THẦN
ĐIÊU ĐẠI HIỆP - HỒI 26
Mối
thù oan gia giữa hai hoï
Kim Dung
Dương-Qua thản
nhiên như không, đưa tay vuốt lại
nếp áo rồi cười cười
bảo
Gia-luật-Tấn!
- Ông bị
thuốc độc của kim châm, chỉ còn
ba giờ nữa là mất mạng.
Nếu ông thuận
tình nghe tôi
một việc tôi sẽ cứu cho.
Gia-luật-Tấn
chấp tay nói:
- Bình sinh hạ
quan vốn ngưỡng mộ những
bậc anh hùng hiệp sĩ nhu quý Ngài,
hôm
nay tình cờ
được gặp thật cũng thỏa
lòng mong ước. Dương anh hùng
thương tình cứu
cho thì thật
là may phước. Nếu không, dẫu
phải bỏ mạng hạ quan cũng vui lòng
vì đã
hân hạnh
được chết vì bàn tay của
một hảo hán. Chết như thế là
một danh dự chứ đâu
phải điều
nhục nhã mà buồn.
Bao nhiêu lời
tâng bốc, khéo nói của Gia-luật-Tấn
khiến cho Dương-Qua hứng chí
nhu bay tận mây
xanh nên chàng lộ vẻ hân hoan trên
nét mặt.
Dương-Qua
từ tấm bé có khi nào tiếp
xúc được với giới
quan trường nên đâu có
hiểu
thấu những
mánh lới tán dương quỵ lụy
của họ đối với các bậc
bề trên, mỗi khi họ cầu
van nài một
ân huệ gì đặc biệt. Vì vậy
nên những lời tán dương
của Gia-luật-Tấn,
Dương-Qua
hoàn toàn tin là lời lẽ chân
thật. Huống chi hắn ăn nói đã
nhỏ nhẹ, điệu
bộ lại khúm
núm nên chàng vừa ý hết
sức.
Nguyên người
Mông-Cổ bản chất mộc mạc thô
lỗ nghĩ đâu nói đấy.
Nhưng
Gia-luật-Tấn
nhờ sinh trưởng ở Trung nguyên
lại thuộc giòng danh gia quý tộc cho
nên sự
nói năng khôn khéo không thể
chê được.
Dương-Qua
vỗ vai Gia-luật-Tấn nói:
- Thôi, ông
khỏi cần nói nhiều, để tôi
cứu chữa cho.
Nói xong chàng
thò tay vào bọc lấy ra một viên
đá "nam châm" hút sắt đặt
lên vết
thương trên
vai Gia-luật-Tấn. Tức thì hai cây
"Ngọc phong châm" theo sức hút của
viên đá
vọt ra ngoài. Duơng-Qua lấy thuốc xoa
vào vết thương bớt ê ẩm
ngay.
Lục-vô-Song
chưa bao giờ được thấy
"Ngọc phong kim châm" nay thấy hai mũi kim
tý hon, mỏng
manh như hai sợi lông, thả vào nước
nổi lềnh bềnh thì nghĩ bụng:
- ám khí
gì mà lạ vậy. Thứ này lấy
ra gió thổi bay mất ngay, làm sao mà
phóng đi
được!
Nàng cười
mãi, bảo Dương-Qua:
- Mang danh nam tử
phải hành động thế nào cho
quan minh chính đại chứ lẽ nào
đi
chế ám
khí hại lén người ta thì
đâu phải con người khí phách!
Dương-Qua
nghe nói chỉ cười lạt, chẳng
trả lời, quay sang hỏi Gia-luật-Tấn:
- Chị em chúng
tôi muốn được đại nhân
kết nạp làm gia nhân sai vặt trong dinh,
chẳng hay có
được không?
Gia-luật-Tấn
thất sắc vội đáp:
- Dương anh
hùng thích vui nói đùa như vậy,
chứ hạ quan đâu dám nhận.
Bây giờ đại
nhân muốn
cần dùng việc gì cứ thật
tình nói thẳng ra, hạ quan sẽ xin
hết sức làm vừa
lòng đại
nhân.
Dơng-Qua nói:
- Tôi muốn
thật đấy, không nói đùa
đâu. Chúng tôi muốn được
làm kẻ hầu cận cho
đại quan,
chứ không giả ngộ như đại
quan đã lầm tưởng.
Gia-luật-Tấn
thấy chàng quả quyết như vậy,
nghĩ thầm:
- Có lẽ
hai người muốn được
ta tấn cử để có quan to chức
trọng, nhưng không tiện nói
thật, tìm
cách nói khéo ra như vậy, mình
là kẻ thức thời, tất
nhiên phải hiểu lấy chứ.
Nghĩ rồi
y chậm rãi nói:
- Nếu nhị
vị đã quyết lòng, hạ quan đâu
dám cãi ý. Cứ như tài
năng của nhị vị, nếu
tiến cử
đến Hoàng-Thượng, chắc
chắn sẽ được trọng dụng
ngay.
Dương-Qua
biết y đã hiểu lầm mình nên
cười rồi đáp:
- Ông đã
hiểu lầm chúng tôi rồi. Hai đứa
tôi đâu có ý nghĩ làm
quan hay được chức
tước.
Sở dĩ vì bị kẻ thù đuổi
gấp, mà chống cự không nổi,
buộc lòng phải xin ông
nhận tạm,
cho giả làm gia nhân để che mắt
chúng mà thôi. Ngoài ra tuyệt nhiên
không có
một hậu ý gì khác nữa.
Gia-luật-Tấn
ngỡ ngàng quá, thở dài
một cái, gượng nói:
- Cứ như
bản lãnh siêu phàm của nhị
vị thì kẻ thù nào dám bức
sách nổi, hoặc giả nếu
chúng ỷ
thế đông người, hạ quan
sẽ cho quân lính tiếp tay cùng nhị
vị để đối phó,
được
không?
Dương-Qua
đáp:
- Đối
với người thù của chúng
tôi, dầu bao nhiêu quân mà cũng
chẳng làm chi hắn
nổi. Tốt
hơn là đại nhân cứ cấp
cho hai bộ đồ thị vệ là xong
chuyện.
Nghe câu nói
tuy đơn giản nhng có vẻ nghiêm
trọng và quả quyết nên Gia-luật-Tấn
phải luôn
miệng vâng dạ rồi truyền cho đi
lấy hai bộ đồ "thị-vệ" mang lại
ngay.
Dương-Qua
tiếp nhận, chia cho Lục-vô-Song một bộ
rồi cùng qua phòng kế bên thay
đổi.
Lục-vô-Song
thay đồ xong đứng trước
gương ngắm nghía thấy mình đã
hiển nhiên
biến thành
một chú thị vệ Mông-Cổ rất
bảnh trai!
Bắt đầu
đêm đó cả hai ở luôn
trong tư dinh của Gia-luật-Tấn và chẳng
có việc gì lạ
xảy ra.
Rạng ngày
sau, đoàn quân Mông Cổ lại lên
đường. Dương-Qua và Lục-vô-Song
mỗi
người
ngồi trong một chiếc kiệu có bốn
người khiêng, còn Gia-luật-Tấn
cỡi ngựa đi
theo sau.
Đoàn quân
đi mãi đến gần đứng
bóng, thình lình có tiếng nhạc
Loan-Linh reo vang
lảnh lót,
nhưng một chặp sau tắt hẳn không
còn nghe nữa.
Lục-vô-Song
được nằm trong kiệu êm, được
kẻ hầu người hạ bốn phía
lấy làm thích
chí nghĩ
thầm:
- Bây giờ
ta cần gì phải đi nữa cho vất
vả, cứ nằm lỳ nơi đây
cho chúng khiêng đi, khi
nào về
tới Giang-Nam sẽ hay.
Đi mãi
hai ngày sau, không còn nghe tiếng nhạc
Loan-linh nữa mà bọn hành khất
cũng không
ai hay biết để đón đường
phá rối. Vì vậy nên Lục-vô-Song
cũng thấy
vững bụng
bớt lo.
Đến ngày
thứ ba, đoàn quân đến
trại Long-câu, một vị trí quan trọng,
sầm uất phồn
thịnh, người
ở đông đúc và cũng
là địa điểm trọng yếu
trên trục giao thông giữa
Tân-Hoài
và Biện-Lương.
Gia-luật-Tấn
ra lệnh cho quân lính dừng lại nghỉ
chân và ăn uống.
Chiều đó,
sau khi cơm nước xong xui, Gia-luật-Tấn
vào phòng gặp Dương-Qua nói
chuyện và
ngỏ ý muốn được chàng
chỉ vẽ cho một vài ngón võ
tùy thân.
Nhờ y khéo
tán tỉnh nên Dương-Qua vui vẻ nhận
lời.
Dương-Qua
chỉ vẽ cho y một vài thế võ
thô sơ, chàng giảng lý thuyết
trước rồi biểu
diễn từng
lối đánh đỡ thật chu
đáo.
Gọi là
vài thế thô sơ, nhưng đối
với Gia-luật-Tấn thì toàn là
những thế tuyệt diệu chưa
hề biết
nên rất thích thú và chăm
chú đem hết tâm trí để
học.
Đang say mê
học tập, thình lình thị vệ vào
bẩm:
- Kính bẩm
đại nhân, có nguời mang thư
của Cụ Cố từ Kinh đô đem
về.
Gia-luật-Tấn
mừng quá hỏi:
- ồ, hay quá,
mi dặn hắn chờ một tý ta sẽ
ra ngay bây giờ.
Nói rồi,
y đứng dậy xin lỗi tạm cáo
biệt Dương-Qua để ra ngoài đón
người đem thư,
nhưng bỗng
y đổi ý nghĩ thầm:
- Hay là ta cứ
ở đây tiếp tục học tập
và bảo hắn mang thư thẳng lại
đây cũng được.
Nếu ta bỏ
đi e Dương anh hùng buồn ý, cho
là không thiết tha với việc
học tập rồi
chẳng truyền
dạy cho nữa.
Nghĩ xong y bảo
người thị vệ:
- Nhà ngươi
bảo người mang thư đem ngay lại
đây cho ta xem.
Ngời thị
vệ biến sắc, ấp úng một chập
và thưa:
- Bẩm đại
nhân... bẩm... bẩm...
Gia-Luật-Tấn
gắt:
- Bẩm, bẩm
gì mà lôi thôi mãi thế, làm
như có điều gì quan trọng lắm.
Cứ bảo hắn
đem lại
đây ngay, đừng bẩm dai nữa.
Tên thị
vệ lấy lại bình tĩnh thưa:
- Bẩm ngài,
chính Cụ Cố đã thân hành
đến thăm, chứ không phải
gửi thư.
Gia-Luật-Tấn
không tin, đứng yên suy nghĩ:
- Vô lý,
có chuyện gì đến nỗi phụ
thân ta phải đến tận nơi đây?
Ngay lúc đó,
bức màn cửa vén lên một
cụ già tóc râu như tuyết, ung
dung bước vào,
vừa cười
vừa nói:
- Con, chắc con
không ngờ rằng cha đến thăm
con tại đây phải không?
Gia-Luật-Tấn
vừa trông thấy mặt cha, vừa
mừng vừa sợ, vội vàng
sụp lạy thưa rằng:
- Kính lạy
phụ thân, thật con không ngờ phụ
thân đến để ra đón mừng.
Xin phụ thân
tha tội bất
hiếu.
Ông cụ vẫn
tươi cười đáp:
- Cha cũng muốn
cùng đi với con cho vui.
Ông lão
chính là Gia-luật-Sở-Tại, cha của
Gia-Luật-Tấn. Đại-Thừa-Tớng
của dương
trào Mông-Cổ.
Theo quan chế của triều Nguyên thì
gọi Thừa Tướng là "Trung
thư
lệnh".
Tuy biết ông
cụ là cha của Gia-Luật-Tân, nhưng
Dương-Qua chưa hiểu quyền uy tột
bực của
ông như thế nào, và cũng không
ngờ, trong khắp thiên hạ trên
toàn cõi
Trung-hoa, ông
chỉ thua sút có một mình đương
kim Hoàng-Đế mà ngồi trên
mấy
trăm triệu
người cả Hán lẫn Mông-Cổ.
Nhìn thấy
ông Cụ rất phương phi quắc thước,
đầu tóc bạc phơ, râu dài
uốn lóng lánh
như cớc,
trán rộng, mắt sáng, da dẻ hồng
hào, uy nghi đường bệ, thoạt
trông thấy
cũng phải
đem lòng kính nể. Quả thật là
một Cụ già quý tướng.
Chàng tự
nhiên có một cảm giác vừa
kính vừa yêu từ trong lòng
phát ra.
Ông Cụ vừa
ngồi xuống ghế thì ngoài cửa
có hai người nữa cùng bước
vào, thì lễ cùng
Gia-Luật-Tấn
và gọi bằng anh cả.
Đó là
một người con trai và một người
con gái. Trai độ 25 tuổi, gái vào
khoảng hai
mươi, cỡ
tuổi của Dương-Qua mà thôi.
Chào hỏi
xong xuôi, Gia-luật-Tấn hỏi hai em:
- Hai em cùng
đi với thân phụ đến đây
phải không?
Thì ra người
thanh niên là con thứ của Gia-luật-Sở-Tài,
tên là Gia-luật-Tề và người
thanh nữ
là Gia-luật-Yên, gái út của
ông Cụ.
Gia-luật-Tề
dáng người thanh thanh cao cao, trán
rộng, cằm vuông, nhìn điệu bộ
cử
chỉ thật
là uy nghi dũng mãnh.
Người
mới gặp chàng lần đầu
không biết rõ thân thế, chỉ
nhìn quan dáng điệu cũng có
thể đoán
là công tử của một danh gia quý
tộc.
Gia-luật-Yên
thì mặt đẹp như hoa, da trắng như
trứng gà bôi, mắt phượng
mày tầm,
thân hình
mảnh mai nhng không có vẻ quá lả
lướt. Trong cái đẹp vẫn
ẩn tàng một
nét uy nghi của
con người cân quắc nữ lu.
Nghe anh hỏi,
Gia-luật-Yên hé cặp môi đỏ
mọng như san hô cười dòn dã,
toan trả lời
thì Gia-luật-Tấn
đã bước lại gần thân
phụ hỏi nhỏ:
- Có việc
gì trọng đại mà phụ thân
lại bất ngờ mang cả hai em con cùng
ra đây. Hay
đã có
điều gì xảy ra tại Kinh-đô
chăng?
Gia-luật-Sở-Tài
vuốt râu đáp:
- Quả đúng
như vậy. Nhưng con nên cho bọn thị
vệ ra hết cả rồi cha sẽ thuật
lại cho
mà nghe.
Gia-luật-Tấn
ra lệnh cho các thị vệ giải tán
ngay. Nhưng đối với Dương-Qua
thì xem
y như bậc
bề trên chẳng dám đả động
tới. Tuy nhiên Dương-Qua cũng hiểu
ý, mỉm
cười
rồi lẳng lặng bước ra ngoài.
Gia-Luật Sở-Tài
quả con người mẫn thiệp có
mắt tinh đời, chỉ ngó qua đã
nhận thấy
Duơng-Qua có
những cử chỉ khác hẳn bao
nhiêu người khác. Trong lúc bao
thị vệ lễ
phép sụp
lạy mình thì chàng vẫn đứng
im nhìn với cặp mắt thản nhiên
không chút nể
sợ, vì
vậy nên ông hỏi Gia-luật-Tấn:
- Người
mới vừa bước ra sau cùng
là nhân vật nào vậy?
Gia-luật-Tấn
tự xét không tiện đem lai lịch
và sự việc của Dương-Qua ra
trình bày cho
cha và hai em
biết để rồi có thể hiểu
lầm mình thích giao du với bọn
búa đao lạc lõng
mất thể
diện một phụ mẫu chi dân. Vì vậy
nên y tìm cách nói lệch đi:
- Bẩm phụ
thân, đó là một ông thầy
tướng số. Lần này phụ
thân về Giang-Nam chắc
có chuyện
gì cần thiêt hay bất ngờ chăng?
Gia-Luật Sở-Tài
thở dài một cái và rầu
rầu đáp:
- Ta đi phen này
có hai mục đích, một là đi
lánh nạn cho mình hai là để
tìm cách cứu
vãn để
nghiệp muôn đời cho tiên đế.
Gia-luật-Tấn
yên lặng ngồi nghe và thấy cả
hai em cũng nín thinh với vẻ mặt
đăm
chiêu buồn
bã.
Nguyên từ
ngày Nguyên Thái-Tổ là Thành-Cát-Tư-Hãn
băng hà, con thứ là Oa Khoát
Thai lên ngôi
kế vị cha được bao lâu cũng
qua đời truyền lại cho con là
Quí-Do.
Quí-Do cũng
chết non nên Hoàng-Hậu của Quí-Do
chấp chánh theo lối "thùy liêm
thính chính"
nghĩa là rủ màn nghe việc trào
đình.
Hoàng-Hậu
có tánh ưa nịnh ghét trung, thích
nghe những bọn tiểu nhân dèm siểm,
đố
kỵ những
văn quan võ tướng có công
lớn với đương triều.
Vì thế cho nên công việc
trong trào lộn
xộn chia rẽ chưa lúc nào tệ nhu
vậy.
Gia-luật Sở-Tài
là một tay "khai quốc công thần" đã
ba đời vua có công hạn mã,
được
ba vua yêu mến
nể vì. Thấy Hoàng hậu hay tin cậy
những bọn không ra gì lại hay bày
trò dâm
loạn ngay trong cung cấm nên đã nhiêu
lần đem lời ngay thẳng can gián.
Vì nhiều
lần bị Thừa Tướng cản
ngăn và chỉ trích việc làm của
mình, Hoàng hậu có ý
bất bình
ra mặt, tuy nhiên vì Gia-Luật Thừa
Tướng là vị đệ nhất
Công Thần của tiên
đế nên
chưa làm chi được, song trong bụng
vẫn lăm le kiếm dịp để sát
hại cho khuất
mắt.
Sở dĩ
cái việc làm của Gia-luật Sở-Tài
lúc nào cũng đường đường
chính chính nên
mặc dầu
Hoàng hậu hay bọn nịnh thần có
ghét cũng không có cách nào
buộc tội
được.
Gia-luật-Sở-Tài
thừa rõ ý ấy nhưng ông
nghĩ rằng:
- Ta đã
cao niên dầu có chết đi cũng
không tủi nữa. Sống ngày nào
ta quyết không để
cho sự nghiệp
của tiên hoàng Thành Cát Tu Hãn
bị h nát vì tay một người
đàn bà.
Vì vậy cho
nên mỗi khi thấy có việc gì
không đúng, lão thần thẳng
thắn cản ngăn cho
tới kỳ
cùng. Lắm khi hai bên tranh chấp gay go
và khi tan chầu, cả hai có vẻ không
vui và giận
lẩy.
Là người
thông minh xuất chúng, liên việc như
thần Thừa Tướng Gia-Luật-Sở-Tài
cũng biết
rõ ràng đi đối đầu
với Hoàng hậu là một điểm
quá nguy hiểm và ngày nay
mạng mình
cũng lung lay như ngọn đèn treo trước
gió, chưa biết sẽ phụt tắt lúc
nào.
Nhưng mỗi
khi nghĩ đến cơ nghiệp của Tiên-Hoàng
Thành-Cát-Tư Hãn và lời
ủy thác
của người
lúc băng hà thì ông lại quyết
tâm bảo vệ cho đến cùng, tìm
cách củng cố lại
công việc
trào chánh.
Một ngày
kia Thừa Tướng bỗng nghĩ
ra một kế nên lúc vào chầu
có dâng cho Hoàng
hậu một bản
điều trần rằng xứ Hà-nam
hiện có nhiều tham quan ô lại những
lạm dân
nghèo nên
xin đảm nhận trọng trách đích
thân ra đó để thanh tra và
tìm cách bổ cứu.
Đọc biểu
chương Hoàng hậu cả mừng vì
lúc nào Thừa Tướng ở
tại triều không khác
nào một
cái đinh trước mắt, nay người
đi càng xa, càng đỡ bận
trí bấy nhiêu, mong
cho người
ở ngoài đó càng lâu
càng tốt, và mỗi ngày đỡ
phải nghe những lời ngăn can
phiền phức
nhức óc.
Vì vậy nên
Hoàng-hậu đặt bút chuẩn phê
ngay.
Để ra ơn
lấy lòng đối với một
lão thần đã có công to cùng
triều đình nên Hoàng-hậu
hạ chiếu
cấp cho Thanh "thượng phương bảo
kiếm" và ủy quyền cho Thừa
tướng có
thể "chém
trước tấu sau", với quyền
uy tuyệt đối thay mặt cho vua quyết
định mọi
việc ở
phương xa.
Về đến
tư dinh, Thừa-Tướng cho mời
tất cả các vị công thần đã
có công hạn mã cùng
hai trào Tiên-đế
Thành-Cát-Tư-Hãn và Oa-Khoát-Thai
dựng lên đế nghiệp, vào
bàn
luận.
Nghe tâm sự
của Thừa Tướng mọi người
đều khen phải.
Trong đêm
ấy, Gia-Luật Thừa Tướng thức
khuya đọc bộ "Tư tri thông giám"
đến đoạn
"Trương-Giám-Chi
truất phế Võ-tắc-Thiên hoàng
hậu lập vua Trung-Tôn nhà Đường
thì trong lòng
nảy ra một ý tưởng muốn
noi gương ấy áp dụng cho Trào
chánh hiện
nay, nhưng ông
suy nghĩ:
- Ta muốn noi
chí tiền nhân làm sao phế bỏ
mụ đàn bà này củng cố
lại đế-nghiệp của
Tiên-Vương,
nhưng nếu không kịp nhẹm lỡ
đổ bể ra thì chắc con dâm phụ
sẽ thừa dịp
gán cho mình
vào tội phản loạn.
Muốn thực
hiện mu này ta nên chuẩn bị khi ra đến
Hà-Nam sẽ dâng biểu xui đem
binh dẹp loạn.
Chắc chắn thế nào Hoàng hậu
cũng sẽ chuẩn y. Lúc ấy ta sẽ
thừa dịp
chấn chỉnh
lực lượng. Khi nào có đầy
đủ binh hùng tướng mạnh
sẽ hưng binh về trào,
lập một vị
minh chúa lên ngôi, truất phế Hoàng-hậu
xuống.
Hiện nay trong
những người trong hoàng tộc
chỉ còn Mông-Kha, cháu của
Thành-Cát-Tư-Hãn
vốn người thông minh đạo
đức, bản chất anh minh thuần
hậu
khẳng khái
hơn người, đợc hầu
hết các văn võ bá quan mến
chuộng. Nếu lập
Mông-Kha lên
ngôi Hoàng-Đế chắc chắn mọi
người thảy đều hoan-nghinh.
Sau khi bọn thị
vệ rút lui rồi, cha con Gia-luật-Sở-Tài
mới đem câu chuyện này ra bàn
luận.
Gia-luật-Tấn
bồi hồi mừng lo lẫn lộn vì
y nghĩ rằng:
- Nếu việc
này thành công thì quả là
công đức phi thường với
quốc dân, xây dựng lại
được
đế nghiệp, nhưng nếu rủi ro bị
thất thì nhất định phải mang
trọng tội và bị tiêu
diệt toàn
gia.
Trong khi bốn
cha con trù tính kế hoạch trong phòng
thì ở phòng kế bên, Dương-Qua
lắng tai nghe
ngóng. Vốn đã biết được
phép "thiên nhãn thông" "thiên nhĩ
thuật" nên
Dương-Qua
có thể nghe được rõ ràng
mặc dầu họ nói rất nhỏ và
đôi bên bị cách vách.
Kẻ nào
đào luyện hai phép này đến
chỗ tuyệt kỹ cao siêu sẽ có
thể thấy được những
gì mà
người thường không trông
thấy, nghe được những gì
mà thiên hạ không nghe
ra.
Lục-vô-Song
ở cách buồng của Gia-luật-Tấn
một căn nhà nhỏ. Những điều
của bốn
người
bàn luận trong phòng, Lục-vô-Song không
hề hay biết, nhưng trái lại
Dương-Qua
thì nghe không sót một câu nào.
Đối với
Dương-Qua, chỉ có những chuyện
có liên hệ đến mình mới
đáng để ý, ngoài
ra bao nhiêu việc
khác dầu quan trọng đến đâu
cũng chả nghĩa lý gì.
Lục-vô-Song
thấy Dương-Qua lặng yên ngồi xếp
bằng tròn, mắt nhắm kỹ không
khác
nào một
nhà sư đang tham thiền nhập định
gần nửa ngày không nhúc nhích
thì ngạc
nhiên vỗ
vai hỏi:
- Làm gì
mà ngồi lặng yên như ông sư
nhập định vậy ngốc?
Trong khi ấy
Dương-Qua đang tập trung mọi ý chí
lắng nghe câu chuyện của cha con
Gia-luật-Sở-Tài
phòng bên nên không hay biết gì
về câu hỏi của Lục-vô-Song.
Lục-vô-Song
hỏi lại lần nữa nhưng Dương-Qua
vẫn ngồi yên không đáp. Nàng
nổi
giận đưa
tay đập mạnh hai cái vào lưng và
gắt:
- Ta hỏi mi có
nghe không mà làm thinh mãi vậy hở
ngốc?
Dương-Qua
bị đập mạnh vào người
mở choàng mắt, nhảy tung ra phía
trước rồi nói
nhỏ:
- Có kẻ
nào đang rình trên mái nhà
gần đây.
Lục-vô-Song
ngơ ngác nhìn quanh chẳng thấy gì
hết, đáp khẽ:
- Đâu có,
không thấy bóng dạng một người
nào hết.
Dương-Qua
bảo:
- Nhất định
có! Nhưng hắn đang nấp trên
nóc phòng thứ năm đàng
kia chứ không có
ở đây.
Lục-vô-Song
không tin, cười chế nhạo:
- Làm gì
có ai đâu? Mi ngồi ngủ mê,
chiêm bao nói sảng đấy.
Dương-Qua
thấy nàng ngoan cố bèn nắm áo
nàng kéo luôn ra ngoài và bảo:
- Cô chẳng
tin thì ra đây mà xem. Biết đâu
không phải là Sư phụ của cô
đang dò xét
để tìm
cô!
Nghe tiếng Sư-phụ,
Lục-vô-Song giật mình lo sợ, ngoan
ngoãn bước theo, ra đến mái
hiên, phủ
phục phía sau tấm bao lớn đưa
mắt nhìn lên trên trời.
Theo tay của Dương-Qua
chỉ về phía Tây, Lục-vô-Song trông
thấy quả nhiên có một
bóng đen
lù lù hình như một người
đang nằm nấp trên nóc nhà
thứ năm.
Đêm nay
thuộc hạ tuần cuối tháng không
trăng sao, t bề tối đen như mực,
đứng xa
không tài
nào nhận được những
vật trước mắt chớ đừng
nói ở trong nhà mà đoán
sự
việc xảy
ra bên ngoài.
Lục-vô-Song
càng cảm phục tài nghệ của Dương-Qua,
nàng nghĩ bụng:
- Thằng Ngốc
quả thật tài tình đúng mức.
Tuy nhiên nhất định người
này không phải
sư phụ của
ta đâu. Bất cứ ngày hay đêm
lúc nào sư phụ ta cũng mặc y phục
trắng hay
màu vàng
nhạt, chứ không bao giờ mặc
đồ đen hay màu nào khác.
Nàng đang
đứng lặng thinh suy nghĩ bỗng
Duơng-Qua ghé miệng kề tai nói nhỏ:
- Người
này không phải là Sư-phụ cô
đâu, cứ yên chí nhé.
Ngay khi ấy,
bóng đen vuơn mình đứng
dậy nhảy xuống đất chạy thoăn
thoắt lại phía
nhà của
Gia-luật-Tấn, bước tới cửa,
đẩy nhẹ ra tay vung một ngọn đoản
đao tóe ánh
thép loang loáng
sáng ngời miệng thét lớn:
- Gia-Luật-Sở-Tài,
hôm nay mi đã đến ngày tận
số rồi.
Quát vừa
dứt câu, người ấy đã
bước lọt vào trong nhà. Tiếng
nói lảnh lót giống giọng
đàn bà.
Thân hình nàng tầm thuớc thon
thon, dáng đi đứng có vẻ
lẹ làng mạnh dạn
lắm. Thấy
vậy Dương-Qua có ý lo ngại và
nghĩ rằng:
- Cứ theo
dáng điệu nàng này thì bản
lãnh cao hơn Gia-Luật-Tần một bực
rất xa. Phen
này cha con hắn
khó chống cự nổi.
Lúc ấy
Lục-vô-Song nhắc:
- Chúng mình
cũng nên lại gần xem thử ra sao
chứ!
Thế là
cả hai phi thân nhẹ nhàng như đôi
bướm đứng ngay phía ngoài
cửa sổ đưa mắt
nhìn vào
gặp lúc Gia-luật-Tấn đang múa
một cây gậy ngăn trước đỡ
sau chống lại với
lưỡi
đao của nàng ấy đang vung lên
nghe vùn vụt, xé gió vo vo.
Nàng áo
đen có một bản lãnh khá cao,
đao pháp có vẻ tinh thục lắm.
Nàng vũ lộng
thanh đao lấp
lánh nhưb hoa lê, chém vun vút vào
người của Gia-luật-Tấn làm
cho cây
gậy bỗng
sắp bị chặt gãy, càng lâu càng
lúng túng.
Biết mình
đã đuối sức không thể
cự đơng lâu nữa, y vội
gọi lớn:
- Phụ thân,
xin tìm đường lánh đi cho
mau.
Rồi y thét
lớn:
- Quân bay đâu
rồi, hãy đến tiếp tay cùng
ta, mau lên!
Thấy nếu
cứ để kéo dài cuộc tranh
chấp, e bọn thị vệ kéo vào đông
quá bất lợi, nên nữ
lang áo đen
chuyển mình phóng ra một ngọn cước.
Ngọn đá
tung ra mau quá, Gia-luật-Tấn né tránh
không kịp bị trúng ngay giữa
lưng
dội tới
trước, ngã sắp xuống nền
nhà.
Lập tức
nàng ấy phóng tới, vung đao
nhắm ngay đầu chém xuống thật
mạnh.
Dương-Qua
thấy tình hình quá nguy ngập miệng
la "nguy quá"! rút ngay một mũi
"Ngọc Phong Châm"
định tung ra để giải cứu
nhưng bỗng có bóng một người
con gái
nhảy ra quát
lớn:
- Tiện tỳ,
chớ vô lễ!
Người
ấy chính là Gia-Luật-Yên, gái
út của Gia-Luật-Sở-Tài.
Miệng nói
tay trái tát ngay mặt nữ lang áo
đen, tay mặt dùng thế "tay không đoạt
đao"
cướp
lấy thanh đoản đao đang chém
xuống đầu anh mình.
Thế là
hai bên dằng co, kẻ trì người
kéo, trông nhu hai con vượn giành
mồi. Cả hai
hành động
hết sức lanh lẹ, biến thế liên
tiếp khi sang tả lúc sang hữu, cây
diệp đao lúc
ở tay người
này khi lại lọt vào tay nàng nọ,
nhưng ai cũng cố nắm lấy đằng
cán,
không người
nào chịu nắm đàng lưỡi.
Dương-Qua
bèn nhìn Lục-vô-Song nói nhỏ
để chọc tức nàng:
- Xem tài nghệ
hai nàng này có vẻ cao cường
hơn cô một bực.
Trong lúc ấy
bọn thị vệ đã vũ lộng binh
khí hè nhau xông vào định vây
đánh nữ lang,
nhưng Gia-Luật-Tề
cản lại nói:
- Các ngươi
cứ để yên. Tam-Tiểu-Thư khỏi
cần các ngươi đánh giúp.
Lục-vô-Song
nghe Dương-Qua nói khích, nổi nóng
đấm thùm thụp mấy cái vào
lưng
chàng.
Dương-Qua
cười hề hề ghẹo nữa:
- Cô cứ
xem đấy không phải sao? Tôi nói
không bao giờ sai. Họ xuất thủ
toàn những
ngón rất
tinh diệu, nhất định phải là
đệ-tử của cao nhân. Cô bì
sao được.
Gia-luật-Tấn
đứng qua một bên nghỉ sức
và cả cha con đều ngạc nhiên
trố mắt ra
nhìn, cùng
suy nghĩ:
- Xưa nay Gia-Luật-Yên
có tập luyện võ nghệ bao giờ
đâu mà hôm nay lại tài giỏi
như thế
này?
Thế rồi
hai người hồi hộp đứng
nhìn trân trối.
Hai cô cứ
tranh nhau quyết giựt cho được
lưỡi đoản đao. Người
nào cũng quyết túm
lấy cán
cố rút khỏi tay kẻ địch. Giằng
co qua lại, đẩy tới kéo lui,
chạy quanh co khắp
phòng cha ai
đạt được ý muốn.
Thấy cứ
kéo dài mãi, Gia-luật-Tấn nóng
ruột đứng dậy nói:
- Tam muội, em
hãy lui ra, để cho anh tiếp nàng
vài ngón xem sao.
Vừa dứt
lời, chàng lanh chân bước
vào tung ra liên tiếp ba quyền như
búa đập.
Gia-Luật-Yên
bước trái qua một bên, miệng
nói:
- Đây,
anh ra tay bắt sống hắn cho em nhé.
Dương-Qua
mỉm cuời, chắp tay sau lưng, đứng
xem Gia-Luật-Tề và nữ lang áo
đen
tranh tài cùng
nhau.
Đánh một
chập lâu, Gia-Luật-Tề bỗng đứng
nguyên một chỗ, tay trái giấu sau
lưng,
tay phải đưa
ra phía trước muốn cuớp
lấy thanh đao, nhưng chưa động thủ.
Người con
gái áo
đen cũng đứng lại thủ thế
không dám tấn công nữa.
Dương-Qua
buột miệng khen nhỏ:
- Thế võ
của chàng này quả nhiên lợi
hại!
Lục-vô-Song
chế nhạo:
- Bản lãnh
của hắn trội hơn chú gấp mấy
lần, không lợi hại sao được.
Dương-Qua
lặng thinh không đáp, giả bộ như
không nghe câu ấy.
Bỗng Gia-Luật-Tề
gọi em gái nói:
- Tam muội, hãy
xem, anh điểm huyệt cho hắn mềm cả
gân cốt, không còn đủ sức
nằm vững
thanh đao. Em chuẩn bị để đoạt
lấy nhé!
Nàng áo
đen giận quá hét lớn:
- Súc sinh đừng
phách lối, quả là quân khốn
kiếp óc đầy cuồng vọng chủ
quan.
Gia-Luật-Tề
không đáp lại, đưa tay lẹ
như chớp điểm ngay vào người
cô gái. Cô gái
áo đen
cảm thấy như muôn ngàn mũi kim
châm vào các thớ thịt, chân
tay bủn rủn,
thanh đoản
đao đã rơi xuống đất
nghe xoảng một tiếng lớn.
Mọi người
xung quanh thảy đều thán phục Gia-luật-Tề
nói đâu có đó, tài
nghệ tuyệt
vời.
Gia-luật-Tề
cúi xuống lượm thanh đoản
đao nhìn Gia-luật-Yên nói:
- Tam muội, bây
giờ hắn không còn binh khí
nữa, em có muốn thử sức
thì cứ xông
vào, nhưng
phải để ý đề phòng
song cước của hắn nhé.
Nữ lang
bị mất khí giới chỉ còn
hai bàn tay không, nét mặt có vẻ
hốt hoảng vì kinh sợ.
Bọn thị
vệ nghĩ thầm:
- Công tử
mình đã đoạt khí giới
mà không ra tay hạ sát là có
ý muốn tha chết cho
nàng, sao nàng
không chịu tẩu thoát đi cho mau, cứ
đứng hoài như vậy làm gì
nữa.
Gia-luật-Yên
tiến lên hai bước, đưa tay
chỉ ngay mặt nữ lang áo đen, nghiêm
nghị
nói:
- Hoàng-nhan-Bình,
đã hai phen anh em ta rộng lòng tha chết
sao mi chẳng biết thân
cứ mang
mặt đến đây làm dữ
mãi. Hôm nay đừng trách chúng
ta độc ác nhé.
Dương-Qua
nghe gọi tên nữ lang thì nghĩ bụng:
- Bọn này
có nhiều tên họ quá kỳ
lạ, ít khi nghe gọi quá.
Thật ra chàng
đâu biết rằng giòng họ Gia-Luật
là quốc tính của nước
Đại-Liêu, cũng
như giòng
họ "Hoàng nhan" là quốc tính của
nớc Kim. Hai họ này đều là
Hoàng-Tộc
của hai nước.
Nước Kim tiêu diệt nước
Liêu, và sau này nước Kim lại
bị nước Mông
Cổ tiêu
diệt lại.
Ngày nay cả
hai họ "Hoàng-Nhan" và "Gia-Luật" đều
là giòng dõi Hoàng phái bị
vong quốc.
Bị Gia-luật-Yên
trách mắng, Hoàng-nhan-Bình đứng
yên không đáp lại.
Gia-luật-Yên
hỏi luôn:
- Nếu mi muốn
cùng ta tranh tài cao thấp thì cứ
ra tay đi.
Nói rồi
múa quyền đánh nhau.
Hoàng-nhan-Bình
bước lùi ra sau né tránh rồi
nói nho nhỏ, giọng rầu rầu:
- Mi hãy giao
trả thanh đạo lại cho ta.
Gia-luật-Yên
nghe nói suy nghĩ:
- Sở dĩ
anh ta đoạt lấy đoản đao của
ngươi là muốn cho ngươi tay không
cùng ta tranh
tài cao thấp.
Nay mi cứ nằng nặng đòi lại
đao ấy, không hiểu với mục
đích gì đây?
Tuy vậy nhưng
nàng vẫn có tính hào hiệp
không hề cân chấp, ngó một
tên thị vệ bảo:
- Ngươi thưa
với anh ta xin nhận lại thanh đoản
đao để trả cho nàng này.
Một phút
sau, tên thị vệ cầm đao ra, hai tay
đưa cho nàng và hỏi thêm:
- Bẩm cô
nương, cô nương có cần đến
vũ khí nào không?
Gia-luật-Yên
lắc đầu đáp:
- Khỏi cần,
ta không muốn dùng vũ khí.
Rồi nàng
ngó Hoàng-nhan-Bình trao thanh đao cho nàng
và nói:
- Ta dùng tay
không đánh với mi, tuy chắc
thua, nhưng ta vẫn cố gắng để
mi được
thỏa lòng.
Hoàng-nhan-Bình
nét mặt tái lợt, đôi mắt
rầu rầu chớp lia, nhìn về
phía
Gia-luật-Sở-Tài,
òa lên khóc lớn và nói
qua giòng nước mắt:
- Mi đã
giúp quân Mông-Cổ sát hại song
thân ta, ngày nay ta không đủ sức
báo thâm
cừu, xin
hẹn gặp nhau dưới suối vàng
để rửa hận lớn.
Dương-Qua
thấy đôi mắt vô cùng chán
nản và tuyệt vọng của nữ
lang đã đoán hiểu ý
định của
nàng nên kêu lớn:
- Cô nương,
cô nương! Chớ nên!
Ngay lúc ấy
Hoàng-nhan-Bình trở ngược
lưỡi dao đâm vào cổ họng
để tự vận.
Gia-luật-Tề
xông vào đoạt mất thanh đao
rồi điềm đạm nói:
- Việc gì
nàng phải làm như vậy?
Mọi người
quá ngạc nhiên, cùng kêu lên
một tiếng vì hốt hoảng, do đó
chẳng ai để ý
đến tiếng
kêu của Dương-Qua.
Lục-vô-Song
nghe được, nhìn chàng hỏi
nhỏ:
- Chú gọi
nàng là Cô nương? Vậy nàng
là sư-phụ của chú sao?
Dương-Qua
lắc đầu và ấp úng đáp:
- Không phải...
không phải Cô nương tôi đâu.
Nguyên nhân
vì trong khi Hoàng-nhan-Bình quyết tâm
tự tử, nét mặt và khóe
mắt
nàng chứa
chất tất cả niềm đau đớn
thất vọng, mới nhìn thấy giống
hệt như nét mặt ủ
rũ của
Tiểu-long-Nữ lúc nhìn chàng
lần chót nói lời vĩnh biệt.
Vì vậy nếu trong giây
phút quá
cảm xúc, chàng cứ đinh ninh
đó là Tiểu-long-Nữ của
mình, nên hốt hoảng
gọi Cô nương.
Lục-vô-Song
thấy nét mặt Dương-Qua rầu rầu
đăm chiêu và nghiêm nghị không
giống
như thái
độ thờng ngày nên cũng
e dè không dám hỏi thêm nữa.
Khi ấy Gia-luật-Sở-Tài
cất tiếng nói:
- Hoàng-Nhan
cô nương đến đây nay đã
ba lần cô nương đến tìm
lão phu để hành
thích nhưng
không làm được như ý.
Lão phu muốn hỏi cô nương một
câu này: Luôn
luôn cô
nương oán hận lão phu đã
làm Tể-tướng cho Đại Mông-Cổ
rồi giết hại song
thân mình.
Cô nương có biết kẻ nào
đã giết hại tổ phụ của
lão phu không?
Hoàng-nhan-Bình
lắc đầu đáp:
- Tôi không
rõ điều ấy được.
Gia-luật-Sở-Tài
nói tiếp:
- Tổ phụ
của lão phu là Hoàng tộc của
nước Đại-Liêu, mà nước
Đại-Liêu đã bị nước
Kim tiêu diệt.
Con cháu họ Gia-Luật của Đại-Liêu
đã bị người họ Hoàng-Nhan
của
nước
Kim giết chết rất nhiều. Cũng vì
vậy mà ngay từ khi còn niên thiếu,
lão phu mới
quyết tâm
phò Mông-Cổ để nhờ thế
lực Mông-Cổ mà tiêu diệt
lại họ Hoàng-Nhan của
Kim quốc. Than
ôi! Nếu ngày nay con cháu đôi
bên cứ lấy oán trả oán
thì oán nọ sẽ
liên miên,
đời đời kiếp kiếp
cứ lo thù qua giết lại, biết
bao giờ dứt được.
Nói đến
đây, người lão thành đáng
kính mơ màng đưa mắt nhìn
qua khung cửa sổ,
như muốn
tìm thấy cảnh núi xương, sông
máu. Tưởng tượng hình
ảnh thảm sát đã
diễn ra trong
dĩ vãng và sẽ tiếp tục về
sau muôn đời bất tuyệt! Bao nhiêu
hình ảnh ghê
rợn ấy
cũng chỉ do một động cơ chính
là hai chữ "oán thù"!
Hoàng-nhan-Bình
nghe nói có vẻ suy tư, trầm ngâm
đôi phút rồi nhớ tại
thực tại, tức
mình không
tự nhủ được, trợn
mắt nhìn Gia-luật-Tề thách lớn:
- Tôi hổ
thẹn tài hèn sức kém đã
ba lần đi báo thù cho song thân nhưng
đều thất bại,
chẳng muốn
sống làm gì nữa. Tại sao mi nhúng
tay vào cản ngăn tôi?
Gia-luật-Tề
mỉm cười nói bông đùa:
- Bây giờ
cô nương cứ tự cho mình
không đủ sức để trả
thù nữa thì tự nhiên ý
chí cũ
sẽ tiêu
tan hết.
Hoàng-nhan-Bình
uất hận quá nhưng không cử
động gì nữa, hét lên một
tiếng, đôi
mắt nhìn
Gia-luật-Tề trừng trừng như
muốn moi mật ăn gan.
Gia-luật-Tề
vội vàng quay cán đao giải huyệt
cho nàng.
Sở dĩ
chàng không dùng ngón tay mà lấy
đao giải huyệt cho Hoàng-nhan-Bình là
để
giữ cho
nàng không muốn trước mắt
mọi người sờ mó vào
mình một phụ nữ đang tê
liệt và
cũng là một lối để giữ
câu phương châm "nam nữ thọ
thọ bất tương thân".
Giải huyệt
xong rồi, chàng lễ phép hai tay cầm
thanh đoản đao trao trả.
Hoàng-nhan-Bình
do dự một hồi lâu mới đưa
tay tiếp nhận và điềm đạm
nói:
- Đã ba
lần công tử tha tội không giết,
lại đối đãi hết sức
tốt. Tôi đâu phải sắt đá
mà
không thấy
rõ điều ấy. Tuy nhiên mối
cựu thù giữa hai họ sâu hơn
biển, cao hơn núi,
không thể
vì chút cảm tình mà dẹp bỏ
đi được.
Gia-luật-Tề
cúi đầu suy nghĩ:
- Nàng có
một bản lãnh khá cao siêu mà
lúc nào cũng cương quyết phục
thù cho cha
mẹ. Chẳng
lẽ ta phải ở luôn bên cạnh
phụ thân để bảo vệ mãi
sao? Hay là bây giờ ta
tìm cách
khích nàng để quỵ hết mối
thâm thù ấy vào bản thân ta
cho yên chí.
Nghĩ như
vậy rồi chàng nói lớn:
- Tôi hết
sức thán phục lòng hiếu thảo
của cô nương, lúc nào cũng
quên mình để nghĩ
đến mối
thù của cha mẹ. Nhưng giữa thân
phụ của tôi đều là những
bậc tiền bối, phải
để cho
họ tự lo liệu, giải quyết cùng
nhau vì họ chịu trách nhiệm về
việc làm của họ.
Ngày nay cô
nương và tôi là phận làm
con, cùng vai vế, cùng địa vị
nh nhau. Vậy tôi
ước
mong rằng chúng ta sẽ cùng nhau thanh toán
món nợ máu. Cô nương nghĩ
sao?
Hoàng-nhan-Bình
chẳng suy nghĩ đáp ngay:
- Hiện nay tài
nghệ của ta còn thấp kém thua mi nhiều,
ta chưa phải là đối thủ của
mi.
Nếu muốn
như thế cũng được, nhưng
phải chờ một cơ hội khác
trong tương lai.
Nói xong nàng
xoay mình nhảy ra ngoài biến mất.
Gia-luật-Tề
thấy vậy ngại rằng nàng sẽ
phẫn chí đi tìm chết nên vội
vàng phi thân
đuổi theo
và kêu nói:
- Cô nương
họ Hoàng, cô nương quả là
con người quá nông nổi và
cạn tính. Hãy
ngừng lại,
tôi phân tỏ vài lời.
Hoàng-nhan-Bình
nghe nói dừng chân quay lại hỏi:
- Tại sao nhà
ngươi bảo ta là nông nổi?
Gia-luật-Tề
cả cười đáp rằng:
- Tôi cũng
đồng ý là hiện nay võ công
của tôi cao hơn cô một bậc. Nhưng
tại sao cô
nuơng không
chịu khó đi tìm một danh sư để
học hỏi thêm, chừng nào xét
có đủ bản
lãnh sẽ
tìm lại cùng tôi so tài rửa
hận? Chúng ta thảy đều trẻ tuổi,
thời gian còn dài
lắm, có
gì mà phải hấp tấp như vậy
kia.
Hoàng-nhan-Bình
lắng tai nghe cũng nhận là hữu
lý nên gật đầu tỏ vẻ
đồng ý.
Gia-luật-Tề
nói tiếp:
- Trong những
lần qua, tôi chỉ sử dụng một
cánh tay phải để đối phó
với cô nương.
Sau này tôi
nhất định chỉ dùng một cánh
tay ấy mà đối địch nữa.
Nếu tôi sai lời dùng
đến tay
trái, thì tôi nguyện sẽ chịu
chết bởi lưỡi gơm của
cô nương. Nói nh thế
không phải
tôi có ý tự phụ hay muốn
khinh miệt cô nương mà thật tình
vì tôi nghĩ,
nếu dùng
cả hai tay thì tánh mạng cô nương
khó nỗi bảo toàn. Vì tánh
thương người
nên tôi
đã đa ra lời cam kết ấy,
và tôi xin lấy danh dự để
bảo đảm không hề nói
ngoa.
Sở dĩ
Gia-luật-Tề đưa ý kiến này
ra là muốn Hoàng-nhan-Bình nuôi hy
vọng thắng
được
mình để bỏ ý định tự
tử đi. Chàng biết rằng sở
dĩ con người đi tự tử
vì đã quá
tuyệt vọng.
Nếu có hy vọng không khi nào họ
tự tử bao giờ.
Hoàng-nhan-Bình
nghe xong ngẫm nghĩ:
- Mi tự cho
mình tài cao hơn người nên
đã quá tự phụ nên ra điều
kiện ấy. Tự mi đã
buộc nợ
cho mi, chứ ta nào có biết.
Mi đã
thách như vậy, ta cũng bằng lòng
đi tìm thầy học thêm để
trở về đấu lại lần
nữa.
Nghĩ rồi
nàng gật đầu nói:
- Ta bằng lòng,
và mong ngươi phải giữ lời
đã hứa. Người quân
tử đã nói như dao
khắc cột,
không thể làm khác được
nữa.
Gia-luật-Tề
đáp:
- Gia-luật-Tề
này đã nói, dầu đến
chết vẫn không quên.
Hoàng-nhan-Bình
thở dài, đưa mắt rầu rầu
nhìn quanh một bận rồi phi thân biến
mất
trong bóng đêm.
Bọn thị
vệ thấy công tử đã tha
cho nàng rồi mới yên chí, quay
lại vấn an cụ cố
Tể-tướng.
Trong khi sự
việc xảy ra quá gây cấn nhưng
Gia-luật-Tấn thấy Dương-Qua vẫn
điềm
nhiên không
thi thố tài năng cũng lấy làm
ngạc nhiên lắm. Gia-luật-Yên hỏi
Gia-luật-Tề:
- Vì lẽ
gì mà anh cứ tha cho cô bé ấy
mãi như vậy.
Gia-luật-Tề
cười đáp:
- Nếu muốn
giết hắn thì lúc nào giết
cũng được cần gì phải
nôn nóng.
Gia-luật-Yên
mỉm cười ranh mãnh đáp:
- Có lẽ
anh muốn em gọi cô ta là chị dâu
chăng? Nếu có thể cứ nói
thật đi.
Gia-luật-Tề
nghiêm giọng nói:
- Em đừng
bông đùa nhàm nhở không
được.
Thấy anh đã
giận, Gia-luật-Yên không nói dỡn
nữa.
Dương-Qua
đứng ngoài cửa sổ đã
nghe rõ mọi việc, khi nghe Gia-luật-Yên
hỏi anh
muốn bảo
mình gọi là chị dâu thì nghĩ
rằng:
- Cô này
có ý nghĩ cũng ngộ nghĩnh lắm.
Gia-luật-Tề hành động có vẻ
quân tử đại
lượng
lắm. Nhưng hắn vẫn còn trẻ
tuổi nhiều tình cảm, đâu phải
nhà sư mà tránh khỏi
nanh vuốt của
ái tình.
Chàng nghĩ
càng mến phục Gia-luật-Tề, nhưng
sực nhớ lại khóe mắt của
Hoàng-nhan-Bình
lúc long lanh cảm động giống hệt
như đôi mắt đẹp của Cô
nương
Tiểu-long-Nữ.
Liên tưởng đến hai người
chàng cũng công nhận quả xứng
đôi vừa lứa.
Đang suy nghĩ
xa gần thình lình có một bóng
đen vụt bay từ nóc nhà phía
Đông qua
hướng
Tây Nam. Dương-Qua khẽ bảo Lục-vô-Song:
- Đứng
chờ đây một chốc. Tôi
đi có tý việc cần, sẽ về
ngay.
Lục-vô-Song
vội hỏi:
- Chuyện gì
vậy, ở đâu thế?
Chàng nín
thinh băng mình như làn khói, mờ
dần trong bóng đêm về hướng
Đông.
Bóng đen
ấy là Hoàng-nhan-Bình. Nàng có
bản lãnh và khinh công cũng khá,
nhưng
đối với
Dương-Qua đâu có nghĩa lý
gì. Vì vậy không bao lâu chàng
đã theo kịp và
thấy nàng
sà xuống một túp nhà nông
dân trong xóm.
Nàng tằng
hắng một tiếng rồi khoan thai bước
vào nhà. Dương-Qua cũng từ
từ hạ
xuống, nhè
nhẹ lướt theo sát gót, nhưng
nhờ tài khinh thân quá tinh dịu
nên
Hoàng-nhan-Bình
chẳng hề hay biết.
Khi bước
vào trong, Duơng-Qua đứng nấp
ngoài tường nghe ngóng.
Một chập
sau từ căn nhà gần bên có
ánh đèn le lói, trong đó
có tiếng thở dài vô cùng
não ruột.
Dương-Qua
cũng thấm thía với tiếng thở
dài căm hờn như nức nở
ấy nên bất giác
cũng thở
dài theo.
Hoàng-nhan-Bình
hình như nghe được tiếng thở
dài ấy, nên cả sợ, vội
vàng thổi tắt
ngọn đèn
trên bàn rồi rón rén bước
lại đặt tai vào vách tường
nghe ngóng.
Một chặp
sau vẫn thấy tư bề vắng lặng
như tờ, nàng khẽ hỏi:
- Ai đó?
Dương-Qua
cũng se sẽ đáp lại:
- Vì cảm
thông cùng cảnh ngộ đau lòng
nên tôi cũng thở dài để
trút bớt phần nào
phiền não
xin miễn chấp.
Thấy kẻ
này không có gì ác ý, Hoàng-nhan-Bình
vững bụng hỏi thêm:
- Xin cho biết
người là ai?
Dương-Qua
chậm rãi nói:
- Ngày xưa,
cổ nhân quyết chí báo thù
đến nỗi phải "nằm gai nếm
mật" hay "ăn than
sơn mình"
trải bao nhiêu gian khổ chẳng sờn
lòng. Lạ gì mới thất bại
một vài lần mà
cô nương
đã nản chí đâm ra tự
tử, không hổ thẹn với tiền
nhân ?
Nguyên ngày
ở Đào-Hoa-Đảo, được
Hoàng-Dung dạy văn, Dương-Qua có
đọc được
sách biết
Câu-Tiễn nằm gai nếm mật và
Dự-Nhượng sơn mình nuốt
than để nuôi ý chí
phục thù,
nên mới đem ra làm ví dụ
để nói chuyện cùng Hoàng-nhan-Bình
cho có
điển tích.
Thình lình
đèn sáng trưng, cửa phòng
mở rộng, Hoàng-nhan-Bình ló đầu
nhìn ra rồi
chắp tay vái
dài, lễ phép nói:
- Kính mời
các hạ bước vào trong nầy
cho tôi được hầu chuyện.
Khi Dương-Qua
bước vào phòng, dưới
ánh đèn dầu, Hoàng-nhan-Bình
thấy một thanh
niên mặt
mày xinh đẹp, y phục theo lối Mông-Cổ
thì rất ngạc nhiên, vội hỏi:
- Nghe những
lời các hạ vừa dạy thật
quả chí lý, vậy xin các hạ vui
lòng cho biết quý
danh quý tánh
để thỏa lòng ngưỡng mộ.
Dương-Qua
không đáp theo câu hỏi, đứng
thẳng người, vòng tay trước
ngực nói:
- Tên Gia-luật-Tề
thật là một đứa tự phụ
và khoác lác. Hắn dám xưng
chỉ dùng một
tay đánh
thắng cô được. Lối ấy
đâu có gì khác lạ mà
khoe khoang?
Hoàng-nhan-Bình
chưa hiểu Dương-Qua thuộc thành phần
nào, theo phe ai nên còn e
dè, chưa
dám tán thành hay phản đối.
Dương-Qua
nói tiếp:
- Tôi có
thể chỉ cần dạy cho cô vài thế
võ để buộc Gia-luật-Tề phải
sử dụng cả hai
tay. Nếu cô
chưa tin, cứ thử rồi biết.
Tôi cam đoan không dùng đến
thế thứ tư đâu.
Hoàng-nhan-Bình
vẫn ngạc nhiên và bỡ ngỡ
lắm. Nàng nghĩ bụng:
- Anh chàng này
là ai? Sao tự nhiên đến đây
chưng tài, hay có dụng ý gì đối
với mình
chăng?
Thấy nàng
còn do dự, Dơng-Qua nói tiếp:
- Nếu nàng
muốn thử thách để tin vào
lời nói của tôi, xin cứ
dùng gươm chém tôi đi
sẽ có
chứng minh cho mà xem. Nếu tôi nói
dóc bị chết bỏ mạng không oán
trách
được
ai.
Hoàng-nhan-Bình
nói:
- Khỏi cần
đấu gươm đao. Tôi chỉ cần
quyền chưởng để thử
sức thôi. Nếu các hạ né
tránh được
cũng đã cao siêu lắm rồi.
Dương-Qua
lắc đầu đáp:
- Không được
đâu. Cô phải dùng đao kiếm,
nếu không, thì đời nào
cô thấy được sự
thật để
phục tài tôi chứ?
Thấy người
này nói năng có vẻ thật tình
chứ không phải đùa cợt
hay phỉnh phờ,
Hoàng-nhan-Bình
nói:
- Nếu quả
vậy thì các hạ thật là một
kẻ tài ba xuất chúng, tôi không
bao giờ ngờ đến
một chuyện
như vậy được. Vậy xin các
hạ xem chừng ngay nhé.
Nói xong nàng
múa đao chém lia vào vai Dương-Qua
như bằm chuối.
Dương-Qua
thản nhiên khoanh tay đứng nhìn,
hình như không đếm xỉa gì
hết. Khi
lưỡi
đao sắp chạm vào da, chàng chỉ
lắt mình nhẹ một cái là tránh
được rất dễ dàng.
Hoàng-nhan-Bình
muốn chặt ngay vào đầu nhưng
vẫn do dự, vừa vung ra đã
thụt lại
ngay.
Dương-Qua
bảo:
- Cô cứ
chém thật tình đi, chớ ngại
ngùng gì hết.
Hoàng-nhan-Bình
nghĩ:
- Chẳng lẽ
y là yêu ma hay thần thánh gì mà
nói có vẻ lớn lối tài
tình quá vậy.
Nàng bặm
môi chém vút một đao thật mạnh,
định chặt đôi thân hình
chàng làm hai
đoạn.
Nhưng ánh
đao vừa vung lên, Dương-Qua hình
như đã đoán trước
bảo rằng:
- Với thế
đao ấy, tôi chỉ cần nằm rạp
xuống là chém hụt ngay, cô đừng
dùng ngón
này vô
ích.
Hoàng-nhan-Bình
đem hết tinh thần và sức lực
dồn vào cánh tay chém vù vù
khắp bốn
mặt, nhưng
Dương-Qua vẫn nhởn nhơ cứ
nghiên qua lật lại sơ sơ cũng đủ
tránh được
trong đường
tơ kẽ tóc.
Hoàng-nhan-Bình
thán phục quá, đang phân vân
chưa biết nên đổi cách nào
để chém
cho trúng thì
Dương-Qua đã bảo:
- Bây giờ
tôi đã rõ tài chém của
cô rồi. Nhưng tôi chưa biết tài
phóng đao của cô ra
sao, xin hãy
thi thố xem thử.
Hoàng-nhan-Bình
gật đầu, bước lui ra sau một
tý rồi vung tay phóng luôn lưỡi
điệp
đao bay thẳng
lại chàng như tên bắn. Dương-Qua
khẽ đưa tay bắt được,
thảy lại cho
nàng và
bảo:
- Hãy phóng
mạnh hơn xem thử.
Hoàng-nhan-Bình
khiếp quá, đứng nhìn trân,
chưa tin là sự thật.
Dương-Qua
nói tiếp:
- Thôi được
rồi, bây giờ đến phiên
tôi nhé. Cô cứ múa đao
cho kỹ và giữ gìn cẩn thận
đấy. Chỉ
trong ba ngón là tôi đoạt được
lưỡi đao ngay, cô giữ cách
nào cũng không
thể được.
Hoàng-nhan-Bình
tuy đã phục chàng quá sức
với những ngón vừa mới
thi thố, tuy
nhiên vẫn
chưa dám tin rằng chỉ trong ba thế mà
có thể tay không đoạt được
đao
mình.
Tay nắm chặt
cán đao, nàng bảo:
- Xin các hạ
xem đây!
Nói xong nàng
vung lên múa đao theo thế "Vân hoành
Tần Lĩnh" (mây bay trên đỉnh
non Tần) chém
phạt ngang một nhát. Dương-Qua khẽ
cúi đầu thấp xuống tránh
được,
thuận tay hất
nhẹ vào sống đao khiến con đao
rời ngay khỏi tay nàng, quay một vòng
kêu vo vo rồi
rớt trên mặt đất.
Hoàng-nhan-Bình
mất đao đứng ngẩn ngời
trố mắt nhìn chàng, phục quá!
Dương-Qua
mím miệng vận khí thổi phù một
hơi, thanh đao bay bổng lên rơi lại
gần
chân Hoàng-nhan-Bình
như người ta thổi một mảnh
giấy con.
Hoàng-nhan-Bình
chưa biết nói sao mặt mày ngơ
ngác suy nghĩ, bỗng Dương-Qua
cười
cười nói tiếp:
- Bây giờ
tôi cho cô nương xem lối ném đao
bằng môi, đỡ dao bằng lưỡi
nhé.
Vừa nói
xong chàng vận khí hút một cái,
thanh đao bay lên dính giữa đôi
môi rồi thổi
phù ra một
hơi, thanh đao bay vút lên trên cao
rồi từ từ rơi xuống. Chàng
thè lưỡi nhẹ
nhàng đỡ
lấy sống đao rồi ngậm chặt trên
miệng. Một lát chàng nhả đao
rơi xuống đất
rồi cười
hà hà nhìn nàng không nói
gì hết.
Hoàng-nhan-Bình
quá sức kinh ngạc, cảm phục sát
đất, miệng lẩm bẩm mãi:
- Trời!
Quả thật là lạ lùng, kỳ diệu
quá sức.
|