THẦN
ĐIÊU ĐẠI HIỆP - HỒI 15
Thiên
La địa võng:
thế
nhập môn của phái cổ-mộ
Kim Dung
Tiểu-long-Nữ
dẫn Duơng-Qua đến một căn phòng
nhỏ xây toàn bằng đá. Mở
cửa
buớc vào
trong thấy phòng vừa chật vừa
thấp, phải đi cẩn thận để
khỏi va chạm. Nóc
nhà cũng
toàn bằng đá. Dương-Qua đi
theo, lòng hồi hộp nghĩ chắc phòng
này thế
nào cũng
có nhốt một tên Đạo sĩ
của phái Toàn-Chân. Một chập
sau nhìn không thấy
gì hết,
Dương-Qua hỏi:
- Thưa cô
nương, người Đạo sĩ nhốt
chỗ nào rồi?
- Tại sao lại
hỏi như vậy, làm gì có Đạo
sĩ!
- Thế không
phải cô đã bắt Đạo sĩ
đem về đây để luyện võ
cho tôi sao?
Tiểu-long-Nữ
mỉm cười chỉ vào trong và
nói:
- Ta nào có
bắt Đạo sĩ, mà chỉ tìm
thứ này cho ngươi thôi, tý
nữa sẽ thấy.
Nói xong, nàng
bước thêm vài bước
rồi cúi lom khom lấy một cái túi
vải đặt tại góc
phòng, hí
hoáy mở nút. Bỗng có tiếng
vỗ cánh, ba con chim sẻ vụt bay ra.
Dương-Qua
vừa ngạc nhiên vừa thích
thú nhưng chưa dám hỏi, tự
nghĩ:
- Chẳng lẽ
nào cô nương xuất mộ đài
để bắt chim sẻ ?
Tiểu-long-Nữ
bảo Dương-Qua tìm cách bắt lại
ba con chim sẻ ấy cho nàng, nhưng
không được
làm chúng bị thương tích lũy
rụng lông.
Tưởng
dễ ăn, Dương-Qua vội đáp:
- Vâng tôi
sẽ bắt được liền!
Nhưng sự
thật đâu phải dễ. Chim sẻ vừa
nhỏ vừa lanh lẹ, bay nhảy lung tung từ
đông
sang tây, từ
cao xuống thấp. Dương-Qua chụp mãi
mồ hôi nhễ nhại, hơi thở
hồng hộc
vẫn không
chụp đợc con nào, phải đứng
thẫn thờ nhìn theo, mặt có vẻ
bẽn lẽn.
Tiểu-long-Nữ
mỉm cười bảo nếu không bắt
được, nàng sẽ dạy phương
pháp. Lúc đầu
nàng dạy
lối đứng trên cao nhảy xuống
để chụp.
Có tánh
thông minh sẵn, Dương-Qua dư hiểu nàng
lợi dụng lối bắt chim sẻ để
luyện
võ cho mình,
nên nó chăm chú nghe và để
ý bắt chước làm theo y như
lời dạy.
Nói thì
dễ, nhưng đưa ra làm thật quả
là khó. Tuy nhiên sau khi chỉ bảo kỹ,
nàng dặn
thêm phải
bền chí và cố gắng tập thành
thuộc rồi bỏ đi ra ngoài ngay.
Suốt ngày
hôm ấy, Dương-Qua mệt nhoài người
không bắt được con nào.
Chiều đến
cơm nước
xong, Dương-Qua lại lên giường
lạnh luyện nội công và ngủ.
Suốt ngày
hôm sau và ba bốn hôm nữa vẫn
chưa bắt được con nào hết.
Nó đổi cách
nhảy, lối
rình và chụp nhưng không kết quả,
lòng vừa buồn vừa chán
nhưng vẫn cố
gắng tiếp
tục.
Mãi đến
ngày thứ năm nó mới vồ
được một con. Nó hân hoan
cầm con sẻ đến trình
với Tiểu-long-Nữ,
nhưng nàng chỉ lạnh lùng bảo:
- Một con thì
được tích sự gì đâu?
Phải bắt cho được ba con.
Dương-Qua
nghĩ hễ bắt một con rồi thì
ba con bắt chẳng khó gì. Nhưng suốt
hai ngày
sau vẫn không
bắt được con nào nữa.
Thấy ba con sẻ
đã đói và mệt nhiều
nên Tiểu-long-Nữ đem gạo vào
cho chúng ăn rồi
thả bay mất.
Đoạn nàng tìm bắt ba con khác
vào thả trong phòng cho Dương-Qua tập
nữa.
Mãi đến
ngày thứ tám, Dương-Qua mới
bắt được cả ba con sẻ. Thấy
nó bắt đã thuần
thục, nàng
bảo:
- Thôi được
rồi! Bây giờ đi theo ta tới
Trùng-Dương cung.
Dương-Qua
ngạc nhiên quá, vội hỏi:
- Theo cô, đến
đó để làm gì?
Nàng không
trả lời, chỉ rảo bước
đi ra, nó vội vàng chạy theo.
Sau mấy ngày
luyện tập trên giường hàn
ngọc và bắt sẻ, Dương-Qua thấy
đã tiến bộ
nhiều. Bước
đi nhẹ nhàng thoăn thoắt, mạnh
và chắc chắn hơn trước.
Đến gần
Trùng-Dương-cung, Tiểu-long-Nữ lớn
tiếng gọi:
- Triệu-chí-Kính
đâu, ra đây mau!
Tiếng nói
lanh lảnh vọng đi rất xa và rõ
mồn một. Một chập sau cửa
Trùng-Dương-cung
mở rộng, có mười đạo
sĩ đi ra. Hai người đi đâu
dìu
Triệu-chí-Kính
đi chầm chậm, bước từng
bước một, vẻ mặt bơ phờ
mệt nhọc, mắt
thâm quầng,
da mét xanh, chân run lẩy bẩy.
Vừa trông
thấy hai người đến gần
các đạo sĩ đã rút kiếm
hờm sẵn, nét mặt hầm hầm.
Tiểu-long-Nữ
rút bọc lấy một bình nhỏ bằng
sứ đưa cho Dương-Qua bảo lớn:
- Mi đưa
bình này cho Triệu-chí-Kính, đấy
là mật ong trắng, dùng làm thuốc
chữa
nọc độc
đấy.
Nhìn thấy
mặt Triệu-chí-Kính, Dương-Qua cảm
thấy oán hận tràn trề, máu
nóng xông
lên, chỉ
muốn túm lấy đánh cho đã
giận. Nhưng không dám làm phật
ý cô nương
trước
mặt người lạ, nó lẳng lặng
tiếp lấy bình mật, nhanh nhẹn đem
giao cho
Triệu-chí-Kính.
Tất cả
các người của Trùng-Dương-cung
đoán chắc Tiểu-long-Nữ đến
đánh để phục
hận và
trả thù cho Tôn bà, nhưng không
ngờ nàng lại đem mật đến
để cứu
Triệu-chí-Kính,
cho nên ngạc nhiên đứng ngẩn
người không biết nói năng
làm sao.
Đặt bình
mật trước mặt Triệu-chí-Kính
xong, Dương-Qua liếc nhìn y với
cặp mắt
khinh bỉ rồi
lầm lũi chạy trở lại.
Vừa nhìn
thấy Dương-Qua, Tỉnh-Quang giận sôi
không dằn nổi, ở trong đám
đông
bước
ra quát lớn:
- Thằng nhắt
con, đã đến trước cửa
thầy, tại sao còn bỏ chạy?
Nói xong hắn
nhảy xổ theo Dương-Qua cố đánh
cho được để trả mối
thù trước kia bị
Dương-Qua
dùng "Hàm mô công" đánh gần
chết, may nhờ Mã-Ngọc cứu
thoát.
Tiểu-long-Nữ
khẽ dặn:
- Hôm nay ngươi
không được ra tay đánh đập
đấy nhé!
Dương-Qua
đang chạy bỗng nghe tiếng chân phía
sau và thoáng một luồng gió lộng
như có bàn
tay chộp trên lưng.
Nhờ bao
nhiêu ngày luyện công trên giường
hàn thạch và tập bắt sẻ là
những phương
pháp tối
điệu riêng biệt của phái Cổ
Mộ đài, Dương-Qua đã thấy
tiến bộ nhiều và chủ
động được
ý muốn, cử chỉ mình. Nó
bình tĩnh ngồi sụp xuống, đưa
tay khẽ đẩy một
bên, Tỉnh-Quang
đang hăm hở chạy đến, bất
ngờ lại bị nó đẩy ngang
một cái mất
thăng bằng,
té lăng đùng như trời
giáng.
Khi lóp ngóp
đứng dậy được thì
thấy Dương-Qua đã đến
bên cạnh Tiểu-long-Nữ rồi.
Tỉnh-Quang tức
cành hông, la hét om sòm, toan chạy
đến đánh nữa, nhưng bỗng
một
đạo sĩ
xông đến khóa cánh tay hắn
lôi về hàng cũ. Tỉnh-Quang cảm
thấy cánh tay tê
buốt, toàn
thân cứng đờ không cưỡng
nổi, phải riu ríu bước đi
và ngó lại thấy đó là
sư
thúc Doãn-chí-Bình.
Doãn-chí-Bình
mắng thêm mấy câu rồi đuổi
hắn ra phía sau đám đông.
Doãn-chí-Bình
lễ phép bước tới nói:
- Đa tạ
cô nương đã có lòng tốt
đem thuốc cho chữa bệnh.
Nói xong cúi
đầu làm lễ.
Tiểu-long-Nữ
không đáp lễ chỉ nắm tay Dương-Qua
bảo:
- Thôi, chúng
ta về!
Doãn-chí-Bình
nói thêm:
- Dương-Qua
là đệ tử của phái Toàn-Chân,
cô nương định chiếm bắt
nó hay sao?
Nàng lạnh
lùng đáp:
- Tôi không
thích nhiều lời.
Nói xong nàng
kéo Dương-Qua thoăn thoắt trở
về Cổ Mộ đài. Tất cả
các đạo sĩ chỉ
biết ngẩn
người nhìn theo cho đến khi hai
người đi khuất vào rặng
cây rừng đàng xa.
Về đến
Cổ Mộ đài Tiểu-long-Nữ
bảo Dương-Qua:
- Võ công
của mi có mòi tiến bộ hơn trước
chút ít, nhưng lối đánh tên
đạo sĩ mập té
như thế
chưa phải cách chút nào.
Dương-Qua
lễ phép thưa:
- Thưa cô
nương, tên đạo sĩ ấy đã
từng đánh tôi bị thương
nặng, tiếc rằng cô nương đã
ra lệnh nên
hôm nay tôi chưa được cơ
hội đánh trả thù cho hả dạ.
Nhưng thưa cô
nương, vì
sao tôi không được đánh
hắn?
Tiểu-long-Nữ
bắt đầu đáp:
- Không phải
là mi không được đánh
hắn, nhng ta thấy võ nghệ mi còn
non kém,
chưa muốn
cho thi thố trước mặt người.
Lối đánh ngã sấp không phải
cách. Cần đánh
cho hắn ngã
ngửa mới được.
Dương-Qua
mừng rỡ hỏi ngay:
- Thưa cô
nương, làm sao đánh được
như thế, cô nương dạy tôi nhé!
Tiểu-long-Nữ
bảo Dương-Qua giả làm lão đạo
sĩ mập còn mình giả làm Dương-Qua.
Nàng vừa
nói chuyện vừa chầm chậm đi
tới.
Dương-Qua
thích chí tiến tới toan chụp
lấy Tiểu-long-Nữ. Nhưng Tiểu-long-Nữ
hình
như nhìn
thấy phía sau cho nên hễ nó đuổi
mau thì nàng bước mau, nó đuổi
chậm thì
nàng bước
chậm lúc nào khoảng cách giữa
hai người cũng độ một thước.
Dương-Qua
vừa cười vừa nói lớn:
- Tôi bắt
cô nương đây nè
Nói xong nó
lạc mình về phía trước,
hai tay ôm choàng ngang eo ếch nàng.
Tiểu-long-Nữ
vẫn điềm nhiên không tránh
né, chờ khi tay Dương-Qua đến
gần sát,
nàng dùng
vai hất vào hàm nó. Dương-Qua
bị một sức mạnh đẩy mạnh
về phía sau
loạng choạng
mất thăng bằng. Nàng tiếp luôn
dùng tay đánh vào hai tay nó để
nó
khỏi băm
vào lôi nàng ngã theo.
Cả đầu
và lưng ngã về sau, hai tay không chống
đỡ được. Dương-Qua
bị ngã bật
xuống, toàn
thân ê ẩm.
Tiểu-long-Nữ
cầm tay mặt của nó kéo đứng
dậy.
Dương-Qua
mừng rỡ nói rối rít:
- Cô nương
tài tình quá, lối đánh thật
tuyệt diệu.
- Mi cố tập
bắt sẻ cho thuần thục, tự nhiên
sẽ biết những thế đánh
hay ho như vừa rồi.
- Tôi đã
tập bắt được rồi cơ
mà.
Nàng mỉm
cười nói:
- ồ, thế
đã ra gì mà gọi là bắt
được rồi! Nếu vậy, hóa
ra võ thuật của phái ta dễ dàng
quá sao?
Dương-Qua
không dám nói nhiều, chỉ đứng
lặng yên. Thấy nó im lặng tỏ
vẻ phục
thiện, nàng
đưa tay bảo:
- Thôi, đi
theo ta.
Dương-Qua
ngoan ngoãn bước theo. Hai người
đi đến một căn phòng đá
khác. Phòng
này rộng
hơn phòng trước, có nhốt
sẵn sáu con chim sẻ. Phòng lớn,
sẻ lại nhiều hơn,
bắt được
chúng không phải dễ. Nhưng nhờ
được Tiểu-long-Nữ chỉ
cách bắt có qui củ
và truyền
thụ thuật khinh công nên sau chín ngày
tập luyện, Dương-Qua đã bắt
được
trọn sáu
con sẻ.
Cứ như
thế tiếp tục, những phòng sau
càng rộng hơn, số chim lại tăng
thêm nữa, cuối
cùng đến
nhà đại sảnh, số chim sẻ tăng
đến 81 con.
Ngày bắt
sẻ, đêm nằm luyện công trên
hàn thạch, sắc diện của Dương-Qua
có mòi
hưng vợng
thêm, da mặt hồng hào, sức lực
tăng tiến rõ rệt. Ba tháng sau nó
đã bắt
luôn một
lúc cả 81 con sẻ.
Thấy nó
tập luyện tiến bộ nhiều, Tiểu-long-Nữ
mừng rỡ lắm. Một ngày
kia nàng bảo:
- Hôm nay chúng
ta xuất mộ tìm bắt nữa.
Suốt ba tháng
liền cầm chân trong Mộ đài,
nay được đi ra ngoài thật
không có gì đáng
mừng hơn
nữa, nên Dương-Qua cuống quít
vâng dạ luôn mồm.
Tiểu-long-Nữ
bảo:
- Có gì
mà cuống quít như thế! Lối
tập luyện này không thể vội vàng
hấp tấp được.
Phải làm
thế nào cho cả 81 con sẻ không bay
thoát được.
Nói xong nàng
bắt cả 81 con nhốt vào một cái
túi xách đi ra khỏi Mộ đài.
Lúc này
đã bước qua thượng tuần
tháng ba, khí trời mát mẻ,
cây cối đua nhau đâm
chồi nẩy
lộc đầy nhựa sống. Hoa rừng
nở khắp nơi, bướm lợn
từng đoàn, phơi màu
sắc rực
rỡ tưng bừng.
Nhìn cảnh
vật ngày cuối xuân, ngửi mùi
hoa rừng ngào ngạt, Dương-Qua cảm
thấy
cõi lòng
rạo rực như một luồng sinh khí
mới chạy khắp huyết quản, tâm
hồn thơ thới
hân hoan.
Tiểu-long-Nữ
tháo dây cột túi vải cho bầy
sẻ cất cánh tung bay. Nàng lấy tay
gạn
giúp chúng
bay ra từng đàn theo thứ lớp
khỏi xô đẩy nhau. Vừa được
tự do, 81 con sẻ
mặc tình
vỗ cánh bay tứ hướng.
Nhưng nàng
vận khí chuyển nơi tay, dang rộng hai tay
một vòng lưới bủa. Lạ thay,
cả
81 con sẻ hình
như bị một lực gì bao phủ không
thoát đi xa được, chỉ quanh
quẩn
quanh nàng chừng
non một thước.
Đoạn nàng
vung tay xoay múa một hồi, chưởng
lực từ ngón tay chuyển đi
chia thành
81 luồng điện
lực cho 81 con chim, hút chúng lại gần,
không con nào chạy thoát.
Nàng túm
từng con bỏ vào túi.
Dương-Qua
trân trối nhìn, lòng lạ lùng
say mê vừa nể vừa kinh ngạc.
Nó muốn
hỏi, nhưng bỗng nghĩ bụng "cô nương
đã dạy ta luyện công tập võ,
ta cần
chú tâm
theo dõi để ghi lòng tạc dạ từng
cử chỉ, từng điệu bộ
để thấm nhuần mà tập
luyện.
Nó chăm
chú ngưng thần theo dõi từ lối
vận chuyển xuất động nội công
từ động tác
một, thật
là phân minh rành mạch vô cùng
linh động, kỳ diệu.
Nhờ khiếu
thông minh thiên phú, nó hiểu rõ
rành và ghi nhớ nằm lòng
để sau tập lại.
Giữ chúng
một chập, nàng thu hồi dưỡng
lực, phóng tay cho chúng được
tự do như
mở trói,
81 con chim sẻ được tự do vỗ
cánh tung trời bay bổng.
Nhưng nàng
múa hai vạt áo, gây thành sức
gió, hút cả bầy chim sẻ cách
rơi xuống đất,
chim kêu chíp
chíp rối rít. Mãi một chập sau
chúng mới bay trở lại được.
Dương-Qua
vô cùng thán phục bản lĩnh cực
kỳ siêu việt và lối tập luyện
kỳ lạ của
nàng, kéo
vạt áo Tiểu-long-Nữ và nói:
- Cô nương,
tôi thấy bác Quách-Tỉnh còn
kém cô nương xa, vì bác ấy
không có lối
luyện công
này.
Nàng mỉm
cười nhìn thẳng vào mắt
nó ôn tồn nói:
- Lối xuất
nội công này gọi là "Thiên la
địa võng thế", một bài nhập
môn của phía
Cổ-mộ đài
của chúng ta đó. Mi cố sức
mà luyện tập cho được nhé.
Nàng tuần
tự chỉ vẽ cho nó từng cách
tập, biết từng đường
xuất nhân điện lực tích tụ
ở
đơn điền
ra ngón tay, cả thảy 10 đường,
mỗi đường có một động
tác khác nhau.
Sau đó,
liên tiếp mười ngày trọn,
Dương-Qua lần lượt học hết
một bài thế "Thiên la
địa võng".
Tiểu-long-Nữ
khi thấy Dương-Qua tập luyện đã
thuần thục, nàng đưa ra một con
sẻ và
tập cho Dương-Qua
biết cách dùng điện lực
kìm chế không cho nó bay thoát, nàng
dạy cách
điện dụng đúng phép, chuyển
ra đầu ngón tay để cho chim không
bay,
không nhúc
nhích được. Lúc đầu
Dương-Qua giữ được một
giây, nhưng vì yếu sức, sơ
hở, chim
sẻ thừa cơ đã bay mất.
Tiểu-long-Nữ dùng phép xuất
nội công ra bắt trở lại.
Ngày ngày
lần lượt trôi qua, việc tập
luyện vẫn được tiếp tục.
Dương-Qua luyện nội
công đến
lối vận dụng ra ngoài thành chưởng
lực, không kể sớm tối, ngày
đêm, gió
mưa, nóng
rét.
Qua hạ sang xuân,
thấm thoắt Dương-Qua đã lớn
như thổi. Từ một chú bé
nay đã
thành một
thiếu niên, thân hình vạm vỡ,
tiếng nói sang sảng, gương mặt
đẹp thanh tú,
không còn
giống ngày nào trong Cổ Mộ đài.
Nhờ sự
tập luyện đúng cách, sức
khỏe dồi dào, lối đi đứng
vững vàng, da đỏ hồng
hào, hơn
nữa một phần nhờ thiên
tư đĩnh ngộ và Tiểu-long-Nữ
tận tình dạy bảo nên
bản lĩnh
tăng tiến rất mau.
Cuối thu, dượt
tập thuần thục các thế "Thiên
la địa võng", chưởng pháp
của
Dương-Qua
trở nên thâm hậu vững vàng,
phát xuất mau lẹ, có thể sử
dụng kìm chế
được
81 con chim sẻ, mặc dầu đôi lúc
sơ hở vẫn còn để một
vài con bay thoát.
Một buổi
sáng, Tiểu-long-Nữ bảo Dương-Qua:
- Đến
nay chưởng lực và nội công
của mi đã tiến bộ nhiều. So
với nhiều người trong
giới võ
lâm, chưa chắc mấy ai đối địch
nổi. Bây giờ mi hãy tìm tên
đạo sĩ mập ngày
nọ khiêu
khích hắn đấu một trận xem thử
sức lực ra sao.
Nghe nói, Dương-Qua
nh cởi mở tấm lòng, tự
thấy như lớn hơn trước
nhiều. Nó hân
hoan hỏi:
- Thưa cô
nương, có phải cô nương muốn
tôi đấu với tên Triệu-chí-Kính
hay không?
Vốn biết
rõ Triệu-chí-Kính là một cao
thủ có hạng, thuộc hàng đệ
tam đệ tứ của
Toàn-Chân
phái, đã từng nổi tiếng
trên giang hồ, so với hắn tài
nghệ của Dương-Qua
còn thua kém
xa, nên nàng lặng yên không trả
lời.
Thấy Tiểu-long-Nữ
làm thinh không đáp, Dương-Qua
biết ý vội hỏi:
- Thưa cô
nương, tôi chắc chưa đủ sức
đấu với hắn. Thôi tôi
cố gắng luyện tập ít năm
nữa chẳng
muộn gì. Chừng nào võ nghệ
vượt được hắn sẽ
tính sau. Thưa cô nương võ
nghệ của
phái Cổ Mộ đài tài hơn
hẳn bên Toàn-Chân nhiều phải
không?
Tiểu-long-Nữ
đưa mắt nhìn tấm đá gắn
trên nóc nhà có khắc chữ
và nói:
- Lời nói
tiên tri khắc trên đá này
cho biết ta và mi có thể tin nhau được.
Trước đây ta
có đấu
với lão đạo sĩ họ Khưu
bên Toàn-Chân thì quả võ nghệ
ta còn kém hắn. Nhưng
như thế
đâu phải là phái ta thua môn
phái Toàn-Chân. Chẳng qua vì ta chưa
luyện
được
đến chỗ tuyệt diệu của võ
thuật Cổ-Mộ đài. Nghe Tiểu-long-Nữ
bảo
Khưu-xứ-Cơ
hơn nàng; Dương-Qua không được
hài lòng vội hỏi tiếp:
- Thưa cô
nương chỗ tuyệt diệu ấy là
gì cô đã bắt đầu tập
chưa và đã đến mức
nào
rồi?
- Bây giờ
mi đã nhận ta là thầy trước
bàn thờ Tổ sư phu nhân thì
ta cũng có thể kể cho
mi nghe một ít
lai lịch về người. Tổ sư
vốn họ Lâm tên gọi Triều-Anh
đã nổi danh
trên võ
lâm nên cách bảy mươi năm
về trước giới giang hồ
đã có câu:
Nam Lâm Bắc
Vương
Bà lại
hơn ông
Nam-Lâm tức
là tổ sư phu nhân của ta quê ở
Quảng-Tây, Bắc-Vương là
Vương-trùng-Dương
quê ở Sơn-Đông.
Trong thời
bấy giờ hai vị là người
giỏi nhất trong hạng võ nghệ cao cường,
khó mà
phân biệt
ai hơn ai kém. Sau này vì phải lo khởi
nghĩa đánh giặc Kim nên
Vương-trùng-Dương
phải gác việc tập luyện để
lo việc nước. Trong lúc đó
tổ sư phu
nhân vẫn
tiếp tục trau dồi bản lĩnh. Như
thế đương nhiên phải vượt
hẳn
Vương-trùng-Dương
một bực, nghĩa là bà đã
thắng ông.
Sau này vì
thất bại trong việc lớn, Vương-trùng-Dương
phẫn chí lui về trong Cổ Mộ
này để
trau dồi lại võ nghệ.
Khi ấy tổ
sư phu nhân lại xuất bước
giang hồ làm việc nghĩa và có
dụng ý chờ đợi
Vương-trùng-Dương
hạ sơn lần nữa. Một thời
gian dài trôi qua hai người không
hề
gặp nhau. Sau đó
không hiểu vì một lẽ gì bất
hòa cả hai đánh cá với
nhau và đấu võ.
Vương-trùng-Dương
thua nên nhường Cổ-Mộ đài
cho phu nhân. Ta sẽ đưa mi đi coi
để thấy
các di tích của hai vị tiền bối
ấy.
Tất cả
các nơi trong Cổ-Mộ đài đều
kiến trúc bằng đá. Không
hiểu các vị đã dùng
cách nào
xây dựng nên.
Ngay sau đó,
Tiểu-long-Nữ dẫn Dương-Qua đến
một căn nhà kiến trúc thật lạ
lùng.
Bên ngoài
hẹp, bên trong rộng hình như cái
thang, phía đông có một khoảnh
hình bán
nguyệt và
phía tây một khoảnh hình tam giác.
Thấy lạ
lùng quá, Dương-Qua hỏi:
- Thưa cô
nương, tại đây kiến trúc
sao kỳ lạ thế này?
Tiểu-long-Nữ
đáp:
- Chính đây
là nơi Vương-trùng-Dương dùng
để luyện võ. Phía trước
hẹp để xuất
chưởng
lực tập trung, phía sau rộng để
sử dụng quyền thuật, bên khoảnh
tròn để sử
dụng bát
xà mâu. Dương-Qua chạy tung tăng
khắp nơi nhìn kỹ và nhận thấy
đây quả
là một
cung đài vừa sâu vừa cao.
Nhưng Tiểu-long-Nữ đưa tay trở
lên trên mà bảo
rằng:
- Nơi đây
thể hiện tất cả những cái
tinh túy ảo diệu nhất của võ
nghệ mà
Vương-trùng-Dương
đã ghi chép.
Nhìn theo ngón
tay của Tiểu-long-Nữ, Dương-Qua nhận
thấy có khắc sâu vào đá
những nét
ngòng ngoèo như chữ bùa hay hình
chữ cổ tự, chỗ sâu chỗ
cạn, nét nào
cũng rõ
ràng tinh xảo, diễn tả sự linh
động của sự kỳ diệu tinh vi.
Bước
qua một bên, Tiểu-long-Nữ khép
một cánh cung thì thấy một cánh
cửa đá từ từ
mở rộng.
Nàng đốt một cây đèn
cầy soi đường và nắm
tay Dương-Qua dắt vào.
ở đây
cũng có một căn phòng nữa
bằng phòng bên kia, xây toàn bằng
đá, phía trước
rộng, phía
Tây tròn và phía Đông hình
ba góc.
Nhìn kỹ
trên nóc đá, Dương-Qua cũng
trông thấy những nét chữ
và dấu hiệu khắc sâu
diễn tả
những phù chú và có nơi
chạm hình người.
Tiểu-long-Nữ
nói:
- Chốn này
thì chép lại tất cả những
linh diệu kỳ ảo của vũ thuật
của tổ sư phu nhân.
Xa kia Tổ sư
phu nhân chiếm lại tòa Cổ-Mộ
của Vương-trùng-Dương không
phải vì
tài nghệ
mà nhờ xảo kế. Thật ra bản
lãnh của người so với Vương-trùng-Dương
vẫn
còn thua sút.
Nhưng suốt bao nhiêu năm sống ẩn
dật tại đây, người đã
khổ tâm nghiên
cứu tất
cả những tinh diệu đã học
phối hợp với võ nghệ của
Vương-trùng-Dương rồi
sáng chế
ra được một pho võ công hết
sức tinh vi. Tất cả nhưng thế
độc đáo của người
đều có
ghi khắc vào đây để lưu
hậu thế.
Nghe nàng kể,
Dương-Qua vừa mừng vừa
kỳ lạ, nên khi Tiểu-long-Nữ dứt
lời nói đã
nói ngay:
- Thưa cô
nương, như vậy thật là lạ lùng
đáng phục thật. Bọn Khưu-xứ-Cơ,
Xích-đại-Thông
và bọn bên phái Toàn-Chân dẫu
có tài giỏi bất quá cũng
như
Vương-trùng-Dương
là cùng. Pho võ công này tổ
sư phu nhân đã dùng cả võ
thuật của
hai người
chế biến thêm ra thì quả đã
đều một mức cao diệu hơn
rồi. Nếu cô nương
luyện xong các
ngón này, chắc chắn sẽ thắng
được bọn họ dễ dàng
như bỡn.
Tiểu-long-Nữ
nói:
- Đúng
đấy, nhưng chỉ tiếc ta không có
người phụ giúp.
Dương-Qua
đáp ngay:
- Tôi xin lãnh
phần ấy.
Tiểu-long-Nữ
điềm tĩnh nhìn nó rồi bảo:
- Mi không làm
đuợc việc ấy đâu.
Dương-Qua
cụt hứng và bẽn lẽn đỏ
mặt làm thinh nhìn nơi khác.
Tiểu-long-Nữ
giải thích thêm:
- Môn võ
thuật nầy Tổ sư phu nhân đặt
tên là "Ngọc-Nữ Tâm-Kinh". Luyện
môn nầy
cần phải
có hai người để hòa hợp
công lực và phù trợ lẫn
nhau mới có kết quả. Xưa
kia Tổ sư
phu nhân đã có dạy cho ta với
một người nữa gần đến
mức thành công.
Dương-Qua
bỗng nghĩ được một cách
để chữa thẹn và để
tâng bốc Tiểu-long-Nữ:
- Tôi là
học trò của cô, chắc có thể
luyện với cô được chứ?
Tiểu-long-Nữ
trầm ngâm một chập đoạn đáp
nho nhỏ:
- Cũng được,
để ta thử xem đã. Bây giờ
mi cần luyện cho biết tất cả các
môn võ công
của môn
phái cho thành thuộc để gây
của một nền tảng căn bản vững
chắc, sau đó
mới học
đến các ngón võ Toàn-Chân
phái. Khi ta nhận thấy có đủ
điều kiện sẽ cho
luyện "Ngọc-nữ
Tâm-kinh".
Từ đó
trở đi, ngày ngày Tiểu-long-Nữ
truyền thụ cho Dương-Qua tất cả
các môn
quyền thuật,
chưởng thuật, cách sử dụng
đủ loại binh khí, ám khí của
Cổ Mộ đài.
Một năm
trôi qua, nàng tận tình dạy bảo
từ lý thuyết đến thực
hành. Thời gian tuy
ngắn, nhưng
nhờ đêm đêm Dương-Qua
luyện nội công trên giường
hàn thạch, mức
tiến bộ
nhanh chóng lạ thường, hơn nữa
vốn nhờ bản chất thông minh
lanh lợi, nghe ít
hiểu nhiều,
nên bản lãnh cũng có thể ngang
với người thường khổ
luyện năm bảy
năm.
Võ nghệ
của phái Cổ-Mộ đài đã
bốn đời truyền thụ, từ
người sáng lập cho đến
các đệ
tử nối
tiếp đều là đàn bà,
cho nên bản chất nặng về phụ
nữ, mềm yếu linh động, ẻo
lả,
tuy đẹp
mắt nhưng thiếu tính chất sâu
sắc, cường dũng. Dương-Qua
bình sinh phù táo,
khinh động
nên rất hợp với môn pháp
này.
Thời gian
qua, Tiểu-long-Nữ ngày càng lớn
thêm, càng đẹp, mỹ miều. Nhan
sắc nàng
càng lộng
lẫy, duyên dáng, từ thân mình
tuyệt mỹ do công phu khổ luyện, đến
nước
da trắng mịn
nh tuyết khuôn mặt sáng rỡ,
đôi mắt đen láy, đẹp
vô ngần.
Năm ấy,
Dương-Qua cũng được 16 tuổi,
nó đã thành một thiếu niên
đẹp trai, thân
hình cân
đối, bề cao đã bằng sư
phụ rồi? Tuy nhiên Tiểu-long-Nữ
xem nó như con
nít, nên
không e ngại gì về vấn đề
nam nữ gần nhau.
Hai thầy trò
chung sống với nhau, ngày càng thắm
thiết. Tiểu-long-Nữ thương mến
tánh ngoan ngoãn,
khéo léo và siêng năng của
Duơng-Qua. Đối với sư phụ,
Dương-Qua
luôn luôn tỏ lòng kính mến,
trọng vọng không bao giờ làm trái
ý thầy.
Dương-Qua
còn khéo léo tìm hiểu tánh
ý của thầy để chiều chuộng.
Gặp việc gì
Tiểu-long-Nữ
không bằng lòng thì dù có
muốn hết sức nó cũng không
dám nói ra lời,
lắm khi còn
tìm lời biện bác bào chữa
bênh vực quan niệm của nàng nữa.
Vốn có
bản chất lãnh đạm từ ngày
tấm bé, Tiểu-long-Nữ lúc nào
cũng có vẻ lạnh
lùng, ít
khi để ý hay bàn cãi nhiều.
Mỗi khi nghe Dương-Qua bàn luận nàng
thường
làm thinh. Đã
từng quen với tánh ý ấy
rồi, nên Dương-Qua không còn nhận
thấy nữa,
vì vậy nên
trong sự giao thiệp hàng ngày không
hề có sự bất mãn hay phiền
lòng.
Một ngày
kia Tiểu-long-Nữ bảo Dương-Qua:
- Đến
nay mi đã học hết môn võ của
phái Cổ Mộ đài, mai đây
ta sẽ luyện cho mi các
môn võ
của phái Toàn-Chân.
Qua nhiều ngày
sau, Tiểu-long-Nữ cứ dựa theo
các dấu hiệu chỉ dẫn trên phiến
đá để
giảng dạy
cho Dương-Qua. Nhưng phù chú văn
tự, hình vẽ kỳ lạ đều
do
Vương-trùng-Dương
dùng mũi kiếm khắc sâu vào
đá trên xà nhà.
Lâm triều
Anh và Vương-trùng-Dương vốn
là hai bạn chí thân đã từng
am thạo vũ
thuật bản
lãnh của nhau.
Võ thuật
của Vương-trùng-Dương đã
cao siêu rồi. Lâm-triều-Anh còn dùng
nó để
biến chế
thêm nữa, cao siêu hơn, và thích
hợp với bản chất của phụ
nữ hơn.
Triều-Anh tự
luyện thật tinh thục, truyền lại cho A-Hoàn.
A-Hoàn truyền lại cho
Tiểu-long-Nữ
và ngày nay Tiểu-long-Nữ truyền
đến Dương-Qua.
Trong mấy ngày
đầu, Dương-Qua tập thấy tiến
bộ lạ thường, bởi vì
nó có căn bản sẵn,
khi nghe nói
đã lãnh hội được ngay.
Nhưng từ mười ngày sau nó
không thấy tiến nữa
mà càng
tập càng lùi là khác. Càng
luyện nó càng cảm thấy toàn
thân rung động, tay
chân hình
nh bị giảm bớt năng lực.
Sự thay đổi
kỳ lạ đột ngột này làm
cho Tiểu-long-Nữ hết sức ngạc
nhiên. Nàng suy
nghĩ, cố
tìm ra nguyên nhân vì sao có hiện
tượng này.
Dương-Qua
thì buồn vô cùng nhưng không
dám hé môi.
Sau một thời
gian suy nghiệm, Tiểu-long-Nữ đã
tìm ra nguyên nhân của sự trở
ngại
này nên
nàng bảo Dương-Qua:
- Thôi đừng
buồn phiền làm gì nữa. Ta đã
hiểu nguyên nhân này rồi. Bây
giờ ta cứ đi
tìm cho được
một tên đạo sĩ bên phái
Toàn-Chân rồi buộc hắn phải
truyền dạy cho mi
những khẩu
quyết nhập môn của phái này,
như thế là vừa xong chứ
có khó gì đâu.
Thôi chúng
ta đi ngay bây giờ thì vừa.
Lời nói
của Tiểu-long-Nữ làm cho Dương-Qua
bỗng sực nhớ lại những
khẩu quyết do
Triệu-chí-Kính
đã buộc nó học thuộc lòng:
"Phải sử
dụng cân lực dần dần", ở
đoạn giữa lại có nói:
"Sức mạnh
không phải do đâu đưa đến
mà chỉ do tứ nội tại con người
phát sanh ra.
"Vận dụng
tâm lực mà để tâm rung động,
thì chẳng khác nào thu vào tay này
mà dùng
tay khác vứt
đi, lực lợng tự nhiên xuất
mà không biết nữa. Như nước
triều chảy, như
sấm rung động,
là những điểm thuyết yếu.
Như đi thuyền trên sóng, phải
chầm chậm
vậy.
Thêm đoạn
sau có nói:
"Phép luyện
căn cứ ở quẻ Dịch. Dịch
là biến động, thay đổi mãi
mãi. Thay đổi có thể
dùng sang lực
bên trong phù trợ bên ngoài cho
nên gân có thể cứng rắn
như sắt vậy".
Tiểu-long-Nữ
nghiêng tai chú ý nghe đọc, suy nghĩ
một chập và nói:
- Thôi được
rồi! Trước kia tiên sư có
dạy ta tập luyện được nửa
chừng rồi bỏ dở,
nguyên nhân
cũng vì thiếu căn bản nhập môn.
Khi học đến đoạn giữa của
môn phái
Toàn-Chân
bỗng dừng lại không tiến được
nữa. Rất tiếc lúc đó
phu nhân đã qua đời
nhưng không
thể hỏi han tập thêm tới nơi
tới chốn. Phàm không học được
từ đầu khẩu
quyết chân
truyền của một môn phái không
làm sao đoạt được đến
mức thành công
mỹ mãn.
Tiên sư vốn giàu lòng tự
ái, người nhất định bác
bỏ ý kiến của ta muốn yêu
cầu cho qua bên
Trùng-Dương cung học các khẩu quyết
nhập môn của phái này.
Ngày nay mi học
cũng khá nhiều nhưng vẫn chưa
đầy đủ để luyện tập.
Dương-Qua
cố nhớ lại hết tất cả
khẩu quyết do Triệu-chí-Kính đã
truyền dạy và đọc
cho nàng nghe
thêm. Những khẩu quyết này nó
học như vẹt chứ chưa bao giờ
được
thực hành
luyện tập.
Nhưng đối
với Tiểu-long-Nữ nhờ có
bản lãnh, nên sau một hồi suy nghĩ
nàng đã quán
thông được
ý lý, phối hợp đối chiếu
với lý thuyết đã được
Tần-nam-Cầm đã dạy, tức
cũng là
pháp huyền môn mà Mã-Ngọc
đã chân truyền cho người
khác.
Nghiên cứu
hai sự hiểu biết này trong vòng
mấy tháng, Tiểu-long-Nữ và
Dương-Qua
đã thấu
triệt được tất cả những
gì do Vương-trùng-Dương đã
ghi khắc trên nền đá kia.
Một ngày
kia, sau khi hai người đang tập luyện
kiếm thuật trong căn nhà đá,
Tiểu-long-Nữ
bỗng dừng kiếm, buồn rầu nói
với Dương-Qua:
- Mấy lúc
này ta mắc phải một khuyết điểm
lớn là tự phụ, xem thường
võ thuật của
phái Toàn-Chân.
Ngày nay phái này đã nổi
danh đệ nhất thiên hạ, lại một
chân truyền
chính cống,
đáng kể là đệ nhất võ
lâm. Thật ra bấy giờ ta mới
nhận thấy võ thuật
Toàn-Chân
thật kỳ ảo, biến hóa vô cùng,
càng luyện càng thấy tinh vi huyền
diệu.
Mặc dầu
ta đã tìm hiểu được
các căn bệnh kỳ yếu, nhưng về
mặt tập luyện thực hành
làm sao cho tay
chân theo kịp sự hiểu biết của
óc não, hễ tâm động thì
tay cứng, sức
lực tự
nhiên phát ra, chẳng biết còn phải
bao nhiêu năm tháng nữa mới
thành công
được.
Vốn còn
non như con nghé đâu biết sợ
oai cọp, Dương-Qua đáp:
- Thưa cô
nương, võ thuật Toàn-Chân tuy cao
siêu, nhưng Tổ sư phu nhân đã
nghiên
cứu kỹ,
biến chế hết những cái tinh
túy, tìm cách khắc chế nó
rồi, ta chỉ theo đó mà
luyện tập
cũng như bước theo một kẻ
dẫn đường, chắc chắn
một thời gian ngắn cũng
đoạt kết
quả mong muốn. Như thế dù võ
thuật Toàn-Chân có cao cũng không
vượt
nổi võ
thuật của Tổ sư ta.
Tiểu-long-Nữ
nói:
- Kể từ
ngày mai ta cần luyện lại "Ngọc-nữ
Tâm-kunh" đi thôi.
Ngày hôm
sau, hai người đưa nhau đến
gian phòng đá thứ hai, theo các
dấu hiệu phù
chú ghi khắc
sẵn để tự luyện.
Môn pháp
này có phần dễ dàng hơn pháp
môn Toàn-Chân phái nhiều. Sở
dĩ trước kia
Lâm-triều-Anh
sáng chế môn nầy để khắc
phục võ thuật Toàn-Chân của
Vương-trùng-Dương,
căn cứ vào pháp môn của
mình, biến đổi thêm phần tinh
diệu
nữa, cho
nên cả hai có căn bản hiểu rõ
võ thuật của đôi bên rồi,
nên học rất dễ.
Sau một thời
gian học hết các khẩu quyết, thực
hành xong "Ngọc-nữ Tâm-kinh" pháp
môn đến
mức có thể sử dụng phát
huy ngoại công được rồi, hai
người cùng nhau đấu
dượt.
Có khi Dương-Qua dùng kiếm pháp
Toàn-Chân đấu với Tiểu-long-Nữ
sử dụng
Ngọc-nữ
kiếm pháp. Cũng có khi Tiểu-long-Nữ
dùng kiếm pháp Toàn-Chân khắc
chế
Ngọc-nữ
kiếm pháp do Dương-Qua sử dụng.
Nhưng bất cứ trong trường
hợp nào
Ngọc-nữ
kiếm pháp vẫn thấy trội hơn
và có thể khắc phục rất hiệu
quả từng thế một
của võ
thuật Toàn-Chân phái, mặc dầu
được người sử dụng
linh hoạt tài tình đến đâu
cũng vậy.
Ngoại công tập xong, tiếp đến
luyện nội công. Môn nội công của
Toàn-Chân
cũng đã huyền diệu không lường.
Muốn sáng chế ra một môn khác
biệt
nữa đâu
phải chuyện dễ. Tuy nhiên với
một ý chí mạnh mẽ muốn tiến
bộ vượt bực
hơn người,
Lâm-triều-Anh đã vận dụng tất
cả học lực, kinh nghiệm sẵn có,
đồng thời
sử dụng
lối luyện công trên giường
hàn thạch, nên đã khai ra một
môn mới riêng biệt.
Phép luyện
công trên giường hàn thạch
của bà tuy rất khó nhọc đòi
hỏi cả một sự
quyết tâm,
chịu đựng kiên trì, nhưng lúc
đã có theo học được
thì mức tiến bộ thực phi
thường.
Khổ luyện trong một thời gian, nhng kết
quả vượt hẳn bên Toàn-Chân
phái.
Sau khi nhìn một
đoạn chữ khắc trên nóc
nhà, Tiểu-long-Nữ bỗng thở
dài rồi lặng
thinh chỉ lắc
đầu không nói gì nữa.
Liên tiếp mấy ngày sau nàng cũng
chỉ giữ một
thái độ
yên lặng và sau cùng vẫn lắc
đầu rồi thở dài mấy
cái.
Dương-Qua
e ngại hỏi:
- Thưa cô
nương, đoạn này khó tập lắm
sao?
Tiểu-long-Nữ
nhìn Dương-Qua một chập rồi điềm
nhiên nói:
- Trước
kia nghe sư phụ dạy ta phép "Ngọc-nữ
Tâm-kinh" này phải có hai người
cùng
luyện tập
một lúc. Ta những tưởng có
thể cùng tập với mi nhưng đến
nay mới biết
không thể
được.
Dương-Qua
hết sức kinh ngạc vội hỏi:
- Tại sao vậy
hở cô nương?
Tiểu-long-Nữ
ngập ngừng một chập rồi nói:
- Nếu mi là
gái thì mới được.
Dương-Qua
ngẩn ngơ một chập rồi hỏi liến
thoắng:
- Sao lại có
việc phân biệt nam và nữ như
thế? Hễ có đủ sức lực
và có ý chí thì trai
hay gái cũng
có thể tập luyện được
chứ.
Tiểu-long-Nữ
lắc đầu không đáp, một
chập sau mới nói:
- Không thể
khác giống được. Mi cứ
nhìn trên những nóc nhà thì
tức khắc hiểu.
Dương-Qua
nhìn theo tay nàng chỉ, thấy trên mặt
đá có những hình người
khắc bằng
mũi kiếm,
cả thảy chừng mười người,
mỗi người một kiểu, toàn
là đàn bà lõa thể
không mặc
y phục. Bấy giờ Dơng-Qua mới
hiểu:
- Thưa cô
trong lúc luyện nội công "Ngọc nữ
Tâm kinh" không thể mặc y phục phải
không?
Tiểu-long-Nữ
đáp đúng như thế và
lời ghi chú cũng có dạy rõ
như sau:
''Khi luyện nội
công sức nóng trong người
bốc ra cần phải để cho nó
tản thoát hết đi.
Vì vậy lúc
tập phải tìm nơi khoáng đãng,
không có người và không
mặc quần áo. Nếu
không, nhiệt
khí uất tích sẽ nhiễm vào
trong, nếu ít thì lâm trọng bệnh,
nếu nhiều thì
có thể
chết".
Dương-Qua
thản nhiên nói:
- Như thế
thì ta không mặc quần áo tập
luyện chứ sao. Tiểu-long-Nữ mắc
cỡ đỏ mặt,
nói:
- Khi tập luyện
phải truyền khí lực cho nhau, ta với
mi nam nữ cách biệt, nếu không
mặc quần
áo ở trước mặt nhau thì
còn ra thể thống gì nữa.
Phàm trai mười
sáu gái mười ba là đến
tuổi dậy thì, cần phải giữ
gìn khi tiếp xúc giao
thiệp. Dương-Qua
đã mười sáu tuổi rồi
nhưng bản chất hồn nhiên, nó
chưa hề biết gì
về tình
ái và chua để ý đến
vấn đề nam nữ. Thấy sư
phụ nó đẹp đẽ tuyệt vời
nó càng
thấy vui mừng
thích thú. Nó cũng nhận nếu
nữ sư phụ và nó cùng lõa
thể trong lúc tập
luyện thì
có sự bất tiện, nhưng vì lẽ
cũng không hề để ý và
chưa biết giải thích ra sao.
Về phần
Tiểu-long-Nữ tuy đã hai mươi
hai tuổi đầu nhưng từ bé
đến giờ sống trong
Cổ Mộ đài,
cuộc đời riêng biệt không
hề tiếp xúc với người
ngoài nên đối với
Dương-Qua
càng ngây ngô hơn nữa. Ngoài
ra vì cần phải tu tâm khổ luyện
nên vấn đề
tình dục
và nam nữ càng không hề có
một ý thức gì. Hai thầy trò
tuy là nam nữ thanh
niên chung sống
với nhau tại chốn hoang vu vắng vẻ,
sớm hôm gặp gỡ nhưng rất
tự
nhiên và
lúc nào cũng đối xử
với nhau không hề có ý thức
gì vượt ngoài vòng lễ nghi.
Hôm nay khi đề
cập tới việc lõa thân để
tập luyện nội công, họ cảm thấy
có điều gì
chướng
và khó chịu. Nhưng chỉ có thể
thôi chớ không hề có ý
nghĩ gì khác.
Tiểu-long-Nữ
nói:
- Ta cần phải
đào luyện môn nội công tinh thục
hơn nữa. Nếu luyện thành thục
cũng
đủ sức
đánh bại những tay cự phách
nhất của phái Toàn-Chân. Vì
vậy tưởng không
cần luyện
môn nội công này nữa.
Biết sư
phụ không muốn tiếp tục luyện
"Ngọc-nữ Tâm-kinh" nữa, nên
Dương-Qua
cũng thuận
theo không hề đòi hỏi.
Một ngày
kia sau khi tập luyện xong, Dương-Qua xuất
Mộ săn bắn ít thú rừng
về làm
lương thực.
Vừa bắn được một con
nai rồi nó bỗng gặp một con thỏ
lông đỏ, đầu đen,
rất tinh khôn
và nhảy mau lẹ. Lúc bấy giờ
thuật khinh thân đã tiến một
bực nhưng vẫn
chưa lanh bằng
thỏ. Nhưng vì tuổi trẻ nhiền anh
hùng tính, Dương-Qua tự nhiên
nảy ý
nghĩ muốn
đuổi bắt thỏ cho kỳ được,
không dùng đến ám khí để
sát hại. Nghĩ xong,
nó vận
dụng khinh thân đuổi thỏ chạy khắp
rừng cố làm cho đuối sức
rồi sẽ bắt. Cuộc
đuổi bắt
tiếp tục thỏ trước người
sau, càng lâu càng đi xa. Khi đến
gần chóp núi, con
thỏ chạy
ngoặc vào một cái miếu mọc đầy
hoa hồng, rồi biệt tích tìm không
ra.
Dương-Qua
chắc lưỡi thầm tiếc con thỏ
đẹp đã uổng công trình
quần đuổi nửa ngày
ngày để
sẩy mất.
Dương-Qua
đứng ngẩn ngơ nhớ nhung
chú thỏ và đưa mắt nhìn
thấy cái miếu bề dài
độ mười
trượng, mùi hương bay lên ngào
ngạt khắp xung quanh hoa hồng mọc bao
phủ từng
lớp, hết lớp này đến
lớp khác, những cánh hoa vừa
thơm vừa đẹp, mơn mởn
nằm trên
thảm lá xanh tuơi, chẳng khác nào
một nhà kết hoa, càng trông càng
tuyệt
vời.
Dương-Qua
thích quá lại gần quan sát, đưa
tay ngắt một mớ hoa hồng, định
mang về
tặng Tiểu-long-Nữ.
Nhưng khi về
khoe với Tiểu-long-Nữ, nàng thản
nhiên bảo:
- Ta không ưa
hoa, mi giữ lấy mà chơi.
Dương-Qua
tiu nghỉu một chập nhưng bỗng sực
nhớ một điều, vội nói:
- Tôi không
có chủ định hái hoa về cho
cô nương, nhưng muốn điềm
chỉ cho một chỗ
rất thích
hợp để luyện nội công Ngọc-nữ
Tâm-kinh. Nơi miếu này hoàn toàn
hoang vu
vắng vẻ,
hoa hồng bao phủ tứ bề, ở
cách nhau vài thước không trông
thấy. Dù phải lõa
thể theo điều
kiện bắt buộc cũng tiện không
ai trông thấy. Khi nàng luyện tập tôi
sẽ ở
đàng cuối
miếu canh phòng cho nàng, cũng như
nàng sẽ coi chừng hộ khi tôi
luyện
tập.
Phàm phép
luyện nội công lúc nào cũng
phải lặng lòng không gợn một
chút lo nghĩ
xao xuyến, tâm
tư hết sức bình thản để
dốc vào sự tập nội tâm, gạt
bỏ tất cả những gì
thuộc ngoại
cảnh, không được để
ý đến điều mắt thấy
tai nghe.
Khi đang tập
luyện, nếu có ai phá rối, hay địch
tấn công thì hết sức nguy hiểm,
đã
làm hỏng
mất cả phép nội công mà còn
có thể mất mạng như chơi. Vì
vậy lúc tập cần
có người
canh giữ, đề phòng mọi bất
trắc có thể xảy ra.
Xa kia Hoàng-Dung
tập nội công bị tả công khí
xâm nhập, Quách-Tỉnh đứng
canh
phòng, trời
đang mưa lớn, mẹ của Dương-Qua
là Tần-nam-Cầm, lúc còn là
gái tân
phải cắm
dù che mưa, không dám đưa vào
nhà dụt vì tránh giật mình trong
lúc tham
thiền nhập
định dễ gây nguy hại đến
mạng sống của nàng.
Lúc tham thiền
nhập định luyện công chẳng những
phải có bản lĩnh cao mà còn
phải
có chí
cương quyết giữ được
tâm thần khỏi rung động và kỵ
nhất là những sự náo
động bất
ngờ có thể xảy đến.
Vì vậy nên yếu tố vắng vẻ
của nơi luyện tập và cần
ngời canh
giữ cần thiết lắm.
Nghe Dương-Qua
nói đến miếu nầy, Tiểu-long-Nữ
nhận thấy có lẽ được,
muốn quan
sát lại.
Nàng liền
xuất Mộ Đài, phi thân lên ngọn
cây cao nhất đưa mắt nhìn vào
hướng ấy,
trông thấy
tòa cổ miếu nằm khuất trong rặng
hoa hồng tứ bề vắng lặng, tĩnh
mịch,
ngoài tiếng
suối reo, gió thổi, chim kêu, không
thấy một điều gì có thể
làm xao động,
thật là
một nơi hết sức thuận lợi
cho công cuộc luyện công.
Nàng nói
với Dương-Qua:
- Ta rất đồng
ý với mi. Vậy chiều nay, chúng
ta cùng tới đó để luyện
tập.
Nàng đã
học thuộc lòng từ lâu tất
cả khẩu quyết "Ngọc-nữ âm-kinh"
nay đọc mấy câu
cho Dương-Qua
nhớ.
Vào khoảng
canh hai, hai thầy trò đưa nhau đến
miếu ấy tìm chỗ sân bằng
phẳng kín
đáo nhất
để tập. Rừng khuya lặng lẽ,
mọi vật lắng trong màn sương, cả
tòa miếu chìm
trong rặng hoa
hồng mùi thơm ngào ngạt. Cả
hai người ngồi cách nhau một đoạn,
có
thể nói
chuyện được, nhưng không nhìn
thấy nhau, cởi hết y phục để
bắt đầu luyện
tập.
Dương-Qua
cố ý đánh dấu hướng
ngồi của sư phụ đề phòng
lúc bất trắc có thể vận nội
công hỗ
trợ lẫn nhau. Họ ngồi cách nhau
độ hơn một sải tay.
Kể từ
hôm ấy trở đi, cứ đêm
đêm họ đa nhau vào đấy
tập luyện, ban ngày về Cổ-Mộ
để nghỉ
sức dưỡng thân.
Lúc bấy
giờ đang giữa mùa hè,
khí hậu oi bức, nên tập về
đêm mát mẻ dễ chịu hơn.
Thời gian
thấm thoát đã hơn hai tháng,
Tiểu-long-Nữ đã luyện đến
phần thứ bảy của
chín đoạn
phép Ngọc-nữ tâm-kinh.
Trong quy tài
tập luyện số lẻ là "âm tiến",
số chẵn là "dương thoái". Khi
đó
Dương-Qua
cũng luyện đến phần thứ
sáu.
Tối hôm
ấy trời mát trăng song, giữa
miếu hồng, hai người đang ngồi
luyện tập, nhiệt
khí trong người
bốc ra ngùn ngụt, hòa lẫn mùi
hoa thơm ngào ngạt. Trăng sáng vằng
vặt vừa
đứng đỉnh đầu, hai người
sắp hoàn thành đoạn 6 và đoạn
7 của Ngọc-nữ
tâm-kinh, thì
bỗng đàng xa có tiếng chân
bước dồn dập khua lá động
xào xạt hướng
về miếu
hồng. Hai người vừa đi vừa
nói chuyện lớn tiếng, làm náo
động cả cảnh rừng
đêm lặng
lẽ. Họ vừa nói vừa đi,
bước chân càng lúc càng
gần.
Khi ấy Dưbơng-Qua
sắp hoàn thành đoạn chót của
buổi tập, còn Tiểu-long-Nữ mới
bước
qua giai đoạn vận khí vào, tức
là phần quan trọng nhất. Nàng đang
tập trung hết
tư tưởng
vào việc tập luyện nên không nghe
biết sự gì bên ngoài nữa.
Khi nghe có tiếng
nói, Dương-Qua thất kinh vội vàng
xả hết trọc khí ở đan điền
thật
hết để
hoàn tất buổi tập, thì tiếng
chân bước càng gần thêm,
giọng người nói nghe rõ
mồn một.
Dương-Qua
lắng nghe đó là Triệu-chí-Kính
và Doãn-chí-Bình đang cãi
cọ lẫn nhau.
Triệu-chí-Kính
nói:
- Thôi sư
đệ chối cãi làm chi nữa,
để ta trình lại Khưu-sư-bá
xét định.
Doãn-chí-Bình
giận dữ đáp:
- Anh cứ
buộc tôi làm gì. Tôi thừa
hiểu rồi, trong hàng ngũ các đệ
tam đại, đệ tứ đại
sau này, anh
tưởng tôi không thể đoạt
được hàng trưởng giáo
chăng?
Triệu-chí-Kính
cười mãi nói:
- Anh không giữ
được quy tài, phạm giới
cấm thì làm sao có đủ tư
cách để thành
ngời đứng
đắn của các đại đệ
tử nhóm này được.
- Tôi đã
làm gì mà gọi là phạm giới
cấm?
Triệu-chí-Kính
nổi nóng quát lớn:
- Thôi đừng
già mồm ngụy biện nữa. Ngươi
há biết hết bổn giới trong
luật của môn
phái rồi
sao? Ngươi đã phạm vào luật
giới dâm nghe chưa?
Dương-Qua
núp trong đám hoa hồng, vội ngẩng
đầu lên dòm thấy hai người
đang
ngồi đối
diện nhau. Dưới ánh trăng, sắc
mặt của Doãn-chí-Bình tái mét,
mắt trợn
ngược,
môi run run, hình như không kìm chế
được nỗi bực tức.
Hắn cố
dằn lòng hỏi tiếp:
- Ta phạm giới
dâm chỗ nào?
Nói xong, hắn
đưa tay nắm chuôi kiếm.
Triệu-chí-Kính
liếc qua một cái và nói tiếp:
-Từ ngày
gặp Tiểu-long-Nữ cô nương bên
Hoạt-tử-Nhân Mộ-Đài, thì
anh đã xiêu hồn
thất phách,
không lúc nào là không mơ tưởng
đến hình bóng người đẹp.
Đứng đâu
cũng mơ
tưởng được ôm ấp
nàng vào lòng, nói với nàng
những câu tình tứ nồng
nàn.
Như thế
anh gọi là xứng đáng một
kẻ chân tu, làm sao đủ tư cách
điều khiển cả một
hàng đại
đệ tử được?
Đối với
kẻ tu hành, hành động ấy không
phải phạm giới dâm sao?
Dương-Qua
lúc nào cũng tôn sùng sư phụ
xem như một đấng thiêng liêng.
Khi nghe
Triệu-chí-Kính
nói những lời ấy thì
bực tức vô cùng. Tuy chưa hiểu
rõ ý của các danh
từ, nhưng
suy nghiệm cũng đoán biết đó
là những lời không chính
đáng.
Vừa lúc
đó nghe Doãn-chí-Bình dằn
giọng hỏi lại:
- Thôi đừng
ăn nói hồ đồ nữa? Anh
có bằng chứng gì để nhận
xét và quả quyết được
như thế?
Triệu-chí-Kính
cười nhạt nói:
- Tôi làm
sao nhìn thấy lòng anh được.
Sở dĩ tôi quả quyết như
vậy là gì những bằng
cớ. Khi
mơ tưởng đến Tiểu-long-Nữ,
anh đã viết tên nàng trên
giấy, trong lúc ngủ mê
anh đã
gọi tên nàng. Đây có phải
bút tích của anh không?
Nói xong hắn
thò tay vào túi rút ra một mảnh
giấy đưa trước mặt Doãn-chí-Bình
vừa
nói tiếp:
- Tôi sẽ
trình giấy nầy lên Khưu-sư thúc,
người phụ trách dạy dỗ anh
và đồng thời
cũng trình
lên Mã-Ngọc su bá để hai vị
nhận xét việc làm của anh.
Không chị
nổi nữa, Doãn-chí-Bình rút
kiếm đâm vào người Triệu-chí-Kính.
Triệu-chí-Kính
nghiêng người tránh khỏi đường
kiếm, rồi cười ha hả:
- Anh tưởng
anh giết tôi để phi tang, vì tôi
không còn sống để phát giác
tội lỗi của
anh phải không?
Đâu có dễ dàng như vậy.
Nói xong hắn
bỏ mảnh giấy vào túi, lùi
ra sau hai bước tránh luôn hai đường
kiếm của
Doãn-chí-Bình
vừa phóng ra như gió.
Qua đường
kiếm thứ tư, Triệu-chí-Kính
cũng vung kiếm đấu lại. Dưới
ánh trăng sáng
như ban ngày,
hai làn kiếm loang loáng, nhấp nháy
như sao sa. Hai đạo hữu của
Toàn-Chân
phải kịch chiến cùng nhau trên sân
hồng hoa miếu.
Vốn là
hai cự phách của phái Toàn-Chân,
thuộc hàng đệ tam đại đệ
tử, một người
đứng
đầu nhóm đệ tử của
Khưu-xứ-Cơ, một người
đứng đầu nhóm đệ
tử của
Vương-xứ-Nhất,
cho nên cuộc chiến đấu diễn
ra vô cùng ác liệt.
Doãn-chí-Bình
nghiến răng, mím môi đưa toàn
lực đổ vào làn kiếm, liều
chết chiến
đấu. Triệu-chí-Kính
bất đắc dĩ mới ra tay tự
vệ, nhưng thỉnh thoảng thốt ra những
lời
khiêu khích
chọc giận, làm Doãn-chí-Bình
mất bình tĩnh, do đó đường
kiếm bị giảm
bớt phần
hiệu lực.
Núp trong bụi
hoa hồng, Dương-Qua chú mục theo dõi,
hai tay cự phách của phái võ
Toàn-Chân
quyết đấu, từ bước
tiến, thoái, đến các thế
né, đỡ, đường kiếm
biến hóa
phi thường,
ảo điệu vô cùng tận. Tuy không
được thâm hậu, nhưng nó
nhận thấy sự
chỉ dạy của
Tiểu-long-Nữ rất đúng phép.
Cả hai người
quay cuồng xoắn với nhau giữa
làn kiếm lấp lánh không ngừng.
Doãn-chí-Bình
càng tăng gia sức tấn công,
còn Triệu-chí-Kính vẫn bình
thản né đỡ và
một chập
sau cười nhạt nói rằng:
- Chúng ta đã
hiểu nhau quá nhiều, các thế võ
cùng giống nhau, đầu dánh nhau suốt
đêm cũng
không ích gì đâu. Anh nên bỏ
ý định hạ sát tôi thì
hơn.
Nói xong hắn
cười ha hả. Doãn-chí-Bình
càng bực tức gia tăng sức
tấn công. Nhưng
ngọn nào
cũng bị hắn chặn được
hoặc tránh né rất dễ dàng.
Hai ngưbời
càng đấu càng xê dịch đến
gần phía Tiểu-long-Nữ. Dương-Qua
thất kinh
hét lớn:
- Coi chừng!
Hai tên đạo sĩ kia, nếu bây đến
gần làm kinh động đến cô
nương ta, sẽ
mất mạng
ngay, nghe chưa!
|