy cháu hãy ra
dụ hắn
vào đây đánh bắt cho rồi.
Dương-Qua
lạ lùng hỏi:
- Làm sao bắt
hắn được, mà Bá mẫu
lại bảo cháu như thế?
Hoàng-Dung từ
tốn giải thích:
- Có khó
chi điều đấy. Lúc bấy giờ
hai bác cháu mình cùng quyết đấu
thì hắn chống
cự sao nổi.
Chúng ta đã hơn tài mà còn
vượt hẳn lão ấy về mưu
chước và địa thế nữa.
Bây giờ,
bác dạy cho cháu biết qua về sự
mầu nhiệm và biến hóa của
trận loạn thạch.
Vậy cháu
hãy nghe và chú ý nhớ kỹ
ba mươi sáu chước biến hóa
của trận đồ nhé.
Nói xong bà
lièn chỉ vẽ cho Dương-Qua thế
nào là Thanh-Long biến sang Bạch-hổ,
và
huyền võ
trở thành Châu-tước.
Nguyên trận
loạn thạch này chế biến theo đúng
cách thức và phương pháp
của
Gia-Cát Võ
hầu. Khi ông vào đất Tây-xuyên
đã lập trận bày trên bờ
sông để lừa
Đại-Tướng
Đông-Ngô là Lục-Tốn. Hôm
nay Hoàng-Dung cũng theo nguyên tắc ấy
để
chống lại
Kim-Luân Pháp-Vương. Mặc dù sắp
đặt hấp tấp nhưng quy tắc không
sai
chút nào,
vì vậy nên Kim-Luân lo sợ không
dám xông vào chỉ đứng
ngoài lừa thế theo
dõi năm
người đang ẩn trong trận, cách
xa nhau như hai thế giới.
Với ba
mươi sáu phép biến hóa vô
cùng tinh diệu khiến cho một người
thông minh
như Dương-Qua
mà nghe giảng hai lần cũng chỉ có
thể nhớ được hai chục
phép mà
thôi.
Lúc bấy
giờ trời đã xế chiều,
ánh mặt trời gần chen sau núi.
Kim-Luân đứng ngoài
thách đố
các người đánh nhau. Hoàng-Dung
bảo Dương-Qua:
- Tuy cháu mới
học được hai chục thế, nhưng
bao nhiêu đó cũng đủ để
vây bắt
Kim-Luân rồi.
Vậy cháu hãy chờ đây,
bác ra ngoài này dụ lão vào
đây cho cháu nhé.
Cháu cứ
theo đúng phép biến hóa của
đồ trận mà vây bắt hắn.
Dương-Qua
mừng rỡ nói:
- Bá-mẫu,
sau này về đảo Đào hoa, có
thì giờ rồi, bá-mẫu hãy
dạy tiếp cho cháu
những thế
chưa thạo nhé. Việc dẫn dụ Kim-Luân,
xin để mặc cháu.
Hoàng-Dung cười
xòa bảo:
- ồ, nếu
cháu bằng lòng theo bác về Đào
hoa đảo, chẳng những bác dạy
cho những
chỗ thiếu
mà ngoài ra còn nhiều phép ly kỳ
hơn nữa. Thời gian gần đây
cháu đã hai
lần xả
thân cứu mạng bác và em Phù
thì khi về đảo không khi nào
bác nỡ lạnh nhạt
với cháu
như ngày trước nữa đâu.
Cháu cứ tin nơi lòng bác.
Nghe Hoàng-Dung
an ủi mấy câu, Duơng-Qua cởi mở
tấc lòng, trong lúc này, giá
Hoàng-Dung bảo
chàng nhảy vào lửa, chàng cũng
không từ chối.
Riêng anh em họ
Võ thì chửi thầm trong bụng:
- Thằng súc
sinh báo đời, sao không chạy
theo con yêu nữ cho rồi còn quay lại
làm
chi nữa
phá rối chúng ta mãi như vậy?
Võ-Tu-Văn,
nghe hai người nói chuyện cùng
nhau bỗng nói bông lông một mình:
- Phàm người
còn nhỏ, điều căn bản và
quan hệ nhất là văn chương chữ
nghĩa, cần
phải lấy
đó mà làm căn bản cho việc
lập thân về sau, nếu không cần
chữ nghĩa mà chỉ
lo việc kiếm
đao thì cũng có thể sẽ chết
về nghiệp lao kiếm.
Đôn-Nho
dèm thêm:
- Xưa kia, Quan-Vân-Trường
là bậc võ nghệ tuyệt luân của
đời nhà Hán, rốt cuộc
rồi
cũng bị
chém bêu đầu. Khỏe mạnh như
hạng Võ rồi cùng phải tự
cắt đầu trên bến
Ô-Giang, làm
cho người yêu là Ngu-Cơ phải
vì mình mà tử tiết. Trông
gương người
đời
xa, anh em chúng ta xem thường việc học
Võ cũng phải.
Quách-Phù
thấy hai anh em nhà này cứ tìm
lời châm biếm đay nghiến Dương-Qua
thì
tức giận
quá bèn hỏi lại:
- Các anh xưng
như vậy, thế đến nay hai anh đã
đọc văn chương tới mức
nào rồi?
Tu-Văn đáp:
- Tam giáo, Cửu-Lưu,
Bách gia Chư tử sách nào cũng
đã học rồi.
Quách-Phù
khinh khỉnh nói:
- Thứ học
mót mà cũng nói. Phận mình
sút kém thì cam chịu cho rồi, chuyện
gì cứ
đâm thọc,
châm biếm người ta mãi vậy?
Trong khi ấy,
Dương-Qua đã xách gậy trúc
nhảy ra khỏi trận gọi Kim-Luân
Pháp-Vương
bảo:
- Pháp-Vương,
người có dám cùng ta đấu
chơi ba trăm hiệp hay không?
|