THẦN
ĐIÊU ĐẠI HIỆP - HỒI 38
Trên
đường về gặp lại Kim Luân
Pháp Vương
Kim Dung
Quách Tỉnh
lúc nào cũng xem Dương Qua như
con cháu trong nhà. Khi thấy chàng
trổ tài
trước mặt quần hùng vì
nghĩa lớn thì ông thương
yêu chàng như con ruột của
mình.
Cũng do tình
thương ấy mà ông không ngần
ngại tỏ ý định gả Quách
Phù cho chàng
để thực
hiện theo phương châm "Dâu hiền
hơn gái, rể thảo hơn trai " . Không
ngờ
Dương Qua
lại gạt đi và nguyên nhân sự
từ chối này lại xuất phát
từ một hành động
loạn luân
giữa hai thầy trò nam nữ. Vì
vậy ,ông nhắc lại chuyện cũ, nghiêm
giọng quở
trách :
- Sở dĩ
trước khi mẹ con từ trần,
người có nói lại cho ta chuyện
này nên ta mới hiểu
chữ "Qua"
tức là "Quá" như ta đã
nói.
Dương Qua
nhớ lại lờ mờ trong ký
ức, ngày mình còn thơ ấu,
thỉnh thoảng mẫu thân
cũng có
nêu lại câu chuyện này nhưng khi
ấy còn nhỏ tuổi quá, ngây
thơ, chỉ nghe
thoáng qua rồi
quên mất chứ không hiểu được
rành mạch
Nghĩ vậy,
chàng ngước mắt lên nhìn
Quách Tỉnh nói :
- Thưa Quách
bá phụ, hay là bây giờ gọi
bằng cách khác được không
?
Quách Tỉnh
nói :
- Qua con, tên
của con là do mẹ con đích thân
đặt cho, không thể gọi khác được.
Hơn
nữa, nó
cũng sẽ thường xuyên nhắc
nhở con không nên gặp phải những
sai lầm đáng
tiếc trong cuộc
đời đó !
Dương Qua
nổi tức không dằn được
nữa, cãi lại :
- Như thế
thì Quách bá bá cho rằng một
khi người ta có lỗi thì không
bao giờ có thể
sửa chữa
được hay sao ?
Quách Tỉnh
đổi giọng ôn tồn, hoà nhã
nói :
- Qua con, con người
ta trong đời ai tránh được
mắc phải lỗi lầm. Khi có lỗi
mà biết
sửa đồi
thì còn gì quý hoá bằng.
Xưa nay thánh hiền vẫn khuyên chúng
ta có từng ấy
mà thôi.
Con đã hiểu như vậy, tại sao đối
với sư phụ lại không tôn trọng,
còn giở
những trò
hèn hạ như thế ?
Dương Qua
cãi lại :
- Con có lỗi,
con tự khắc sẽ sửa, có chuyện
gì liên quan tới y ?
Chàng trỏ
tay vào Triệu Chí Kính và nói
tiếp :
- Chính hắn
đã đánh đập hành hạ
tôi đủ điều, làm sao tôi
có thể nhận hắn làm thầy
được
? Còn đối với cô nương
tôi, trên biết thương dưới,
chúng tôi đối xử với
nhau
quang minh chính
đại, không điều gì trái
với lương tâm, có Trời
cao soi xét. Tôi hết
lòng kính
mến yêu thương cô nương tôi,
như thế có gì gọi là lỗi
lầm đâu ?
Dương Qua
biện luận từ lời nói sang
sảng rành mạch, nghe qua rất có lý.
Quách Tỉnh
không biết
nói gì hơn để bắt bẻ
nữa. Hơn nữa, ông vốn là
người chất phác, không a
mồm mép
thì làm sao cãi lại được
với Dương Qua. Huống chi việc bất
chính của
chàng và
Tiểu Long Nữ cũng chưa có gì
chứng minh rành mạch để đưa
ra buộc tội
chàng được.
Hoàng Dung bước
lại gần nhẹ nhàng nói dỗ dành
:
- Qua con, hai bác
vì thương yêu cháu nên mới
có lời khuyên can, con nên hiểu
rõ
điều đó
nhé !
Nghe Hoàng Dung
nói lời lẽ dịu dàng, mềm
mỏng, đối xử với mình,
Dương Qua thấy
cõi lòng
xao xuyến, cảm động, thấp giọng
nói :
- Quách bá
bá rất tốt đối với
cháu, cháu biết rõ điều
này chứ !
Nói tới
đây, chàng xúc động quá,
nước mắt trào ra dàn giụa.
Hoàng Dung lại
ôn tồn an ủi thêm :
- Bác thương
cháu nên muốn đưa điều
hơn thiệt, lẽ phải trái để
bày tỏ cùng cháu.
Cháu không
nên hiểu lầm bác, tội nghiệp
nghe !
Thấy Dương
Qua lặng thinh không nói gì, bà ôn
tồn nói thêm :
- Thế ra cháu
vẫn không nhận thấy lỗi lầm
của mình hay sao. Chẳng lẽ bác lại
đi vu
khống cho cháu
à ?
Nghe tới
đây, Dương Qua thấy bực trong
lòng, suy nghĩ :
- Ông bà
có lòng tốt với tôi, lẽ
dĩ nhiên là tôi phải đáp
lại bằng hành động biết ơn,
nhưng ép
tôi làm một chuyện khác thì không
khi nào tôi cam chịu đâu !
Nghĩ vậy,
chàng căm tức đứng mím
môi lặng thinh không nói nữa.
Hoàng Dung bèn
nói thẳng ra :
- Được
lắm, cháu đã muốn nói thẳng
thì bác cũng nói luôn ra đây.
Nghe xong, cháu
đừng
có loanh quanh chối cãi nữa nhé
! Long cô nương đây là bậc
tôn sư của cháu,
cháu phải
xem người như bậc cha mẹ, tại
sao lại có tư tình nam nữ, như
vậy xem sao
được
?
Thật ra trong khuôn
khổ lễ nghi thì Tiểu Long Nữ
chưa hiểu rõ ràng về quy tắc
"thầy,
trò" cho lắm,
chỉ biết một cách mờ mịt
mà thôi. Còn Dương Qua thì đâu
phải ngu đần
gì mà
không hiểu được vấn đề
này. Tuy nhiên, chàng thường
nghĩ rằng :
- Cô nương
dạy ta võ công, ta cần phải kính
trọng người như dạy chữ
nghĩa văn
chương, vì
dù sao một chữ cũng là thầy,
một đường võ cũng là
thầy, đời nào ta có mơ
ước
đi lấy nàng làm vợ. Ta tự
xét lại hành động của mình
xưa nay chưa bao giờ có
điều chi
vượt ngoài vòng lễ giáo,
quá nghĩa thầy trò cả. Không
hiểu tại sao những
người
này cứ nằng nặc buộc cho ta cái
tội loạn luân đến như vậy
? Ta không làm bậy
mà họ cũng
không tin, cứ gán cho ta là kẻ
phạm lỗi, biết tính sao đây.
Thôi, họ đã
gán như
vậy thì ta cứ nhận bừa cho
xong, khỏi phải tranh luận lôi thôi.
Lòng ta tự biết
việc của
ta làm, và có trời đất
soi xét lòng ta là đủ lắm
rồi !
Nghĩ xong, chàng
quả quyết đáp :
- Long cô nương
chỉ dạy võ công chứ không
dạy sách vở văn chương, có
luật lệ nào
cấm tôi
lấy nàng làm vợ ? Hai bác có
kề gươm vào cổ thì tôi
vẫn công nhận Long cô
nương là
vợ của tôi mà thôi !
Câu trả
lời đột ngột của Dương
Qua khiến cho bao nhiêu người nghe thảy
đều kinh
ngạc, ai ai cũng
nhìn nhau, chép miệng lắc đầu,
không nói gì hết.
Cũng có
những người lớn tuổi
đạo mạo than rằng :
- Nước
nhà đã đến hồi suy nhược,
bị quân Mông Cổ xâm lăng gần
hết, vỏn vẹn chỉ
còn một
giải đất miền Nam này, nay lai thêm
chuyện gái trai bậy bạ,thầy trò
loạn
luân như
thế này thì còn mong gì cất
đầu lên được, khôi
phục lại mảnh đất thân yêu
miền Bắc
đang nằm trong tay địch. Có thể
rồi đây miếng đất nhỏ
phương Nam này
cũng sẽ
lọt vào tay chúng. Thế hệ thanh niên
chỉ mải mê câu chuyện tửu
sắc vô luân
thì còn
ai chịu hy sinh tính toán điều đại
sự cho nước nhà . Trai như thế,
gái như thế,
hễ quân
Mông Cổ đem chút vàng bạc, vinh
hoa ra nhử, thì dù cho có quật
mồ ông cha
lên để
nộp cho chúng, họ cũng chẳng từ
nan!
Xưa nay Quách
Tỉnh vốn trọng chữ luân lý,
kính mến sư phụ như cha mình . Nay
thấy
Dương Qua
mở miệng thốt lên những
lời nói vô luân, đồi
phong bại tục, thì máu giận
nổi lên
đùng đùng. Ông muốn nắm
cổ Dương Qua và Tiểu Long Nữ
quăng phứt ra
ngoài cửa
sổ như một con vật đáng kinh tởm
để khỏi làm bẩn mắt mọi
ngừoi.
Tiểu Long Nữ
hoảng sợ, muốn phi thân lánh
trốn nhưng không kịp nữa, Quách
Tỉnh
đã túm
được tóc nàng quăng luôn
ra cách đó mấy trượng .
Đoạn ông quay lại phía
Dương Qua
điểm ngay vào huyệt "Thiên Đột"
rồi mắng rằng :
- Thằng súc
sinh, thật ta không ngờ mày lại
mở miệng thốt ra những lời
vô luân thối
tha như vậy
!
Dương Qua
bị điểm huyệt, hơi sức không
còn nữa , nhưng vẫn cố cãi
:
- Cô ấy
yêu tôi, tôi yêu lại là chuyện
thường , có hại tới ai đâu.
Quách bá phụ muốn
giết thì
cứ giết chứ cháu không
thể nào thay đổi ý kiến được
đâu !
Quách Tỉnh
trợn mắt hét lớn :
- Nếu mày
mà là con đẻ của ta thì ta
đã bóp cổ chết từ lâu
rồi chứ không để nói
tới
giờ này
nữa đâu !
Dương Qua
vẫn gượng nói cố :
- Tôi cũng
xét là không có lỗi gì hết.
Vì tôi không hại ai, cũng không
can hệ đến công
việc của
một người nào khác thì
chuyện gì lại bắt tội tôi.
Những lời
này thốt ra từ miệng Dương
Qua nghe rang rảng, tất cả anh hùng đều
nghe
rõ mồn
một. Có lắm người xúm
lại bàn tán riêng :
- Cặp trai gái
này yêu thương nhau như vậy, tại
sao lại không tìm một nơi hoang vu xa
lạ, non nước
xa xôi để cùng nhau kết tóc
hưởng trọn hạnh phúc , lại
dẫn thân chi đến
những chốn
này để cho thiên hạ cười
chê, đạo lý buộc tội ?
Nghe Dương
Qua nói như vậy, Quách Tỉnh đưa
chưởng lên cao thét lớn
:
- Dương Qua
, mày cũng đã biết thừa
tính ta rồi. Thà ta giết mày còn
hơn là để mày
nói và
làm những điều tồi bại
như vậy. Mày nghĩ sao ?
Dương Qua
thầm nghĩ, nếu không thận trọng
lời nói trong lúc này thì
mất mạng như
chơi. Thường
nhật, chàng là một người
giảo hoạt tráo trở vô cùng,
nhưng không hiểu
sao lúc này
lại nảy sinh gàn bướng. Mặc
dù biết như vậy nhưng vẫn nói
càn :
- Tôi tự
xét lương tâm không làm điều
chi có lỗi. Còn bá bá muốn
giết hay muốn tha
thì tuỳ
lượng bá bá !
Quách Tỉnh
không dằn được nữa,
đưa tay phải lên cao , vận chưởng
lực định đập vào
thiên linh cái
Dương Qua cho rồi .
Quần hùng
đứng xung quanh thảy đều thất
kinh, ai ai cũng đinh ninh là thế nào
Dương Qua
cũng bị đập vỡ sọ mà
chết. Lắm nguời không nỡ
nhìn, nhắm tịt mắt lại.
Khi đinh đánh
xuống, Quách Tỉnh nhìn vào mặt
Dương Qua, thấy chàng mím môi
nhắm mắt
cam tâm chịu đòn, giống hệt
nghĩa đệ mình Dương Khang ngày
nào như
tạc thì
ông bỗng thở dài không đành
dạ, rút tay lại ,thở dài bảo
:
- Dương Qua
con hãy suy xét hành động như
vậy có đáng mặt nam nhi hay không
?
Nói xong, ông
buồn buồn bước về bàn
tiệc , ngồi lặng thinh không nói gì
nữa.
Tiểu Long Nữ
đứng ngoài vẫy tay gọi Dương
Qua :
- Qua nhi, thôi
chúng ta đi cho rồi . Không hơi đâu
lý luận mãi với mấy ông
già
ngang như cua ấy
được .
Dương Qua
nghe nàng bảo, thấy chữ ngang như
cua của Tiểu Long Nữ diễn tả
rất hợp
ý mình
, bèn lồm cồm bò dậy, nắm
tay nàng cũng đi về phía trang viện,
tìm con ngựa
ốm đang
ăn cỏ gần đâu đó rồi
cả hai cũng nhảy lên cưỡi.
Toàn thể
anh hùng cùng đưa mắt nhìn theo
, kẻ phục tài, người khinh bỉ,
có kẻ thì
xuýt xoa thương
hại, mỗi người suy nghĩ và
nhận xét theo một cách khác nhau.
Ngựa chạy
gập ghềnh được một quãng
xa thì trời vừa tối. Dương
Qua, Tiểu Long Nữ
cùng bước
xuống đi bộ dắt ngựa theo sau vì
đường xá vừa đen
tối, vừa gập ghềnh khó
đi. Nhờ
công phu luyện tập nhiều,cả hai đều
có cặp mắt nhìn trong đêm tối
rõ như
ban ngày cho
nên bước đi cũng không
có khó khắn vất vả mấy.
Cả hai sánh vai nhau
cùng nhẹ
bước trên con đường
đá sạn, không nói một lời,
mỗi người theo đuổi một
ý
nghĩ riêng.
Kể từ
khi gặp được nhau, chưa chuyện
trò được mấy chốc đã
phải đánh nhau, có khi
gần mất
mạng. Hết đánh nhau thì lại tới
hổi tranh luận gay go, ai cũng đè ép
mình
làm nên
tội lỗi. Trong thời gian rất ngắn
mà đã tiếp xúc không biết
bao nhiêu là hạng
người,
vương tôn công tử có, cao
tăng đạo sĩ có, anh hùng hào
kiệt có, chúa ăn mày
và bọn
hành khất ,... thành phần nào cũng
có. Thế nhưng không có kẻ nào
thành thực
và trung tín
cho đúng cái ý nghĩa của nó.
Họ chỉ bám lấy cái hư danh bên
ngoài để vơ
lấy danh lợi,
và rốt cuộc ai ai cũng dối mình,
khách sáo để dối cả đời.
Trong xã hội
không thấy
gì tinh tuý mà chỉ toàn là
cảnh trái tai gai mắt, quả đúng
với hai chữ "tục
luỵ" không
sai !
Suy nghĩ miên
man, không bao lâu hai người đã
đi tới một gốc cây tùng
khá lớn . Cả
hai cùng ngồi
lại nghỉ chân, thả cho con ngựa đi
lại tự do gặm cỏ .
Gió đêm
thổi nhè nhẹ xung quanh tĩnh mịch không
một bóng người , chẳng một
tiếng
động . Vì
mỏi mệt,cả hai cùng tựa vào
gốc tùng ngủ quên lúc nào
không biết.
Bỗng tiếng
ngựa hý vang rân, hai người
chợt tỉnh giấc thì vầng thái
dương đã lên cao
lắm rồi.
Hai người
cũng nhìn nhau mỉm cười. Qua một
đêm ngủ ngon giữa chốn núi
rừng
hoang vu thanh tịnh,
không vướng mùi tục luỵ,
không mảy may lo chuyện đời, cả
hai
cùng cảm
thấy trong tâm hồn thư thái , chẳng
còn tý buồn lo .
Dương Qua
hỏi :
- Cô nương,
bây giờ chúng ta nên đi về
đâu ?
Tiểu Long Nữ
trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi
ngước mắt lên đáp :
- Thôi , chúng
ta hãy về Cổ Mộ trước đã.
Sở dĩ
nàng bảo thế là vì nàng đã
đắn đo suy nghĩ kỹ.
Kể từ
lúc hạ sơn , đặt gót chân
qua không biết bao nhiêu làng mạc thị
trấn mà người
ta gọi là
chốn phồn hoa đô hội, nhưng đâu
đâu cũng chỉ gặp những chuyện
bận tâm
buồn phiền,
không chỗ nào thanh cao như Cổ Mộ.
Nàng tự
nghĩ :
- Gọi là
chốn phồn hoa đô hội nhưng tại
sao có những người quá
giàu sang phú quý,
món ngon vật
lạ bỏ đi không hết, nhưng trái
lại có những người đầu
tắt mặt tối mà vẫn
không có
bữa cháo no lòng. Có kẻ mập
mập như trâu trương, một bước
ra đường là
võng kiệu,
kẻ hầu người hạ, có người
thì ốm tong chỉ còn bộ xương
bọc da, không đủ
miếng cơm
manh áo. Cùng sinh ra con người, xã
hội lại đặt ra những điều
quy định
trói buộc
người hèn hạ ngu dại, suốt
đời chỉ đóng vai trò
nô bộc nuôi thân. Chi bằng
hãy trở
lại Cổ Mộ, tháng ngày tiêu dao
với rừng núi , ung dung tự
tại, khỏi phải đụng
chạm với
những gì rắc rối phiền toái
ở đời !
Nghĩ lại
nhà Tống,từ khi Tống Thái
Tổ Triệu Khuông Dẫn sáng nghiệp,
được đức
Thế Tông
nhà Chu truyền ngôi, đã trải
qua cả thảy chín đời nối
nghiệp,tính đến nay
đã được
đến một trăm sáu mười
lăm năm, suốt thời gian ấy,
biết bao nhiêu là kẻ
hưởng
ơn vua, lộc nước , mũ cao áo
dài, thế mà từ khi Mông Cổ
xâm chiếm hết một
nửa giang
sơn gấm vóc , nào có kẻ nào
đứng lên dựng cờ kháng
Mông đương nhiên
chống lại
giặc ? Nếu có chăng, chỉ có
một vài môn phái mượn danh
Tống chống
Mông, thống
nhất san hà, để lập nên môn
nọ phái kia, ăn trên ngồi trước.
Ngay như
Quách Tỉnh
xưng là đại hiệp, Hoàng Dung là
chúa ăn mày, nhưng cho đến nay
vẫn
chưa thấy
có công nghiệp thực tế gì
với núi sông.
Dương Qua
thấy Tiểu Long Nữ trầm ngâm
lo lắng thì đoán rằng :
- Có lẽ
cô nương mình muốn trở về
sống lại với cảnh đời
thiên nhiên trong sạch, lánh
xa thế tục
con người, để khỏi trông
thấy những chuyện trái tai gai mắt
cười gượng
khóc thầm
của nhân thế.
Nghĩ thế
rồi, chàng tự nhủ :
- Còn riêng
ta, cũng không mong gì hơn là được
sống mãn đời trong Cổ Mộ
với con
người
thực dạ yêu ta. Từ khi ta rời
Cổ Mộ dấn thân vào cuộc đời
chỉ gặp toàn những
chuyện giả
dối và ngán nhất là những
lý thuyết cổ điển về những
luân lý lỗi thời và
câu chấp,
luôn ràng buộc con người một
cách vô lý và bất công.
Lòng nghĩ
mông lung, nhưng chân vẫn bước
đi đều đều. Cả hai đi
bộ một chặp rồi
cùng lên
ngựa cho sải nước kiệu chạy
về hướng Bắc.
Trên đường
đi xa, hai người mải chuyện trò,
nhắc lại những chuyện vui trong dĩ
vãng
hoặc kể
lại những mẩu chuyện trong lúc
xa nhau, nhớ nhung và gặp lại nhau.
Trong hành trình
chỉ có hai người và con ngựa,
trên có trời, dưới có
đất, nhưng hai
người
vẫn xng hô theo đúng lễ phép,
nghĩa là lúc nào Dương Qua cũng
gọi Tiểu
Long Nữ
là cô nương, mà Tiểu Long Nữ
vẫn gọi Dương Qua là Qua nhi hay anh Qua
chứ không
bao giờ dùng danh từ nào khác
nữa.
Đi mãi,
mặt trời đã đứng
bóng. Hai người bắt đầu
bàn lại về võ công của thầy
trò Kim
Luân Pháp
Vương.
Khi bàn tới
thầy trò Kim Luân Pháp Vương,
cả hai người trầm trồ khen ngợi
ông ta đã
đạt tới
cảnh giới "siêu quần tuyệt luân"
, trên thiên hạ không ai sánh kịp.
Trong khi đang
chuyện trò, Tiểu Long Nữ bỗng
nhớ lại một chuyện rồi vội
kêu với
Dương Qua
:
- Qua này, chương
cuối cùng của Ngọc Nữ Tâm
Kinh còn một đoạn cuối cùng
đã lâu
quá chúng
mình không luyện tập rồi, bây
giờ Qua còn nhớ không ?
Dương Qua
đáp :
- Cũng còn
nhớ, nhưng mấy lúc nay tôi tập
chỗ ấy có vẻ hững hờ
sao ấy, không thấy
hứng thú
tí nào cả. Hay là vì chỉ tập
một mình nên buồn tẻ như vậy
chăng ?
Tiểu Long Nữ
nói :
- Chính ta cũng
không nhớ hết được.
Nhưng hôm qua khi chiến đấu cùng
lão đạo cô
đó mấy
đường, thấy kiếm pháp
của bà ta , đối chiếu lại mới
thấy phần luyện tập của
mình có
chỗ không đúng lắm !
Dương Qua
sốt sắng hỏi :
- A, phải rồi,
hôm qua thấy lão bà Tôn Bất
Nhị múa mấy đường kiếm
pháp giống nhưđoạn cuối trong
Ngọc Nữ Tâm Kinh.Họ là ngưòi
của Toàn Chân giáo mà còn
thạo
biết mấy
ngón này, huống chi là mình lại
không lo luyện cho chu đáo .
Nguyên trước
kia sư tổ của phái Cổ Mộ là
Lâm Triều Anh đối với Vương
Trùng
Dương giáo
chủ Toàn Chân giáo có một mối
tình rất tha thiết. Trong khi sống trong
Cổ Mộ, soạn
ra Ngọc Nữ Tâm Kinh , Lâm Triều
Anh luôn luôn tưởng nhớ tới
Vương
Trùng Dương,
vì vậy cho nên trong đoạn chót
của thiên võ công này, bà
có sáng chế
ra một đoạn
"song vũ", nghĩa là một trai một gái
cùng nhau song đấu. Trong khi ấy,
bà vẫn
nuôi hy vọng sau này hai ngưòi kết
hợp thành vợ chồng sẽ cùng
tập pho võ
công này
để sát cánh cùng nhau chống
lại bao nhiêu tay võ công kỳ tài
trong thiên hạ
. Vì vậy
nên chương này gồm có tất
cả các thế võ cao siêu nhất
của Trùng Dương
Cung , pha trộn
với những đường gươm
bí truyền trong Ngọc Nữ Tâm Kinh.
Cứ hai
người
cùng nhau sát vai chiến đấu thì
một người đánh một người
đỡ, phối hợp cả thế
thủ lẫn
thế công , khiến cho địch thủ
dù tài ba đến đâu cũng
không tài nào chống lại
nổi.
Ngay sau đó,
Dương Qua và Tiểu Long Nữ mỗi
ngưòi bẻ một nhánh đào
cùng nhau
luyện lối
đánh "song vũ" . Tiểu Long Nữ
đánh theo Ngọc Nữ Tâm Kinh, còn
Dương
Qua đánh
theo kiếm pháp Toàn Chân giáo.
Nhưng lạ một
điều là hai người đánh
võ có vẻ quá rời rạc,
không ăn khớp vào đâu
hết.
Tiểu Long Nữ
nói :
- Có lẽ
chúng ta đã quên lý thuyết
nên tập không thấy hào hứng
chút nào cả. Để lúc
trở về
Cổ Mộ xem lại các bài khắc trên
vách đá để học cho thật
thuần rồi mới cùng
múa xem sao!
Dương Qua
cha kịp đáp, bỗng nghe có tiếng
vó ngựa dồn dập. Một con ngựa
phi vút
tới nơi
rồi thoáng một cái đã bay
vút qua rất lẹ ....
Đó là
một con ngựa màu lông đỏ
như máu, trên lưng, một nữ
lang cưỡi mặc y phục
cũng màu
hồng. Vừa trông thoáng qua cả
người và ngựa đã biến
dạng trong đám cát
bụi mù
mịt đàng xa như một ánh lửa
đỏ đang tắt dần trên không.
Dương-Qua
nghĩ bụng:
- Con thần mã
này chính là Tiểu-Hồng mã
của Hoàng-Dung đây rồi.
Vì không
muốn gặp lại vợ chồng Quách-Tỉnh
và những người trong gia đình
của ông
ta nên Dương-Qua
bèn bàn cùng Tiểu-Long-Nữ:
- Con ngựa
hồng vừa rồi chính là bảo
câu tiểu hồng mã của Hoàng-Dung.
Không hiểu
tại sao có
người cưỡi tới chốn
này, hay là để tìm kiếm bọn
mình chăng? Tốt hơn là
chúng mình
tìm cách lánh mặt để khỏi
phải gặp họ. Cô nương có bằng
lòng chăng?
Lúc bấy
giờ Tiểu-Long-Nữ chỉ đóng
vai thầy dạy võ nghệ còn bao nhiêu
việc khác
đều do
theo ý kiến của Dương-Qua cả.
Vì vậy nên đề nghị này
được nàng tán thành
ngay. Cả hai dẹp
ngay chuyện luyện kiếm đi xuyên vào
rừng rậm để tránh mặt những
người
trong gia đình Quách, Hoàng có thể
đuổi theo tìm kiếm.
Hai người
đang vẩn vơ giữa rừng xanh,
bỗng nghe văng vẳng có tiếng chuông
thu
không của
một ngôi chùa nào gần đây.
Tiểu-Long-Nữ
mừng rỡ nói:
- May quá, phía
đàng kia có tiếng chuông chùa,
chắc đêm nay chúng ta khỏi nằm
rừng rồi
đấy. Vậy nên tìm lẹ lên
kẻo trời sắp tối rồi.
Dương-Qua
cười nói:
- Cô chán
cảnh phồn hoa rộn rịp, muốn ẩn
thân vào chốn cô tịch hoang vu, há
lại ngại
chuyện ngủ
rừng nằm núi hay sao?
Tiểu-Long-Nữ
nói:
- Rừng núi
là chốn dung thân của cọp beo rắn
rết. chúng mình không nên tranh chỗ
với chúng
làm gì. Ngoài ra chúng ta cũng không
nên khiến cho chúng nghi kỵ rằng
mình là
bọn thợ rừng săn bắn phá
hại bọn chúng.
Dương-Qua
lại cười dòn hơn:
- Nếu vậy
thì chùa là nơi trú ngụ của
các nhà sư, chúng mình cũng
không nên làm bận
rộn làm
gì. Mình không nên làm mất
cảnh thanh tịch của Phật đờng,
huống chi sự
hiện diện
của Cô nương có thể khiến
cho một vài vị sư kém đường
tu nghĩ tới chuyện
phá giới,
hoặc biết đâu cũng có vài
vị ni cô, vì Dương-Qua này mà
để tóc trở về trần
tục.
Tiểu-Long-Nữ
thấy ý kiến này cũng ngồ
ngộ nên cười xòa rồi hỏi:
- Thế ra cậu
muốn ngủ rừng hay sao? Ngủ rừng
có thú vị chi mà ao ước.
Mà hễ ao
ước
thì có ngay chứ có khó chi
đâu. Bọn chúng ta đang đứng
tại trung tâm rừng già
đây mà.
Hèn chi mấy ông sư Tây-Tạng thảy
đều ngán cậu là tay láu cá
thật quả không
sai.
- Cô nương
quả thật Mán rừng về thành
thị, nên chả hiểu gì hết thảy.
Đố cô nương có
đoán được
vì sao tôi đề nghị ngủ rừng
đêm nay không?
Tiểu-Long-Nữ
nói:
- Có lẽ
cậu muốn tìm một vài cặp nhung
nai hay phô trương tài bắn cọp
chứ gì?
Dương-Qua
cười nói:
- Không đúng
rồi. Nếu Cô nương đáp
được, em nguyện cõng Cô nương
từ đây về tận
Cổ mộ, dù
phải đi hàng tháng hay hàng tuần
cũng không bao giờ than thở.
Tiểu-Long-Nữ
nói:
- Chịu thôi
ai mà đoán được thâm
tâm của anh chàng láu cá!
Dương-Qua
cũng cười lớn nói đùa
lại;
- Người
ta láu cá còn hơn những kẻ
hay hờn mát và nhõng nhẽo.
Tiểu-Long-Nữ
nói:
- Người
ta hay hờn mát là bản chất
của người ta. Còn nhõng nhẽo
cũng là quyền tự do
của con người,
biết vậy sao còn đi tìm người
ta làm gì? Này, hãy coi chừng
đàng này
vẫn còn
uy quyền của một vị sư phụ, nghĩa
là lúc cần có thể dùng roi
để dạy chú học
trò vô
lễ đây nhé.
Dương-Qua
nói:
- Làm thầy
cũng sướng thiệt, đối với
học trò có thể sử dụng được
hai quyền.
Tiểu-Long-Nữ
đỏ mặt hỏi:
- Quyền chi vậy,
kể ta nghe thử xem chú láu cá?
Dương-Qua
cười cười đáp:
- Cô nương
chịu nhận tôi là Sư phụ thì
tôi mới giải thích.
Tiểu-Long-Nữ
nói:
- Sao lại đòi
làm sư-phụ? Người bắt bẻ
những cái sai của mình mà lại
đòi làm sư phụ.
Dương-Qua
đáp:
- Cô nương
há quên câu "nhất tự vi sự"
rồi sao? Thánh nhân còn công nhận
nguyên
tắc một
chức cũng thầy, nửa chữ
cũng thầy, huống chi tôi dạy cho Cô
nương thêm
được
một lẽ khôn ngoan ở đời,
lại không đáng gọi là thầy
hay sao?
Tiểu-Long-Nữ
gật đầu nói:
- ừ, thôi
giảng đi, nếu xuôi nghĩa ta nhận
là sư phụ, nếu không xuôi sẽ
bị phạt đấy
nhé. Làm
thầy có hai quyền gì mà vinh hạnh
lắm vậy?
Dương-Qua
nói:
- Này nhé:
người đời thường
nói "yêu thương thì cho roi cho vọt"
khi cô nương yêu
thương tôi
Cô nương mới đánh. Nhưng
lòng tôi tin rằng một người
đẹp như cô nương
thì dù
đánh mạnh cũng không thấy đau.
Tiểu-Long-Nữ
hỏi:
- Còn chuyện
thứ hai ra sao?
Dương-Qua
giải thích tiếp:
- Quyền thứ
hai thì trái lại. Phàm ghét thì
cứ để mặc. Khi cô nương
ghét tôi thì cô
nương cho
tôi được chơi. Chơi thích
thật, nhưng cũng hại lắm, nếu
quá say mê thì có
thể hỏng
cả cuộc đời phải như vậy
không? Chịu chưa?
Tiểu-Long-Nữ
lắc đầu nói:
- Trước
kia, khi còn sống trong Cổ-mộ, cậu chỉ
xảo quyệt một phần, nhưng từ
khi lìa
khỏi Cổ-mộ,
mức xảo quyệt và láu cá
của cậu đã tăng lên gấp
trăm phần. Thế mới
biết trường
đời là chỗ dạy khôn dạy
láu cá và dạy ba xạo cả.
Dương-Qua
thừa biết Tiểu-Long-Nữ bản
chất rất ghét tánh láu cá
và dối trá như ghét
của dơ,
nên vội vàng bào chữa bằng
cách pha trò:
- Thôi trăm
chuyện xin Cô nương đại xá
cho để vui vẻ cùng nhau. Nếu Cô
nương nổi
nóng lại
tách bước ra đi phen nữa
thì chim trời cá nước biết
đâu em tìm. Chung quy
cũng khổ
cái thân em mà thôi.
Tiểu-Long-Nữ
nghiêm giọng hỏi:
- Nếu cậu
không nói nguyên nhân vì sao cậu
thích ngủ rừng thì trời
sập ta cũng không
cho cậu đi
theo hay là cùng đi với cậu
nữa đâu.
Dương-Qua
thích chí cười hề hà và
nói cù lần:
- Có khó
chi đâu mà không tìm ra nguyên
nhân. Chẳng qua... là vì... như thế
cả...
Tiểu-Long-Nữ
gay gắt hỏi:
- Là gì
nữa? Trời đã tối rồi
còn đứng đó mà kê
với cà. Mau mau giải thích để
rồi còn
tìm nơi
trú ngụ chứ, chẳng lẽ cứ
đứng đóng trò giữa
rừng già như thế mãi sao?
Dương-Qua
nín cười chậm rãi đáp:
- Em muốn sống
trong cảnh thiên nhiên của núi rừng
để tìm chân lý của tình
yêu. Có
chi mà Cô
nương lại nóng nảy lắm vậy.
Tiểu-Long-Nữ
nói gằn lại gay gắt hơn:
- Chân lý
tình yêu đâu cần phải tìm
kiếm trong rừng già này. Cậu
đã tiếp xúc với cuộc
đời
giả dối quá nhiều, nên ý
nghĩ có nhiều chuyện rắc rối
phức tạp, lúc nào cũng bao
hàm những
chuyện xa xôi xảo quyệt. Biết như
thế này ta cứ sống yên thân
trong Cổ
mộ, đâu
có hoại công đi tìm những
cái bực mình vào thân nữa.
Nói xong, nàng
quay mình định chạy.
Nhưng Dương-Qua
đã nắn lấy tay nàng kéo
lại năn nỉ:
- Xin Cô nương
đừng bỏ em bơ vơ một mình
lẻ bóng nơi góc biển chân trời
như xưa
nữa, tội
nghiệp mà.
Tiểu-Long-Nữ
giật tay ra nói:
- Thôi, cứ
buông tôi ra cho yên thân. Tôi đi
đâu mặc kệ thân tôi. Chỉ
có cái lý do vì
sao thích ngủ
rừng mà không nói. Như vậy
làm sao gọi là tình thày trò
bè bạn nữa
chứ?
Tuy giật ta, nhưng
nàng không kéo về hẳn lại
đặt trên vai Dơng-Qua. Chợt để
ý đến
cử chỉ
ấy, nàng tự trách mình:
- Chính ta cũng
lẩn thẩn thật. Đã giật tay rồi
còn đặt trên vai hắn, thì làm
sao hắn
không lớn
mình được?
Trong khi ấy
cả hai cùng đứng lặng yên
trong rừng thẳm, không nói năng
một lời nào,
mỗi người
đeo đuổi một cảm nghĩ khác
nhau.
Tiểu-Long-Nữ
băn khoăn suy nghĩ tự trách mình
không dứt khoát thái độ
để cho
Dương-Qua
đùa cợt, xem như người
cùng vai vế chứ không còn thái
độ trọng vọng
của một
người đệ tử đối
với Sư phụ như những ngày
trước nữa.
Phần Dương-Qua
cũng tự trách mình sao không có
đủ can đảm và nghị lực
để bày tỏ
tình yêu
mà cứ bày chuyện viển vông
như vấn đề ngủ trong rừng
để giằng co cãi lẫy
nữa. Dù
sao nơi đây cũng chỉ có hai người
có ai xen vào đâu mà hòng
e lệ nữa.
Suy nghĩ tới
đó, chàng quả quyết, vỗ nhẹ
vai Tiểu-Long-Nữ nói:
- Bây giờ
xin cô nương vui lòng cho phép tôi
trình bày lý do vì sao muốn ngủ
lại
trong rừng
nhé.
Tiểu-Long-Nữ
đáp:
- Thì cứ
nói ra đi xem nào. Ta cũng đang chờ
nghe có chừng ấy thôi. Việc gì
mà phải
xin phép tắc
lắm chuyện thế?
Dương-Qua
nghiêm giọng nói tiếp:
- Tuy ngày còn
nhỏ tôi có học và nghe được
nhiều câu ca dao bóng bẩy. Nhưng khi
còn sống
trong Cổ mộ tôi chẳng hề quan tâm
hay hiểu tý gì về ý nghĩa
của các câu ấy.
Nhưng kể
từ ngày xa cách Cô nương
vì lòng mong tưởng nhớ thương,
và sau khi trải
qua nhiều gian
nan nguy hiểm cùng nhau tôi mới thấm
thía đến ý nghĩa xa xôi bóng
bẩy nhưng
rất thâm thúy của các câu
ấy, đại khái như hai câu này:
"Yêu nhau chẳng
nại chiếu giường,
Chỉ cần
mảnh lá che sương cũng tình".
Vì vậy tôi
mong muốn sao đêm nay thực hiện
thử, giữa chốn rừng hoang
thâm u này,
chúng ta hãy
ngủ thử một đêm để
xem kẻ đặt ra câu ca trên có
sành về tâm lý Nam
Nữ hay không?
Nói tới
đây, Dương-Qua hứng chí cất
tiếng cười rang rảng, âm thanh
vang vội trong
rừng vắng
khiến mấy con chim đang ngủ trên cành
cây gần bên giật mình thức
dậy
dập dình
kêu quang quác như tỏ lời oán
trách hai người đi phá đám
cảnh yên tĩnh của
chúng.
Tiểu-Long-Nữ
nói:
- Đó,
cũng vì mình muốn tìm chân
lý mà làm động chạm đến
cuộc sống êm đềm của
bao con chim rừng
trong tổ ấm. Chúng ta không nên vì
thú riêng của mình mà phạm
tới tự
do của bao sinh vật khác mà đắc
tội. Thôi, hãy cố đi về phía
trước xem có nhà
ai xin tạm nghỉ
đỡ một đêm vậy.
Hai người
mò mẫm giắt nhau đi trong đêm
tối. Một chập sau thấy phía trước
xa thấp
thoáng ánh
đèn le lói. Cả hai mừng rỡ
và chắc rằng có ánh lửa
tất nhiên phải có nhà
người
ở.
Khi tới
nơi thì thấy rằng nơi đây
là một xóm nhỏ, rải rác có
đôi nóc nhà của những
người
thợ rừng hay thợ săn. Dương-Qua
bước vào một nhà nhỏ ở
đầu thôn xin tá túc.
Khi được
chủ nhà nhận lời rồi, chàng
chạy ra sau rửa mặt mày sạch sẽ
rồi trèo lên
một chõng
nhỏ nơi nhà cầu. Còn Tiểu-Long-Nữ
tạm nằm trên chiếc võng mắc
ngoài
mái hiên.
Mặc dù
cả hai đinh ninh sau này sẽ cùng
nhau kết nghĩa vợ chồng nhưng trong
khi
còn trôi
nổi đó đây, vẫn giữ
theo nếp sống như ngày nào còn
trong Cổ mộ. Dù sao cả
hai cũng đã
vui mừng và yên tâm về câu
chuyện trăm năm, và từ đây
chỉ chuyên lo
trau dồi về
võ nghệ mà thôi, khỏi bận lòng
điều chi nữa.
Ngủ qua đêm
ấy hai người sáng sớm
thức dậy trả tiền trọ cho chủ
nhà. Trước khi đi
chủ nhà
đem dọn mấy củ khoai cho hai người
lót dạ. Trong khi đang ăn,
Tiểu-Long-Nữ
bảo Dương-Qua:
- Phen này chúng
ta cứ theo đại lộ mà đi,
khỏi cần đi theo đường
mòn làm chi cho vất
vả nhé.
Hai người
sánh vai nhau đi mãi tới trưa
vừa gặp một thị trấn khá
náo nhiệt đông đúc.
Dương-Qua
đem Tiểu-Long-Nữ vào một khách
trọ lớn để ăn cơm.
Khi vừa
bước khỏi thang lầu, cả hai đều
giật mình trông thấy Hoàng-Dung cùng
hai
anh em họ Võ
đang ngồi ăn uống nơi một chiếc
bàn phía trong.
Dương-Qua
nghĩ rằng, chẳng lẽ quen nhau mà
lại đi lánh mặt.
Vì vậy nên
chàng tự nhiên bước lại
trước mặt Hoàng-Dung chào hỏi:
- Chẳng hay Quách
Bá Mẫu sang đây có chuyện chi
cần thiết?
Hoàng-Dung rầu
rầu đáp:
- Con có thấy
Quách-Phù đi ngang qua đây không?
Dương-Qua
ngạc nhiên đáp:
- Thưa không
ạ. Con tưởng Quách tiểu thư
lúc nào cũng ở cạnh Quách
Bá-Mẫu chứ tại
sao lại mất
tích như vậy?
Hoàng-Dung chưa
kịp trả lời, bỗng nghe từ
phía dưới có tiếng chân
người bớc đi rầm
rập, tiếp
tới có mấy người cao lớn
đi vào. Nhìn kỹ người
đi đầu chính là Kim-Luân
Pháp-Vương
chứ không ai xa lạ.
Dương-Qua
lẹ làng ra hiệu cho Hoàng-Dung đừng
nói và bước mau lại phía
Tiểu-Long-Nữ
khẽ bảo:
- Cô nương
hãy quay mặt vào phía kia cho bọn chúng
đừng trông thấy phiền phức.
Nhưg đã
muộn rồi, Kim-Luân Pháp-Vương,
mắt sáng như điện, ngay từ
lúc mới
bớc vào
quan sát quanh một vòng đã nhận
diện ra tất cả mọi người
không sót một ai.
Vừa trông
thấy xong, ông ta cười hề hề
rồi kéo ghế ngồi lại một bàn
cách đó không
xa.
Dương-Qua
giả bộ không trông thấy, ngồi
ngay mặt đi hướng khác.
Nhưng bỗng
nhiên Hoàng-Dung nghẹn ngào cất tiếng
gọi:
- Phù nhi, con
đi đâu khiến mẹ tìm mãi
không ra.
Chàng quay đầu
nhìn lại thì thấy quả nhiên Quách-Phù
đang ngồi cùng bàn với bọn
Kim-Luân. Nàng
sửng sốt nhìn mẹ nhưng không
dám bỏ chỗ chạy lại.
Nguyên từ
khi bị thảm bại Kim-Luân Pháp-Vương
bực tức bỏ ra đi, trong bụng
đinh
ninh thế nào
cũng tìm cơ hội chuyển bại thành
thắng.
Không ngờ
Hoắc-Đô Vương-Tử bị
trúng ngọc phong châm vết thương
càng sưng nhẩy
lên, hành
hạ mãi không thuốc nào chữa
được. Vì vậy nên qua mấy
hôm sau các thầy
trò vẫn
còn quanh quẩn mãi gần Lục-gia-trang.
Rủi thay hôm
ấy Quách-Phù cưỡi con Tiểu
hồng mã đi dạo bỗng tình cờ
gặp lại
Kim-Luân Pháp-Vương,
không khác nào gà tìm tới
miệng chồn.
Kim-Luân đời
nào bỏ qua một dịp may hiếm có
nên thừa cơ hội Quách-Phù
đi một
mình, ông
bắt ngay để làm con tin. Công con
Tiểu hồng mã vốn loại ngựa
thần, khôn
ngoan đúng
mức, nên khi tiểu chủ bị bắt
rồi, nó phi ngay về trang trại đứng
ngay cổng
hý vang để
báo tin bất thường.
Quách-Tỉnh
biết con mình lâm nạn nên vội
phân bổ người đi khắp tứ
phương tìm
kiếm.
Mặc dù
đang có mang gần ngày, nhưng vì
tình mẹ thơng con quá nặng Hoàng-Dung
không thể
ở nhà, vội cưỡi con Tiểu-Hồng-mã
đi tìm con. Giữa đường
bà gặp hai anh
em nhà họ
Võ, đưa nhau vào khách sạn ăn
cơm kể gặp Dương-Qua và Tiểu-Long-Nữ
rồi tình
cờ run rủi gặp Kim-Luân Pháp-Vương
cũng dẫn Quách-Phù đi vào
luôn.
Vừa thấy
mặt con gái yêu, Hoàng-Dung mừng
mừng tủi tủi vội cất tiếng
kêu. Nhưng
khi thấy Quách-Phù
chỉ nhìn lên chứ không đáp
và không chạy lại, bà đã
biết rõ con
mình đang
bị địch quản thúc. Vốn người
nhiều mưu trí, nên Hoàng-Dung điềm
tĩnh
ngồi chống
tay trên bàn cố tìm cách giải
thoát cho con gái, khỏi tay bọn ác
tăng
Mông-cổ.
Trong lúc bà
đang phân vân đắn đo tìm
kế, hai tay gõ chiếc đũa trên
mặt bàn thì
Kim-Luân bỗng
cất tiếng gọi lớn:
- Hoàng bang-chúa,
nàng này có phải là lệnh ái
hay không. Hôm nào đấu võ
nơi Lục
gia trang, tôi
để ý tháy nàng đứng
bên cạnh Hoàng Bang-chúa, mặt mày
vô cùng xinh
đẹp.
Hoàng-Dung làm
thinh thở dài không đáp lại.
Võ-tu-Văn
đứng lên đáp lời:
- Tôi không
ngờ một người như ông,
dù sao cũng một vị Pháp vương
Tây-Tạng, lại đi
ra tay bắt cóc
con gái người ta, thật không biết
thẹn.
Hình như
không cần đếm xỉa tới
những lời trách móc của
Võ-tu-Văn Kim-Luân lớn
tiếng nói
cùng Hoàng-Dung:
- Thưa bang chúa,
xin người vui lòng cho người
giải độc hộ cho Hoắc-Đô
Vương-Tử
để chúng
có dịp thử lại tài nghệ
xem bên nào cao thấp. Chừng ấy
mới sáng tỏ kẻ nào
xứng đáng
giữ ngôi Minh chủ Võ-Lâm.
Nghe lão nói
xong, Hoàng-Dung chỉ "hừ" một tiếng
chứ không trả lời.
Võ-tu-Văn
lại nói:
Trước
hết xin ông hãy giao trả Quách Cô
nương lại cho chúng tôi. Sau đó
chúng tôi sẽ
xin giao thuốc
giải độc cứu Vương-Tử,
còn chuyện tỷ thí tranh tài cao thấp
sau này sẽ
bàn lại
cũng không muộn, Hoàng-Dung liếc mặt
nhìn Dương-Qua và Tiểu-Long-Nữ
trong dạ băn
khoăn suy nghĩ:
- Thuốc giải
độc chỉ có hai người kia
mới có. Nhưng kông biết họ
có bằng lòng cho
giúp nếu
Kim-Luân nhận lời đề nghị
của Tu-Văn hay không.
Nhưng Kim-Luân
cười khà khà đáp lại:
- Thuốc độc
thì ai lại không có. Nếu đàng
ấy không giao ra thì ta cũng có thuốc
độc
để khiến
cho gái cưng của người cũng
nếm thử cho biết mùi. Nếu bên
ấy giao thuốc
thì ta sẽ
chữa cho cô bé này khỏi đau
khổ. Còn câu chuyện trao trả người
đâu có thể
đơn giản
nh thế được.
Hoàng-Dung nhìn
qua sắc diện con gái biết Quách-Phù
chưa bị thuốc độc, tuy nhiên
tình mẫu
tử vô cùng sâu đậm, bà
không thể nào ngồi yên trong khi con
gái mình còn
đang ở
trong tay quân địch. Bà cố tìm
mưu kế nhng nghĩ mãi chưa ra.
Vừa lúc
đó nhà hàng bưng đồ
ăn ra dọn không biết bao nhiêu là
món ngon vật lạ. Bọn
Kim-Luân ung dung
đánh chén, riêng Quách-Phù
không ăn chỉ ngồi lặng yên nhìn
mẹ
mà rưng
rưng hai hàng nước mắt.
Trước
cảnh tượng đau lòng ấy,
Hoàng-Dung cũng nước mắt chạy
quanh, lòng đau như
cắt. Và
cũng trong lúc ấy bà cảm thấy
trong bụng quặn đau từng cơn dữ
dội. Thật là
phước
bất trùng lai họa vô đơn chí!
Có lẽ vì đi ngựa nhiều
nên bị động thai.
Ăn uống
xong, Kim-Luân chạy lại gần Hoàng-Dung
nói:
- Kính mời
Hoàng Bang chúa hãy đi theo chúng
tôi.
Hoàng-Dung nghe
nói hoảng kinh nghĩ bụng:
- Tại sao hắn
mời ta đi? Đã bắt cóc
con gái ta, nay hắn còn muốn bắt
ta đi nữa sao?
Một mình
ta, lại lên cơn đau bụng làm sao
chống cự bây giờ. Còn hai
anh em họ Võ
thì võ
nghệ còn non kém đối với
Kim-Luân đâu có nghĩa lý gì.
Nghĩ tới
đây Hoàng-Dung hoảng sợ lộ
ra nét mặt tái xanh.
Kim-Luân nhìn
bà nói tiếp:
- Xin Hoàng-Bang
chúa đừng lo sợ, Hoàng-Bang
chúa là người có địa
vị quan trọng
trong Võ lâm
Trung nguyên, không bao giờ chúng tôi
dám bạc đãi cùng Bang chúa
đâu. Miễn
sau khi chúng ta bàn cãi xong câu chuyện
Minh-chủ Võ-Lâm rồi, thì có
xin đưa Bang-chúa
trở về Nam ngay.
Nguyên từ
khi bước vào trong tiệm, trông
thấy Hoàng-Dung ngồi đó Kim-Luân
lòng
mừng vô
hạn nghĩ thầm rằng:
- Thật rõ
ràng là may mắn hết sức. Mụ
này có một địa vị quá
quan trọng trong võ
lâm Trung-nguyên.
Chỉ cần bắt cóc được
mụ thì bao nhiêu anh hùng Trung quốc
thảy
đầu khoanh
tay không dám bạo động chừng
ấy ta muốn chi không được.
Được mụ
này còn
quan trọng gấp mấy mươi lần cô
Quách-Phù.
Hai anh em họ Võ
thấy Kim-Luân bức sách và nhục
mạ sư phụ mình thì trong lòng
căm tức
vô hồi, nhưng xét lại bọn mình
chưa phải là đối thủ của
hắn. Hơn nữa trước
mặt hai người
ý trung nhân là Quách Phù đang
ngồi nét hoa ủ đột, khiến cho
hai anh
em càng thêm
bối rối.
Tuy nhiên vì
sĩ diện hai anh em cũng phải đứng
lên tuốt kiếm định xông ra
liều mạng.
Nhưng Hoàng-Dung
vội bảo nhỏ:
- Không được
đâu, hãy vượt qua cửa
sổ, chạy gấp về báo tin cho sư
phụ biết. Các con
không đánh
lại hắn đâu.
Hai anh em họ Võ
lấm lét nhìn sau không ai dám nhảy
ra trước, sau lại lén nhìn
Quách-Phù,
mãi hồi lâu mới chạy ra khỏi
quán.
Hoàng-Dung bực
mình lẩm bẩm:
- Thứ gì
mà hèn nhát và chậm chạp quá
rùa, cứ như thế thì biết
chừng nào đi về tới
nơi để
báo tin cho kịp.
Không ngờ
hai người vừa bước ra
khỏi cửa, Kim-Luân chỉ phóng ra
một cái đưa tay
tóm ngay lại
cặp hai bên hông như diều hâu cặp
đôi gà giò.
Hai anh em hoảng
kinh vội buông gươm để khỏi
đâm trúng vào người nhau.
Kim-Luân nhấc
bổng hai người lên ném tung ra
ngoài xa hơn mấy trượng miệng
quát:
- Thứ vô
dụng này, đừng hòng làm
vướng chân bản Sư.
Quăng hai anh
em họ Võ xong, Kim Luân quay sang phía Dương-Qua
và
Tiểu-Long-Nữ
bảo lớn:
- Chúng bây
không phải bà con giòng họ chỉ
với Hoằng-Bang chủ và Quách-Tỉnh,
hãy
đi cho rồi,
không nên chen tay vào công việc của
ta.
Thật ra không
phải Kim-Luân có thiện ý gì
với bọn Tiểu-Long-Nữ nhưng
y muốn
dùng thủ
đoạn ly gián để phân tán
lực lượng của đối phương.
Ông cũng khôn ranh mà
biết rằng:
- Trong ba người
Hoàng-Dung, Dương-Qua, và Tiểu-Long-Nữ,
nếu đấu một sáp một
thì không
thể bằng mình, nhưng nếu cả ba
cùng hợp sức chống lại thì
e mình khó
thoát tay bọn
chúng chứ không mong gì bắt
cóc Hoàng-Dung.
Kim-Luân muốn
dùng mưu cơ này mở lối
thoát cho Dương-Qua và Tiểu-Long-Nữ
thoát đi
cho rồi. Còn Hoàng-Dung hiện nay có
mang gần ngày, chỉ trong mấy hiệp
ông cũng
có thể áp đảo được
ngay không khó.
Tiểu-Long-Nữ
lúc này chỉ mong sao sớm về
tới Cổ-mộ để cùng Dương-Qua
sống
cuộc đời
bình thản vô tư và tránh hết
những cái gì trái tai gai mắt
của xã hội loài
người
cho nên nàng quay sang bảo Dương-Qua:
- Lão Trọc
này cũng vô cùng lợi hại,
không hơi đâu mình trêu tay cho
mất công. Thôi
chúng ta đi
đi cho rồi.
Thấy Dương-Qua
do dự, nàng thúc thêm:
- Hơi đâu
ách giữa đàng đem mang vào
cổ. Chúng mình về Cổ-mộ càng
sớm càng
hay.
Dương-Qua
đáp:
- Xin Cô-nương
chờ em tính tiền ăn rồi sẽ
hay.
Trả tiền
xong, Dương-Qua đứng lên cùng
đi ra.
Bước
chân xuống thang lầu chàng nghĩ bụng:
- Chuyến nầy
về tới Cổ-mộ, chắc không
bao giờ ta gặp lại Quách Bá-mẫu.
Nghĩ xong, chàng
lấm lét đưa mắt nhìn Hoàng-Dung.
Chàng trông
thấy Hoàng-Dung một tay ôm bụng dưới,
một tay vỗ ngực, mặt mày
nhăn nhó,
mồ hôi hột chảy ròng ròng,
có lẽ đang lên cơn đau lắm.
Xưa nay Dương-Qua
có tánh thích làm theo ý mình
hơn nữa trong quyết quản có sẵn
giòng máu
hiệp nghĩa, nay trông thấy tình cảnh
Hoàng-Dung như vậy chàng bỗng
nghĩ:
- Tuy Quách Bá-mẫu
không bằng lòng cho ta yêu Long Cô-Nương
là vì theo đạo lý cổ
hủ của
Trung-nguyên, điều đó ta không
thể trách bà được. Ngày
nay thấy Quách
Bá-mẫu
đang bị nạn mà ta nỡ nào
làm ngơ bỏ đi sao đành. Xem
bản lãnh lão này ta
không đấu
lại, nhưng ta cũng có thể đi báo
tin cùng Quách bá bá tới
để giải cứu kịp
thời. Như
vậy có lẽ đắc sách hơn.
Nghĩ xong chàng
đưa mắt láy Hoàng-Dung tỏ ý
kiến ấy. Hoàng-Dung gật đầu
tỏ vẻ
ưng ý.
Chàng liền
giắt Tiểu-Long-Nữ khoan thai đi xuống
thang lầu.
Bỗng một
tên Võ sĩ Mông-Cổ nhảy xổ
tới trước mặt Hoàng-Dung
trợn mắt thét lớn:
- Này, hãy
đứng dậy đi ngay.
Nói xong hắn
chộp vai bà lôi đi như một tên
tử tội.
Suốt mười
năm nay giữ ngôi vị Bang-Chúa
Cái-Bang, Hoàng-Dung dù có bị sa
cơ
cũng không
khi nào chịu để cho một tên vũ
phu man rợ làm nhục như thế được.
Cho
nên khi tên
Mông-Cổ vừa đưa cánh tay
thô lỗ đầu lộng ra chộp lấy
vai, bà né sang
một bên,
dùng vạt áo lót tay rồi nắm
cánh tay hắn vặn trái một cái
xách bổng lên ném
tuốt qua cửa
sổ như một gói giẻ rách. Tên
võ sĩ Mông-Cổ bị ném té
dài trên mặt đất,
mặt mày
đầy máu, nửa chết nửa
sống không còn cục cựa nữa.
Bao nhiêu quan
khách trên lầu theo dõi sự việc
thấy hai bên lúc đầu đấu
khẩu kết tới
tên Võ
sĩ Mông-Cổ bị tóm cổ quăng
tuốt khỏi lầu thì ai nấy đều
hốt hoảng đứng lên
nhốn nháo
cả lên.
Kim-Luân Pháp-Vương
trông thấy cười nhạt nói:
- Hoàng Bang-chúa
quả là tay võ nghệ tuyệt luân.
Nói xong lão
vận nội công trầm trầm bước
tới. Hoàng-Dung biết trước
thế nào hắn
cũng dùng
đòn độc hạ mình nên bước
lùi sau thủ thế chống cự lại.
Dương-Qua
đang bước xuống lầu, bỗng
thấy tiếng khách hàng xôn xao nhốn
nháo thì
biết rằng
bọn Mông-Cổ đang làm nhục Hoàng-Dung.
Máu anh hùng trong tim chàng
sôi lên
sùng sục không chịu được
nữa, chàng bèn quay lại, quên
cả hiểm nguy chết
sống, rút
thanh gươm trong lưng Võ-Đôn-Nho
đâm thẳng vào lưng Kim-Luân,
miệng
mắng lớn:
- Quân mọi
rợ, thừa lúc người
ta đau bệnh cô thế mà bức
sát thì đâu phải anh hùng.
Sao mi không biết
nhục?
Kim-Luân quả
là tay võ nghệ tuyệt luân; mặc
dù không quay đầu nhìn lại nhưng
cũng
đoán biết
được làn gươm, chỉ cần
kim chặt mạnh nghe "choang" một tiếng lớn,
thanh
gươm Dương-Qua
gãy hai rơi xuống đất.
Dương-Qua
cảm thấy cả cánh tay tê buốt
do sự đụng chạm này, vội vàng
phóng mình
ra sau mấy bước
để tránh đòn thủ thế.
Kim-Luân nhìn
chàng mắng lớn:
- Súc sinh, tài
nghệ của mi còn non kém lắm chưa
đủ tranh đấu cùng ta đâu.
Hãy chịu
khó về
tập luyện thêm một vài năm nữa
rồi sẽ tính tới chuyện ăn
thua. Nếu bây giờ
liều mạng
vào đây sẽ bỏ mạng dưới
chiếc vòng vàng của ta, chừng
ấy trách ta sao
không nói
trước.
Thật ra, trong
thâm tâm Kim-Luân Pháp-Vương ghét
Tiểu-Long-Nữ và Dương-Qua
như điếu
đổ vì Dương-Qua đã đánh
chiếc vòng vàng và làm mất
ngôi Minh-chủ của
ông trước
hàng ngàn anh hùng Trung-nguyên. Tuy nhiên
lúc này Kim-Luân
Pháp-Vương
phải giả ơn giả nghĩa dùng đủ
mọi lẽ phải chăng để Dương-Qua
đi cho
rồi vì
chính ông không muốn đâú
với hai địch thủ trong khi chưa
bắt được
Hoàng-Dung chắc
chắn. Cứ một việc này cũng
đủ chứng tỏ Kim-Luân Pháp-Vương
là
một lợi
hại, ngoài bản lĩnh kinh người,
cũng có mọi thủ đoạn của
người mưu sĩ, chứ
không phải
là loại vũ phu chỉ chuyên dùng
sức mạnh hiếp người.
Câu nói
của Kim-Luân vừa có vẻ bề
trên ngạo mạn, lại có vẻ khuyên
răn nữa.
Dương-Qua
nghe nói tươi cười bảo:
- Pháp-Vương
cũng không nên quá khách khí
và lưu tâm tới tiểu sinh lắm
như vậy.
Học đưc
thành tài như Pháp-Vưng đâu
phải chuyện dễ, mà cũng không
phải vấn đề
một vài
năm mà được. Tuy nhiên, Hoàng
Bang-chúa đối với tiểu sinh
có công lao
dưỡng
nuôi từ tấm bé, hôm nay mà
bị tai nạn, không thể nào tiểu
sinh lại đành lòng
bỏ đi cho
được. Nếu lúc này Bà
không đau bụng thì võ công của
Pháp-Vương chưa
chắc đã
thắng được bà đâu.
Nếu Pháp-Vương không tin xin cứ
chờ một vài ngày, Bà
khỏe mạnh
rồi sẽ biết.
Trong khi thốt
ra câu này, Dương-Qua muốn khích
khí Kim-Luân Pháp-Vương. Nếu
ông ta có
tinh thần thượng võ chắc không
mặt mũi nào đi bức sách
Hoàng-Dung nữa.
Nhưng trong thâm
tâm Kim-Luân thì nghĩ khác. Ông
ta sợ cả ba người Hoàng-Dung,
Tiểu-Long-Nữ
và Dương-Qua cùng tấn công mình
thì không thể nào chống lại
nổi, vì vậy nên cố tình tìm
cách nói cho cặp trẻ đi cho rồi.
Không ngờ nghe Dương-Qua nói vậy,
lão chú ý xem lại Hoàng-Dung thấy
quả thật sắc khí bà bơ phờ,
mặt mày tái xanh đang đứng
nhăn nhó
thì biết là bà đang đau thật,
nên nghĩ thầm:
- Nếu con người
đầu não đã mang bệnh thì
hai đứa kia đâu có nghĩa
gì mà phải sợ.
Nghĩ xong, ông
bĩu môi bảo:
- Thế ra bọn
bay cũng muốn ở lại đây
chiến đấu phải không?
Ngay lúc đó,
Tiểu-Long-Nữ đang đứng tại
cầu thang chờ Dương-Qua, thấy
Kim-Luân
Pháp-Vương
đang ngăn trở chàng thì nói
với lên:
- Này lão
Hòa-thượng, hãy tránh đường
cho người ta đi, sao gây khó dễ
như vậy?
Kim-Luân nhìn
xuống hai mặt lộ xung quanh, vung tay đánh
xuống một chưởng mạnh
như trời
giáng. Với lợi thế từ
trên đánh xuống lão chắc
chắn thế nào Tiểu-Long-Nữ
cũng bị
bể đầu ngay, hoặc có giỏi nó
cũng phải nhào lăn xuống tầng
dưới gãy tay
hay cụt cẳng.
Thấy đối phương từ trên
cao giáng xuống một đòn lén,
nàng vận dụng
khinh công thượng
thặng của phái Cổ-mộ tung người
bay vọt lên trên, lòn qua đường
chưởng
lực, đứng ngay cạnh Kim-Luân.
Trong khi thân hình nàng đang bay lơ
lửng
qua đầu:
Kim-Luân thừa dịp đánh theo một
đòn quét mạnh vào chân, nhưng
cũng trật
luôn. Kim-Luân
phải buộc miệng khen thầm:
- Con Bé này
khinh công tuyệt diệu, ta cũng không
sánh kịp tài lanh lẹ của hắn.
Dương-Qua
trao lưỡi gơm của Võ-Tu-Văn
bỏ rơi trên sàn lầu và nói
khẽ:
- Lão Hòa-thượng
này vô lễ và khinh thường
thiên hạ quá chúng ta hãy cùng
nhau cho
nó một
trận nên thân.
Bỗng nghe tiếng
leng keng vang lên. Kim-Luân rút trong bọc
một chiếc vòng khác,
kích tấc
y như cái vòng vàng hôm trước,
chỉ khác một điều là chiếc
vòng này đen
nhánh như
huyền.
Nguyên Kim-Luân
Pháp-Vương xử dụng cả thảy
năm chiếc vòng làm bằng đủ
loại
kim khí vàng,
bạc, đồng, sắc và chì. Khi
nào gặp tay lợi hại ông tung hết
năm chiếc
một lần,
nhưng gặp tay tầm thường thì
chỉ cần dùng một hay hai chiếc mà
thôi.
Xưa nay chỉ
một chiếc vòng vàng, Kim-Luân đã
hạ sát không biết bao nhiêu là
anh
hùng cao thủ
võ lâm. Do đó, ông được
thiên hạ suy tôn biệt danh là Kim-Luân
Pháp-Vương
cũng vì lẽ đó (nghĩa là
ông vua có biệt tài dùng vòng
vàng), bốn chiếc
vòng khác
bằng bạc, đồng, chì và sắt,
chưa thấy ông đem ra sử dụng
khi nào.
Trong khi tranh tài
tại Lục-Trang-Viện, chiếc vòng vàng
đã bị Dương-Qua dùng chày
kim cương
đánh rơi và méo mó chưa
thể chữa lại được nên
hôm nay Kim-Luân mới
mang chiếc vòng
sắt ra giao chiến.
Trong tay nắm
sẵn chiếc vòng đen, Kim-Luân hướng
về hai người rồi nhìn
Hoàng-Dung hỏi
lớn:
- Thưa Hoàng
Bang-chủ, ngài có bằng lòng chiến
đấu hay không?
Kim-Luân biết
Hoàng-Dung tuy bị bệnh nhưng ngại bà
cũng còn đủ sức chống
đỡ và
gây rắc
rối cho mình nên mới dùng lời
nói khích Lão muốn trịnh trọng
nêu chữ
"Hoàng Bang-chủ"
ra để nhắc khéo Hoàng-Dung nhớ
rằng: nếu không đầy đủ
sức
khỏe, đừng
đánh gượng làm gì, rủi
bị thất bại mang tiếng xấu với
đời và làm ô danh
Chúa tể
của Cái-Bang. Nếu Hoàng-Dung hội ý
không đánh, thì còn hai người
Dương-Qua
Tiểu-Long-Nữ sẽ dễ thủ thắng
hơn.
Nhưng Dương-Qua
đã cướp lời nói:
- Hoàng Bang-chúa
đâu thèm đánh cùng ngươi
mà hòng hỏi lại.
Nói xong chàng
quay sang phía Hoàng-Dung thưa lớn:
- Xin Quách bá-mẫu
cứ tự ý đưa em Phù
về nhà đi, cho thằng Trọc ngã
mặn này, cứ
để cho
con xử trí.
Thật ra Dương-Qua
cũng thừa hiểu dù cả hai người,
mình và Tiểu-Long-Nữ cũng
không đấu
lại Kim-Luân, cho nên chàng muốn Hoàng-Dung
đem Quách-Phù để báo
tin cho Quách-Tỉnh
biết, còn mình và Tiểu-Long-Nữ
ở lại cầm cự trong thời
gian rồi
cũng tìm
cách chuồn luôn cho tiện.
Nói xong, chàng
vung tròn cây trường kiếm như
một vòng bạch quang lóe lên, xong
vào tấn
công Kim-Luân. Tiểu-Long-Nữ cũng
múa gươm tiếp sức.
Kim-Luân Pháp-Vương
tung chiếc vòng đen ra chống cự
lại với hai đường gươm
lợi
hại. Vì
thân hình to lớn dềnh dàng,
dụng võ trong nhà có nhiều bàn
ghế đồ đạc vướng
víu tay chân
nên Kim-Luân xoay trở có phần
khó khăn. Ông vừa múa móc
đánh đỡ,
vừa tung
cước đá bay các bàn ghế
dồn dập vào một xó cho rộng chỗ
để hoạt động
hơn.
Dương-Qua
vừa đánh vừa suy nghĩ:
- Kể về
dòng lực thì mi thắng ta, nhưng
tính theo mưu mô thì ta có thể
hơn mi lắm.
Phen này ta thử
cho mi nếm mùi thủ đoạn của
tuổi trẻ và ngã mặn một chuyến
cho đã
đời.
Trong khi hai bên
quyết đấu, Dương-Qua và Tiểu-Long-Nữ
nhờ thân hình bé nhỏ, nhẹ
nhàng lẩn
tránh lanh như cặp sóc khi bay sang Đông
lúc phóng sang Tây, cùng tấn
công tới
tấp, Kim-Luân thân hình to lớn
thêm chỗ đấu chật hẹp xoay trở
có phần khó
khăn nên
chống đỡ cũng chật vật.
Dương-Qua
vừa né vừa đâm vừa
nhảy nhót xung quanh, vớ được
thứ gì trên bàn, bất
cứ bình
mắm, xì dầu, lọ tương, bình
rượu hoặc bát thị cũng đem
ném tới vào người
Kim-Luân. Mặc
dù giỏi tránh né, nhưng các
thức ăn, mắm muói văng tung
tóe không
tài nào
tránh cho xuể. Thành thử không
bao lâu, từ đầu tới chân
Kim-Luân chỗ nào
cũng bê
bết cả tương, mắm, dầu mỡ
các thứ. Dương-Qua luôn mồm
nói thêm:
- Xin thành tâm
cung phụng cho Hòa-thượng những
món ăn mặn của thế gian để
ra
sức giúp
quân Mông-Cổ xâm lược giết
dân vô tội của chúng tôi.
Kim-Luân giận
không thể tả, trợn mắt bậm
môi cố bám theo Dương-Qua để
đánh.
Nhưng khi hắn
quay sang Dương-Qua thì làn gươm của
Tiểu-Long-Nữ loang loáng
tấn công
liền, buộc lòng phải xoay lại chống
đỡ.
Dương-Qua
rảnh tay liếng thoắng chế nhạo:
- à, nhà
sư này có lẽ lâu ngày không
gần phụ nữ nên dẻo dai và
bền sức lắm. Từ trước
tới nay
tôi cũng gặp nhiều nhà Sư, miệng
thì niệm Phật nhưng sức lực
lại đem vung
phí khắp
nơi, vì vậy nên đấu chỉ
vài hiệp mà đã thở dốc
như bò rống. Những bọn nhà
Sư ấy, dầu
giết chết cũng đáng đời
lắm lắm. Trong thời buổi loạn
ly này, biết bao
nhiêu ngươi
khoác áo nhà Sư nhưng lúc thử
thách mới rõ chỉ là bề
ngoài mà thôi.
Tiểu-Long-Nữ
cũng góp ý thêm:
- Sư chính
hay tà, việc ấy ta không biết, ta
chỉ tìm bọn nhà Sư chuyên đánh
giặc mướn
cho bọn Mông-cổ
xâm-lược mà thôi.
Lúc ấy
Hoàng-Dung đã lại bên bàn đưa
tay giắt Quách-Phù trở lại chốn
cũ. Trong khi
ấy thì
bên Mông-Cổ cũng có mấy tên
cao thủ như Hoắc-Đô đang bị
độc ngọc phong
châm, nằm
rên la trăn trở, Đạt-nhĩ-Ma
bị thuật di hồn chưa hóa giải
còn ngơ ngác như
kẻ mất
trí ngoài ra một số võ sĩ hầu
cận thì bản lãnh không bao nhiêu
nên Bà đưa
Quách-Phù
đi không bị trở ngại. Nhìn
tháy gương một tên bị bà
nắm quăng qua cửa
lầu lúc
nãy, không còn tên nào dám
hó hé cản ngăn.
Dương-Qua
trông thấy Hoàng-Dung đã giắt
được Quách-Phù về ngồi
chỗ cũ bèn lên
tiếng nói:
- Quách bá-mẫu
nên về ngay đi, tại sao còn chần
chờ mãi như vậy?
Hoàng-Dung liếc
mắt thấy hai người tuy nhờ
sức lanh lẹ nhảy tránh được
tuy nhiên
lực lượng
giữa đôi bên còn chênh
lệch quá nhiều, nếu trận đấu
kéo dài mà Kim-Luân
dùng độc
thủ, đôi trai gái sẽ thất
bại ngay. Vì vậy nên bà nghĩ thầm:
- Họ còn
trẻ tuổi nhưng không ngại gian nguy xả
thân cứu mẹ con ta, thì ta là
người
lớn lẽ
nào bỏ họ mà đi sao đành.
Vì vậy nên
bà đứng ngoài hiên nhìn
cuộc đấu, không bỏ đi.
Anh em họ Võ
thấy vậy giục:
- Xin bá-mẫu
hãy trọng lấy quý thể mau mau đem
Cô Phù lánh khỏi chốn này
sớm
chừng nào
hay chừng ấy. Nếu lỡ ra có...
Hoàng-Dung bực
mình gắt:
- Làm người
phải hiểu chữ nghĩa. Đã
học võ phải có tánh khí nghĩa
hiệp, nếu không
thì biết
võ làm chi? Như thế không còn
xứng đáng sống trên cõi
đời nữa. Các con hãy
xem anh Dương-Qua
còn trẻ tuổi mà hào khí phi
thường, gan liều nghĩa lớn,
sao
không theo đó
mà bắt chước, chỉ bo bo giữ
lấy phần lợi cho mình. Các con
còn kém
xa quá.
Thấy Hoàng-Dung
chỉnh khéo và xem thường bọn
mình, hai anh em họ Võ hổ thẹn
nín thinh.
Quách-Phù
bẻ một chân bàn khá lớn
rồi đưa mắt bảo hai anh em họ
Võ:
- Chúng ta nên
xông vào tiếp chiến đánh
cho hắn một trận.
Hoàng-Dung đưa
tay cản lại nói:
- Tài cán
con còn thấp kém lắm, xông vào
sẽ mất mạng mà thôi.
Quách-Phù
tuy tuân lời mẹ nhung trong bụng vẫn
không tin vì nàng nhìn xem
Tiểu-Long-Nữ
và Dương-Qua đánh đỡ
cũng không có ngọn đòn nào
kỳ diệu lắm.
Nhưng Quách-Phù
đâu biết Tiểu-Long-Nữ và
Dương-Qua tài nghệ hơn nàng có
mười
lần, trong lúc
này cả hai đang vận dụng hết
những ngón tuyệt kỷ trong Ngọc-nữ
Tâm-kinh ra chống
đỡ lại những đòn
ác liệt của Kim-Luân.
Kim-Luân Pháp-Vương
bị bao nhiêu bàn ghế do Dương-Qua
đẩy ra ngổn ngang khắp
phòng trở
ngại, thấy hai người nhảy nhót
thoăn thoắt né tránh như đôi
chim cắt thì
căm tức
vô cùng. Ông bèn vận dụng công
lực vào cặp chân xuống tấn
như đôi chày
sắt dẫm
mạnh trên số bàn ghế gãy nghe
răng rắc. Bước chân ông
bước tới đâu, bàn
ghế bị
đạp nhẹp xuống thành những
mảnh gỗ vụn. Không bao lâu tất
cả số bàn ghế
chỉ còn
là đống gỗ vụn, lẫn lộn
với số ly chén văng khắp nơi
thành thử trong phòng
không còn
bừa bãi như trước, đấu
trường trở nên dễ xoay trở
hơn.
Kim-Luân Pháp-Vương
bắt đầu trổ tài tấn công
mãnh liệt. Tiểu-Long-Nữ và
Dương-Qua
buộc lòng phải đâu lưng vào
nhau để chống đỡ vừa
bảo vệ lẫn nhau.
Hai người
bèn áp dụng phương pháp "song-vũ"
ra đánh. Hễ Dương-Qua chém trên
thì
Tiểu-Long-Nữ
tấn công phía dưới, hễ
người này thủ thì người
nọ tấn công ngay, theo
đúng phương
thức đã dạy trong đoạn chót
của Ngọc-nữ Tâm-kinh mà hai người
vừa
luyện xong trong
thời gian gần đây.
Kim-Luân Pháp-Vương
thấy hai người bỗng nhiên đổi
thế đánh bình tĩnh chiến đấu
có
quy củ không
còn hấp tấp như trước mà
những đòn đưa ra ngón nào
cũng vô cùng ác
liệt, nếu
không khéo tránh né sẽ bị
mất mạng như không. Xung quanh ông lúc
nào
cũng có
một màn guơm vô cùng chặt chẽ
phủ vây từ trên xuống dưới.
Ông bèn nhảy
sang bên trái
tung cước đạp Tiểu-Long-Nữ
một đòn rồi tung vòng đen định
tròng vào
cổ Dương-Qua
giật tới.
Dương-Qua
sụp đầu xuống phía trước,
cầm gươm chĩa thẳng ra rồi lao
mạnh về phía
trước
ngay vào bụng đối thủ.
Lưỡi
gươm ghim ngay vào giữa ngực
Kim-Luân, nhưng lạ quá hình bên
trong có
mang sẵn giáp
sắt nên lưỡi gươm vừa
chạm vào bị trượt qua một bên.
Thấy đâm
không thủng được bụng địch
thủ, Dương-Qua vội nhảy lùi ra phía
sau để né
đòn. Nhưng
Kim-Luân đã hự lên một tiếng,
tung cái vòng tròn ra xoay tít trên
đầu
chàng rồi
từ từ ép xuống nặng như
tảng đá ngàn cân, còn hai
tay rảnh không thì
Kim-Luân vung
ra túm lấy Tiểu-Long-Nữ lẹ như
chớp giật.
Cùng một
lúc vừa tung vòng đè người,
vừa phóng tay chộp đối phơng
đây là một thế
đánh vô
cùng thần diệu xưa nay chưa hề
thấy.
Thấy cả
hai đang lâm nguy, Hoàng-Dung thất kinh định
nhảy xông vào tiếp chiến để
giải thoát,
nhưng Dương-Qua đã lẹ làng
tránh sang một bên rồi quay ngược
lưỡi gơm
đâm thẳng
vào lưng Kim Luân, khiến lão phải
quay mình nhảy vọt qua một bên,
không chộp
được Tiểu-Long-Nữ. Đây
là một thế kỳ áo "Vây Tề
cứu Triệu" trong
Ngọc-nữ
Tâm-kinh, giúp Dương-Qua vừa tránh
được đến mình, vừa
giải thoát cho
đồng bọn.
Thế này phối hợp với
thế "én hồng đớp mồi",
lao mình là trên mặt đất để
đâm địch,
là một thế lợi hại của Toàn-Chân
phái.
Bị đòn
bất ngờ, Kim-Luân kêu "à" một
tiếng, nhảy qua một bên, đưa mắt
nhìn theo
chiếc vòng
đen đang xoay tít còn đang lơ
lửng trên không trung.
Thấy chiếc
vòng đen quay tít phát ra những
tiếng vu vu ghê rợn ập ngay đầu
mình,
Dương-Qua
không chút ngán sợ, đưa
thế "bạch hồng kình thiên" (nghĩa
là cầu vòng
trắng vắt
ngang trời) của Toàn-Chân phái
ra phá.
Bị đánh
bất ngờ, chiếc vòng sắc vẫn
xoay tít đảo lại về hướng
Kim-Luân, luôn luôn
phát ra gió
vù vù nhắm ngay đầu chủ chộp
xuống.
Quách-Phù
đứng ngoài nhìn thấy thích
chí quá vỗ tay hoan hô om sòm.
Sở dĩ
Kim-Luân Pháp-Vương quá chủ quan,
tin tưởng vào tài nghệ của
mình, đinh
ninh một đòn
này có thể hạ sát được
cả hai địch thủ nên mới
mạo hiểm quăng vũ khí
ra đánh,
chỉ còn hai tay không mà thôi. Không
ngờ bị Dương-Qua đập lại
quá mạnh,
chiếc vòng
phản chủ quay lại tấn công ông
suýt nữa bị nguy biến tới
thân.
Kim-Luân điên
tiết, vận dụng công lực vào
cách tay nắm chiếc vòng sắc ném
mạnh
một cái.
Cái ném nào quá mãnh liệt,
sức nặng ngót ngàn cân, khiến
chiếc vòng quay
tít mau quá,
các viên đạn bên trong không,
kịp phát ra tiếng kêu leng keng mà
chỉ
nghe rít "vút"
một cái như chiếc đĩa bay.
Dương-Qua
vội vàng đưa gươm đỡ
bật lại một cái, nghe choeng thật lớn,
cây gươm
cong vòng như
một cánh cung rơi ngay xuống đất.
Thấy đối
phương đã mất vũ khí,
Kim-Luân xông tới vung hai tay định
bắt sống.
Tiểu-Long-Nữ
thấy Dương-Qua bị nguy, bèn xoay người
lại vung ra một đường
gươm. Nhát
gươm bay không có vẻ hấp tấp,
chỉ tà tà như chiếc hoa rơi, tư
thái của
nàng vô
cùng khoáng đạt, đứng
xa nhìn vào không khác nào một
nàng tiên. Đây là
một trong những
tuyệt thế trong đời của Ngọc-nữ
Tâm-kinh.
Hoàng-Dung cũng
như Quách-Phù trông thấy phải
cùng luôn miệng khen lớn:
- Tuyệt quá,
đẹp quá, đường gươm
kỳ ảo này thật tuyệt vời
có một không hai.
Kim-Luân Pháp-Vương
buộc lòng phải nắm thật chặt chiếc
vòng sắc để chống đỡ
lại
đường
gơm kỳ ảo lợi hại của Tiểu-Long-Nữ.
Dương-Qua
nhân cơ hội này, cúi xuống lượm
thanh gươm lên và thoát qua tai nạn.
Tuy thoát chết
rồi, nhưng Dương-Qua vẫn không mất
bình tĩnh chút nào. Chàng đứng
yên suy nghĩ:
- Vừa rồi
chúng ta chỉ đánh theo Ngọc-Nữ
Tâm-Kinh kiếm pháp thành thử
không
thắng nổi
nó. Bây giờ cần phải thay đổi
chiến thuật bằng cách phối hợp
giữa hai lối
kiếm pháp.
Ta thì đánh theo Toàn chân phái
còn Cô-nương thì theo các thuật
trong
Ngọc-Nữ
Tâm-Kinh, may ra mới áp đảo
được lão Hòa-thượng
này.
Suy nghĩ xong
tự cho là hữu lý nên chàng
gọi lớn:
- Cô nương,
chúng mình mãi lo luyện tập mà
quên hết việc quan trọng. Bây giờ
tôi đã
trực nhớ
lại rồi. Từ lúc này cô
tấn công theo thuật "lãng tích thiên
nhai" đi nhé?
Tiểu-Long-Nữ
đang băn khoăn chưa biết nên đối
phó bằng cách nào, bỗng nghe
Dương-Qua
nhắc tới bốn chữ "lãng
tích yên nhai" thì sực nhớ
lại như ánh chớp trong
đêm đông,
nàng yên chí vung rộng đường
kiếm đánh đúng theo phương
thức đã dạy
trong đoạn
chót của Ngọc-Nữ Tâm-Kinh.
Còn Dương-Qua
thì bình tĩnh áp dụng theo đúng
kiếm pháp của Toàn-chân phái.
Lúc bấy
giờ hai người mới bắt
đầu thực hiện đúng đắn
phép "song kiếm hợp bích".
Hai đường
gươm thi đua nhau múa loang loáng như
điện nháng, lanh lẹ và nguy hiểm
phi thường,
khiến cho Kim-Luân Pháp-Vương phải
đem hết sức lực đỡ
gạt mà cũng
không xuể,
phải nhảy lùi ra sau mấy bước.
|