CÔ GÁI ĐỒ LONG - HỒI 34
Cùng đi Côn-Luân   


Kim Dung

Đoạn Từ-Đạt day lại chỉ nhà sư mặt mày hung tợn, có rất nhiều vết thẹo, hai mắt hỏm sâu
nhưng rất có thần nói thêm: 
- Đây là Chu đại ca, tên là Nguyên-Chương, hiện đang tu ở chùa Hoàng-Giác, hình thù xấu
xí nhưng bụng dạ rất tốt. 
Hoa-Vân vừa cười vùa xen vào: 
- Anh ấy là Hoà thượng rất phong lưu vì không phải tụng kinh niệm Phật mà suốt ngày chỉ
ăn thịt, uống rượu bằng thích. 
Bất-Hối thấy Nguyên-Chương xấu xí như vậy, trong lòng thêm hãi sợ càng núp sát vào sau
lưng Vô-Kỵ. Nguyên-Chương vừa cười vừa nói: 
- Tôi là hòa thương, tuy ăn thịt, nhưng không thèm ăn thịt người như những kẻ khác đâu, cô
em đừng sợ mỗ. 
Thanh-Hòa cũng lên tiếng: 
- Nồi thịt bò của chúng ta đang nấu ở trong chùa, chắc đã chín rồi. 
Hoa-Vân đã vội tiếp: 
- Thôi, chúng ta hãy trở về chùa đánh chén đi. Cô em nầy để tôi cõng cho. 
Y vừa nói vừa cõng Bất-Hối, rồi lớn bước đi ngay. Vô-Kỵ thấy những người ấy vui vẻ và tốt
bụng trong lòng cũng mừng thầm, liền đi theo bọn họ. Đi được bốn năm dặm, đã tới một cái
chùa, xuyên qua đại điện, đã ngữi được mùi thịt bò rất thơm ngon. Ngô-Lương vội la: 
- Thịt đã chín rồi ! 
Từ-Đạt nói: 
- Chú em họ Trương ở đây nghỉ ngơi, để chúng tôi đi bưng thịt bò ra cho ăn. 
Vô-Kỵ với Bất-Hối, ngồi sát nhau trên một tấm thảm bồ đoàn ở giữa đai điện.
Nguyên-Chương, Từ-Đạt, Thanh-Hòa, Đặng-Dư, mỗi người một tay bưng từng bát, từng
chậu thịt bò ra. Anh em Ngô-Lương, Ngô-Chính thì xách tĩn rượu trắng đi theo. Thế rồi,
mọi người xúm quanh lại trước bàn thờ ăn nhậu một cách sung sướng vô cùng. 
Hoa-Vân nói: 
- Từ đại ca, Vô-Kỵ, với Bất-Hối đã đói bụng mấy ngày rồi, lúc này hai đứa nó được ăn thịt
bò, tất nhiên đều sung sướng hơn cả những người kia. 
Hoa-Vân bỗng lên tiếng: 
- Từ đại ca này, giáo quy của chúng ta điều nào cũng tốt riêng có điều cấm ăn thịt là hơi
hỏng thôi. 
Vô-Kỵ nghe nói, rùng mình kinh hãi thầm nghĩ: 
- "Thì ra những người này đều theo Minh-Giáo cả. Quy luật của Minh-Giáo chỉ cho phép ăn
rau đậu và lễ Ma vương. Sao họ lại ăn thịt bò như thế này ?" 
Từ-Đạt đáp: 
- Yếu nghĩa thứ nhứt của Minh-Giáo chúng ta là phải hành thiện khứ ác, ăn thịt như thế này
tuy không nên phải thực, nhưng điều này chỉ là điều cấm thứ yếu thôi. Hiện giờ nơi đây,
không có gạo, không có rau đậu, nếu chúng ta không ăn thịt bò thì ngồi chịu chết đói sao ? 
Đặng-Dư vỗ tay tán thành: 
- Từ đại ca sáng suốt và nói rất hợp lý. Thôi, chúng ta ăn đi. 
Trong lúc mọi người đang cao hứng ăn nhậu, bỗng nghe có tiếng chân người đi tới, tiếp
theo có tiếng gõ cửa. 
Thanh-Hòa nhảy phắt lên la lớn: 
- Nguy tai ! Người nhà của Trương viên ngoại tới kiếm con bò chăng ? 
Chàng vừa nói dứt, đã nghe tiếng cửa chùa bị có người đẩy ra, và liền theo đó gia đinh vênh
váo đi vào. Một trong hai tên đầy tớ ấy lên tiếng trước: 
- Giỏi lắm ! Thì ra con bò đực lớn của Trương viên ngoại đã bị các ngươi ăn trộm và hiện
đang ăn vụng ở nơi đây ! Chứng cớ hẳn hòi, các ngươi không còn chối cãi được nữa đấy nhé

Nói xong, tên ấy túm luôn ngực Nguyên-Chương còn tên kia thì lớn tiếng mắng chửi: 
- Ngày hôm nay tang chứng đầy đủ, xem các người còn chạy chối đàng nào. Ngày mai
chúng ta sẽ đưa các ngươi lên quan, để các nha sai đánh cho các ngươi một trận đòn chí
chết mới thôi. 
Nguyên-Chương vừa cười vừa đáp: 
- Hai ngươi nói bậy thật, sao hai ngươi dám vu oan cho chúng ta ăn trộm con bò của Trương
viên ngoại ? Ta là người tu hành, ngươi đổ cho ta ăn thịt không sợ mang tội  ? 
Tên ác bộc chỉ vào bát và chậu thịt bò, quát hỏi: 
- Những bát và chậu nầy không đựng thịt bò thì còn thịt gì nữa ? 
Nguyên-Chương đưa mắt ra hiệu, rồi lại cười hì hì đáp: 
- Ai bảo là thịt bò ? 
Hai tên Ngô-Lương, Ngô-Chính đi tới phía sau lưng hai tên ác bộc, quát lớn một tiếng, rồi
nắm chặt hai cánh tay, khiến chúng không sao cử động được. 
Nguyên-Chương rút một con dao găm ra, vừa cười vừa nói: 
- Không dám nói dối hai vị đại ca, thịt chúng tôi đang ăn đây là thịt người, chớ không phải
thịt bò ! Hôm nay, chúng tôi đã để cho hai vị thấy, đành phải ăn nốt hai vị để diệt khẩu, chớ
biết làm sao bây giờ ? 
Vừa nói dứt chàng đã xé toạt áo của một tên ác bộc ra, và đưa mũi dao lên khẽ cứa qua một
cái, máu tươi rỉ ra. 
Tên ác bộc ấy hãi sợ vô cùng, vội quỳ xuống van lạy: 
- Xin... quý vị... tha... 
Nguyên-Chương vội lượm một nắm thịt bò nhét luôn vào mồm hai tên ác bộc và quát lớn: 
- Nuốt ngay đi.
Hai tên ấy không dám nhai, cứ vội nuốt trọng, mặt nhăn nhó, trông thật tức cười. 
Nguyên-Chương lại đi xuống bếp, lấy một nắm lông bò lên, cũng nhét vào mồm, bắt hai tên
ấy nuốt như trước. Thấy hai tên ác bộc đã cố nuốt hết nắm lông bò ấy rồi, Nguyên-Chương
lại nói tiếp: 
- Hai ngươi đi nói cho viên ngoại hay là chính ta đã ăn trộm con bò đực của ông ta và cũng
đã làm thịt ăn mất trồi. Chúng ta vui lòng mỗ bụng ra đối chất, xem ai ăn thịt bò mà không
cạo sạch lông ? 
Nói xong chàng lật ngược con dao, dùng sóng dao lướt qua bụng tên nọ một cái. Tên ấy vừa
cảm thấy con dao lạnh buốt lướt qua bụng, đã sợ hãi, thét lớn một tiếng. 
Anh em họ Ngô ha hả cười, giơ chân lên đá vào đít hai tên nọ một cái thật mạnh. Hai tên nọ
bị đá bắn ra ngoài điện, mọi người mới yên trí ăn nhậu, vừa cười vừa mắng chửi hai tên ác
bộc, thường ngày đã ỷ vào thế lực của Trương viên ngoại hà hiếp người lành. Lần nầy,
chúng sợ bị mỗ bụng đối chất, nhứt định chúng không dám nói cho viên ngoại biết chuyện
chúng ta ăn trộm bò đâu. Vô-Kỵ vừa buồn cười vừa phục thầm hành động của những người
đó, liền nghĩ: 
- "Mặt mũi của hòa thượng họ Chu nầy tuy khó coi, nhưng anh ta hành sự rất nhanh nhẩu và
chế ngự hai tên kia không cử động được và cũng không nói lời nào vào đâu được. Thủ đoạn
của anh ta lợi hại vô cùng." 
Bọn Thanh-Hòa, Đặng-Dư đã nghe Từ-Đạt kể cho biết rồi, nên họ đều rõ chuyện Vô-Kỵ hy
sinh tánh mạng để cứu Bất-Hối, ai nấy đều yêu mến Vô-Kỵ là một thiếu niên hiệp nghĩa và
coi cậu như một người bạn thân, cứ tiếp mời rượu thịt luôn. Mọi người uống đã ngà ngà say.
Đặng-Dư thở dài và nói: 
- Người Hán chúng ta bị bọn Mông-Cổ đè nén đau khổ biết bao, hôm nay còn làm cho
chúng ta không có cơm ăn, hoàn cảnh thế này làm sao sống được ? 
Hoa-Vân vỗ đùi tiếp lời: 
- Chúng ta đã thấy dân chúng ở phủ Phụng-Dương nầy chết gần phân nửa. Theo ý tôi thì
trên thiên hạ nầy đâu đâu cũng thế thôi, nếu cứ ngồi yên mà chịu chết đói thà đi thí mạng
với bọn Thát-Đát còn hơn. 
Từ-Đạt cúng lớn tiếng nói: 
- Ngày nay, mạng người không bằng mạng chó, mạng heo cũng như chú em và cô em đây,
suýt tí nữa thì bị chui vào bụng người khác rồi. Khắp thiên hạ, có không biết bao nhiêu
lương dân trở thành bò dê, chúng ta là đấng nam nhi đại trượng phu, nếu lúc nầy không ra
tay cứu mọi người thì còn gọi làm sao được là anh hùng hào kiệt nữa ? 
Thanh-Hòa cũng xen lời nói: 
- Phải đấy ! Hôm nay chúng ta may mắn trộm một con bò đực về ăn. Ngày mai, chưa chắc
chúng ta sẽ lấy trộm được như vậy nữa. 
Vả lại, vô số anh hùng hào kiệt cũng không đủ ăn đủ mặc như ta, chẳng lẽ họ đi làm giặc
hết sao ? 
Mọi người càng nói càng tức giận, cứ luôn mồm chửi bọn quan binh Mông-Cổ hại người.
Nguyên-Chương bèn lên tiếng nói: 
- Chúng ta cứ ở đây chửi đổng như vậy, chẳng hay đã làm rụng được cái lông nào của bọn
Mông-Cổ chưa ? Nếu ai là người có cốt khí đi giết quân Mông-Cổ ngay có hơn là ngồi đây
chửi đổng không ? 
Thanh-Hòa, Đặng-Dư, anh em họ Ngô, Hoa-Vân đều đồng thanh la lớn: 
- Đi ! Đi ! 
Từ-Đạt lại nói: 
- Chu đại ca, đại ca còn làm cái trò hòa thượng nầy nữa không ? Chắc đại ca đã chán ghét
cái trò ấy phải không ? Trong tất cả anh em đây, anh là người lớn tuổi, chúng tôi xin ủng hộ
anh làm thủ lãnh. 
Nguyên-Chương không từ chối, liền đáp: 
- Ngày hôm nay chúng ta cùng đồng sinh cộng tử, có phúc cùng hưởng, có họa cùng gánh. 
Mọi người cùng cầm bát rượu lên uống cạn, rút dao ra chém xuống mặt bàn thật là hào khí
vô cùng. 
Bất-Hối cứ trợn tròn hai mắt nhìn mọi người, không hiểu họ nói những gì, trong lòng có vẻ
sợ hãi. Còn Vô-Kỵ đang nghĩ: 
- "Thái sư phụ đã dặn ta luôn, là chớ có làm quen với những người trong Ma-Giáo, nhưng ta
thấy Ngộ-Xuân đại ca và Từ đại ca đây đều là người trong Ma-Giáo cả, mà lại tốt bụng gấp
bọn Dãn-Tiệp, Công-Viễn những đệ tử của danh môn chánh phái gấp vạn lần !" 
Xưa nay Vô-Kỵ vẫn kính phục Trương-Tam-Phong, nhưng từ khi được từng trải thì y nhận
thấy sự nhận xét người trong Ma-Giáo của thái sư phụ hơi thiên một chút. Tuy vậy y vẫn
không dám trái lời dạy bảo của thái sư phụ. Nguyên-Chương lại nói: 
- Người hảo hớn đã nói là phải làm. Lúc nầy chúng ta đều no bụng cả rồi thì chúng ta phải
hành sự ngay đi. Ngày hôm nay, nhà Trương viên ngoại đang thiết tiệc đãi bọn quan quân
Mông-Cổ, chúng ta hãy đi tới đó giết bọn giặc cướp nước ấy trước. 
Hoa-Vân đáp: 
- Hay lắm ! Hay lắm ! 
Nói xong y bèn cầm dao đứng dậy, Từ-Đạt vội cản lại: 
- Khoan đã ! 
Đoạn chàng vào trong bếp lấy ra một tay nảy đựng mười mấy cân thịt bò, đưa cho Vô-Kỵ và
nói: 
- Chú em họ Trương còn ít tuổi nên không thể nào theo chúng tôi để chém giết bọn cướp
nước được. Vậy chú em hãy đi đi. Trước khi chia tay, chúng tôi đã nghèo xác xơ, trong túi
không có nửa phân bạc, chỉ có mấy cân thịt bò nầy để tặng chú em lên đường. Nếu may ra
chúng tôi không chết thì sau nầy chúng ta sẽ được dịp gặp nhau, và sẽ lại ăn một bữa thịt bò
thật no nữa. 
Vô-Kỵ đỡ lấy tay nảy thịt bò, đáp: 
- Mong các vị thành công đuổi được bọn Mông-Cổ ra khỏi bờ cõi để bá tánh đều có bữa
cơm ăn. 
Nguyên-Chương, Từ-Đạt, Thanh-Hòa nghe Vô-Kỵ nói đều rùng mình sờn lòng và đồng
thanh đáp: 
- Chú em họ Trương nói rất phải. Chúng ta sẽ tái ngộ một ngày gần đây. 
Mọi người rút khí giới và đi ra khỏi chùa. Thấy bọn họ đi rồi, Vô-Kỵ nghĩ thầm: 
- "Lần nầy họ đi giết quân Mông-Cổ, nếu ta không vướng Bất-Hối thì cũng theo họ ngay.
Họ chỉ có bảy người, chắc không địch lại kẻ địch quá đông đâu. Rồi đây bọn Mông-Cổ với
tráng đinh của nhà Viên ngoại sẽ đuổi theo tới đây chém giết cho kỳ sạch. Ta không ở lại
đây được". 
Đoạn Vô-Kỵ xách tay nải thịt bò, dắt Bất-Hối ra khỏi chùa đó. Trong đêm tối, hễ thấy
đường là đi, hai đứa trẻ đi được năm sáu dặm bỗng thấy phía Bắc có ánh sáng đỏ rực trời,
ngọn lửa bốc lên rất mạnh. 
Vô-Kỵ biết là bọn Nguyên-Chương, Từ-Đạt đã thành công, hiện giờ có lẽ đang đốt nhà
Viên ngoại. Vô-Kỵ mừng rỡ vô cùng. Đêm hôm đó, hai đứa lại ngủ trong rừng. Sáng sớm
hôm sau, cả hai lại đi về phía tây. Suốt dọc đường chịu đói, chịu rét khổ sở khôn tả. Cũng
may cha mẹ Bất-Hối đều là những tay võ nên con nhỏ cũng khỏe mạnh hơn người, vì vậy đi
xa như thế mà không hề sinh bệnh, thỉnh thoảng cảm mạo sơ sài. Vô-Kỵ hái thuốc sống
trong rừng cho cô bé uống là khỏi ngay. 
Hai đứa nhỏ cứ ngày đi đêm nghỉ, đi một chốc lại nghỉ một chốc nên mỗi ngày chỉ đi được
độ hơn hai mươi dặm. Chúng đi được mười lăm, mười sáu ngày mới tới biên giới tỉnh
Hà-Nam. Lúc ấy Hà-Nam cũng đang lâm vào tình trạng mất mùa, xác người chết đói nằm
ngổn ngang đầy đường. 
Vô-Kỵ đã tự chế cung tên để bắn chim và giết thú, nướng ăn đỡ lòng. Cũng nhờ vậy, bữa no
bữa đói, hai đứa lại may mắn giữa đường không gặp một quan quân Mông-Cổ nào, cũng
không gặp một nhân vật giang hồ nào. Còn những tên gian đồ vô loại thường, thì địch sao
nổi Vô-Kỵ. 
Một hôm, ở giữa đường Vô-Kỵ gặp một ông già đang nói chuyện phiếm, y bèn hỏi thăm
Tọa-Vọng-Phong trên núi Côn-Luân ở đâu thì ông già trợn trừng đôi mắt, kinh hãi trả lời: 
- Núi Côn-Luân ở cách đây hàng mười vạn dặm. Nghe nói hồi xưa, chỉ có Đường-Tăng đi
thỉnh kinh mới qua đó thôi. Cậu với cô bé chẳng lẽ điên rồi hay sao mà định đi đến đó ?
Nhà các cháu ở đâu, mau mau đi về đi. 
Vô-Kỵ nghe nói, nản chí vô cùng và nghĩ thầm: 
- "Núi Côn-Luân xa như vậy, chắc không thể nào đi đến nơi được. Ta đành về núi Võ-Đang
gặp Thái sư phụ trước rồi hãy quyết định sau." 
Nhưng y lại sực nghĩ: 
- "Người ta đã nhờ vã mình lúc hấp hối, thì dù đường sá khó khăn đến đâu mình cũng không
thể giữa đường bỏ dở như thế được. Đời sống của mình rất ngắn ngủi, nếu trước khi chết
mình không đưa được Bất-Hối tới nơi tới chốn thì thật là không nên không phải với Kỷ cô
nương." 
Thế rồi, y không nói chuyện với ông già kia nữa, liền dắt tay Bất-Hối đi luôn. Hai đứa đi
được hơn mười ngày, quần áo rách tả tơi, mặt mũi tiều tụy khôn tả. Điều đó không khiến
Vô-Kỵ phiền não, y chỉ bực mình nhứt là Bất-Hối cứ hỏi mẹ luôn, mà hễ không thấy mẹ là
con bé lại khóc lóc hàng nửa ngày. 
Ngày nào cũng vậy, y phải tốn biết bao hơi sức mới khuyên Bất-Hối nín khóc. Một hôm cả
hai tới sông Trú-Mã, trời về cuối thu sang đông, gió bấc rét mướt. Hai đứa bé quần áo rách
rới, càng không chịu nổi giá lạnh. 
Vô-Kỵ liền cởi chiếc áo rách của mình cho Bất-Hối mặc. Bất-Hối thấy vậy hỏi: 
- Đại ca không rét sao ? 
Vô-Kỵ đáp: 
- Anh không rét, anh đang nóng lắm. 
 Nói xong, chàng ta nhảy nhót vài cái cho đỡ run. Bất-Hối lại nói: 
- Anh đối đãi với em tử tế quá, anh cũng rét mà lại đưa áo cho em mặc. 
Đột nhiên Bất-Hối biết nói như người lớn. Vô-Kỵ ngạc nhiên vô cùng. Đang lúc ấy bỗng
nghe phía sau sườn núi có tiếng khí giới va chạm và có tiếng chân di động, kế Vô-Kỵ lại
nghe một thiếu nữ la lớn: 
- ác tặc, mi đã trúng Tán-Môn-Đinh tẩm độc của ta rồi. Mi càng chạy nhanh bao nhiêu càng
chóng chết bấy nhiêu. 
Vô-Kỵ liền kéo Bất-Hối nằm phục xuống bụi lau ẩn núp. Hai người chưa nằm yên đã thấy
một chàng tuổi trạc ba mươi, thân hình vạm vỡ, đang chạy tới. 
Cách sau chàng ta chừng mấy trượng, có một thiếu nữ tay cầm song đao đuổi theo. Người
đàn ông chạy loạng choạng mấy bước, đột nhiên ngã lăn ra mặt đất. Thiếu nữ đuổi tới nơi
vừa cười vừa nói: 
- ác tặc, ta bảo mi thế nào mi cũng chết bởi tay cô nương có sai đâu ? 
Chàng nọ đột nhiên nhảy phắt lên, múa song chưởng đánh vào ngực thiếu nữ một cái. Thế
võ của chàng ta phát ra trước khi chết nên sức lực càng mạnh lạ lùng. Thiếu nữ nọ bị đánh
trúng hai chưởng vứt song đao ra xa rồi ngã lăn ra đất. Chàng nọ thở hổn hển, thò tay về
phía sau lưng, rút mũi Đinh-Tán-Môn ra, hậm hực nói: 
- Đưa thuốc giải cho tôi ! 
Thiếu nữ đáp: 
- Muốn giết thì giết, ta nhứt định không đưa thuốc giải. 
Chàng nọ nhặt luôn con dao, dí mũi dao vào cổ nàng, tay phải thì cho vào túi khám xét,
khám mãi không gặp thuốc giải. Thiếu nữ liền cười nhạt, nói: 
- Lần nầy sư phụ phái chúng tôi đi bắt anh, chỉ trao ám khí độc mà không trao thuốc giải.
Bây giờ tôi bị anh kềm chế thì tôi cũng không muốn sống nữa, còn anh cũng chưa chắc
thoát chết được đâu. 
Chàng thanh niên tức giận vô cùng, cầm mũi đinh Tán-Môn có độc kia ném vào vai thiếu nữ
và quát lớn: 
- Này cho cô nếm mùi độc của Tán-Môn. Cô là người trong phái Côn-Luân... 
Chàng ta nói chưa dứt thì chất độc trên lưng đã bộc phát, người anh mềm nhũn, anh ngã lăn
ra đất nằm sóng sượt. Thiếu nữ muốn bò dậy, nhưng vết thương ở ngực quá nặng cũng khạc
ra một đống máu tươi rồi ngồi phịch xuống. 
Thế là, một nam một nữ đều nằm lăn ra bên lề đường, hô hấp nặng nề như sắp chết. Từ khi
chữa khỏi cho bọn Dãn-Tiệp và Công-Viễn rồi bị chúng trả ơn bằng cách định giết mình mà
ăn thịt Vô-Kỵ càng ngán người võ lâm nên chàng ta cứ núp một bên, ló đầu ra xem chớ
không dám can thiệp cứu chữa cho hai người ấy. Lát sau, nghe chàng thiếu niên thở dài mấy
tiếng và nói: 
- Ngày hôm nay Tô-Tập-Chi chết ở điếm Trú-Mã nầy mà vẫn ân hận vì không hiểu rõ mình
lỗi gì với phái Côn-Luân của cô, nên không nhắm mắt êm xuôi. Chẳng hay Chiêm cô nương
có thể nào cho tôi biết rõ nguyên nhân chăng ? 
Lời của chàng lúc này không có vẻ gì tức hận. Thiếu nữ nọ, họ Chiêm tên là Xuân, cũng
biết thứ ám khí có chất độc rất lợi hại nàng sẽ cùng chàng kia chết đến nơi, nên nản chí và u
oán đáp: 
- Ai bảo anh lén xem sư phụ luyện kiếm ! Trong khi sư phụ luyện pho Long Hình Nhứt Bút
kiếm thì ai không được phép, dù là đệ tử ruột đi nữa mà lén xem cũng bị tội tức thì. Huống
hồ anh là người ngoài. 
Tập-Chi kêu lên một tiếng rồi nói tiếp: 
- Khốn nạn thật ! Đáng chết ! Đáng chết ! 
Chiêm-Xuân càng nổi giận, nói: 
- Anh sắp chết đến nơi mà còn cả gan mắng sư phụ tôi phải không ? 
Tập-Chi đáp: 
- Tôi chửi thì đã sao nào ? Chẳng lẽ tôi chửi oan  ? Tôi đi qua núi Bạch-Ngưu thì ngẫu
nhiên thấy sư phụ cô luyện kiếm. Lòng hiếu kỳ thúc đẩy tôi mới đứng lại xem một hồi. Tôi
đâu phải là một người thông minh tài trí tới mức chỉ đứng xem một lúc mà đã học được hết
pho kiếm pháp đó ? Nếu quả thật tôi có bản lãnh như thế thì mấy tên đệ tử Côn-Luân đã
làm gì nổi tôi nào ? Chiêm cô nương, nói thật cho cô nương hay, sư phụ của cô là
Thiên-Cầm Tiên Sinh nhỏ nhen quá. Đừng có nói là tôi chưa học được một thế hay nửa
miếng của pho kiếm ấy mà dù tôi có học được đôi chút đi nữa, tội của tôi cũng không đến
nỗi chết kia mà. 
Chiêm-Xuân lẵng lặng, lòng nghĩ thầm: 
- "Sư phụ mình cũng quá câu chấp. Thấy anh Tập-Chi lén xem luyện kiếm liền phái sáu sư
huynh ta đuổi theo và bắt giết. Nếu không, ta đâu đến nỗi toi mạng như thế này ? Người nầy
nói là y chưa học lóm võ công của sư phụ chắc thật chớ không phải bịa đặt đâu". 
Tập-Chi lại tiếp: 
- Thế sư phụ cô đưa ám khí bôi độc cho các cô mà không đưa cho thuốc giải phải không ?
Đấy, cô xem, trong võ lâm có một trưởng môn nào lại có thủ đoạn hèn như thế không ? Đồ
khốn nạn... 
Chiêm-Xuân dịu giọng nói: 
- Tô đại ca, tiểu muội hại anh như vậy, trong lòng bứt rứt vô cùng. Nhưng, bây giờ tôi cũng
chết theo anh, có lẽ là số kiếp chúng ta như vậy. Chỉ tội nghiệp cho đại tẩu, công tử và tiểu
thơ ở nhà thôi. Tôi thật ăn năn quá. 
Tập-Chi thở dài nói: 
- Hai năm trước, nhà tôi đã chết vì đau ốm, chỉ còn lại một đứa con trai và một đứa con gái
thôi. Ngày mai, chúng nó sẽ mồ côi, đã không mẹ nay còn mất cha ! 
- Nhà anh còn những ai nữa ? Có ai trông nom hai đứa trẻ đó không ? 
- Lúc nầy, chúng đang được chị dâu tôi trông nom. Tánh nết của chị dâu tôi nóng nảy và
điêu ngoa. Lúc nhà tôi còn sống, chị dâu tôi còn nể nang phần nào. Ôi ! Từ nay trở đi hai
đứa trẻ sẽ khổ sở vô cùng. 
Chiêm-Xuân là người rất tốt bụng, nghe Tập-Chi nói, ứa nước mắt và khẽ đáp: 
- Tất cả mọi việc đều do em gây nên cả. 
- Điều nầy không thể trách cô được. Cô thừa lệnh rất nghiêm của sư phụ cô chớ cô có thù gì
tôi đâu. Sự thật tôi bị cô ném phải ám khí có chất độc tôi chết đã đành, hà tất tôi còn đánh
cô một chưởng và dùng ám khí ném lại cô như thế. Bằng không nếu tôi nói thật sự tình cho
cô hay, thì cô là người nhân từ chắc cô cũng chịu trông hộ hai trẻ cho tôi. 
- Tôi là hung thủ đã giết anh, sao anh lại còn bảo tôi là người nhân từ ? 
- Tôi không trách cô. Thực đấy ! Tôi không trách cô đâu ! 
Lúc nãy hai người đánh nhau trí mạng, bây giờ hai người lại an ủi nhau. 
Nghe tới đó Vô-Kỵ liền nghĩ thầm: 
- "Hai người nầy tâm địa đều hiền lành cả, huống hồ nhà người họ Tô lại còn hai đứa trẻ mồ
côi không ai nuôi nấng dạy bảo." 
Đoạn, Vô-Kỵ nghĩ tới đời sống cô đơn của mình với Bất-Hối, quả thật là gian truân khổ sở
vô cùng, nên y liền đi ra khỏi bụi lau lên tiếng hỏi: 
- Chiêm cô nương, thuốc độc bôi trên Tán-Môn-Đinh kia là thứ thuốc độc gì thế ? 
Tập-Chi và Chiêm-Xuân đột nhiên thấy từ trong bụi lau có một thiếu niên và một thiếu nữ
chui ra, ngạc nhiên vô cùng. Lại nghe Vô-Kỵ hỏi, cô càng kinh ngạc thêm. Vô-Kỵ nói tiếp: 
- Tại hạ hơi biết chút y học, vết độc thương của hai vị may ra có thể chữa khỏi được, hồ quí
cô nương nói rõ thuốc đó thuộc loại gì ? 
Chiêm-Xuân đáp: 
- Thuộc loại thuốc độc gì  ? Tôi cũng không được biết, chỉ thấy vết thưng ngứa lắm mà
không đau chút nào. Theo lời nói của sư phụ tôi thì ai bị Tán-Môn-Đinh ném trúng, chỉ
sống được bốn tiếng đồng hồ là cùng. 
Vô-Kỵ nói tiếp: 
- Để tôi xem thử vết thương của hai vị ra sao ? 
Tập-Chi và Chiêm-Xuân thấy Vô-Kỵ còn ít tuổi, quần áo lại lam lũ, mặt mũi tiều tụy, trông
như một tên ăn xin vậy thì làm sao tin được y có thể chữa khỏi cho mình. 
Tập-Chi lại nói: 
- Hai chúng tôi chết đến nơi rồi, cậu đừng ở đây nói lôi thôi nữa. Cậu làm ơn đi xa hộ chúng
tôi. 
Vô-Kỵ không trả lời, cứ việc cúi xuống nhặt mũi Tán-Môn-Đinh đưa lên mũi ngửi. Những
ngày gần đây, hễ được rỗi rãi là Vô-Kỵ giở cuốn Độc Vật Đại Toàn của Nạn-Cô ra nghiên
cứu, nên rõ hết tất cả những độc vật, độc dược trên đời. Y ngửi mùi thơm thơm đó, biết
ngay thuốc độc bôi ám khí lấy ở một thứ hoa độc tên là Thanh-Đà-La. Thứ hoa nầy vốn dĩ
không có độc tính; dù uống cả một bát nước hoa đó cũng không việc gì, nhưng chất ấy hòa
hợp với máu tươi thì biến thành một chất độc rất nặng, và mùi đang tanh hôi biến thành mùi
thơm của hoa Lan. Vô-Kỵ liền lên tiếng nói: 
- ám khí nầy bôi chất độc của hoa Thanh-Đà-La đấy. 
Chiêm-Xuân không biết ám khí đó bôi bằng thuốc độc gì, nhưng nàng biết trong vườn hoa
của sư phụ có trồng Thanh-Đà-La nên nàng ngạc nhiên và hỏi: 
- Sao cậu lại biết ? 
Vì nàng biết hoa Thanh-Đà-La này là một thứ hoa độc, xuất xứ ở Tây-Vực chớ ở trong
Trung-Thổ nầy hiếm lắm. Vô-Kỵ gật đầu đáp: 
- Tất nhiên tôi có biết thì tôi mới nói. 
Nói xong, y dắt tay Bất-Hối và bảo: 
- Chúng ta đi thôi ! 
Chiêm-Xuân vội gọi lại: 
- Chú em nếu chú biết cách chữa thì làm ơn cứu hai chúng tôi với. 
Sự thật Vô-Kỵ có lòng muốn cứu hai người đó nhưng y sực nghĩ tới bộ mặt hung ác của
Dãn-Tiệp và Công-Viễn đang đòi ăn thịt người, liền sờn lòng quyết không chữa cho hai
người nầy nữa. Tập-Chi cũng lên tiếng: 
- Cậu em, vừa rồi tại hạ có mắt mà không biết Thái-Sơn, xin cậu đừng trách cứ nữa nhé ! 
Vô-Kỵ nghe hai người nói như vậy, nghĩ ngợi giây lát rồi đáp: 
- Thôi được, để tôi chữa thử xem. 
Nói xong, y liền giơ tay ra điểm vào yếu huyệt giữa ngực và hai bên vai của Chiêm-Xuân để
cho nàng khỏi đau đã, rồi lên tiếng nói: 
- Chất hoa Thanh-Đà-La nầy hễ gặp máu mới sinh ra độc, nên dù có uống vào trong bụng
cũng không hề gì. Hai vị trước hết hãy lấy mồm hút chất độc ở vết thương ra, hút tới khi
nào thấy vết máu trong vết thương đã tươi mới thôi ! 
Tập-Chi và Chiêm-Xuân nghe vậy đều ngượng ngập, nhưng họ nghĩ lại cứu sống tánh mạng
quan trọng hơn mà vết thương của người nào cũng vậy, tự mình không thể nào hút lấy được,
đành phải lần lượt hút máu độc lẫn cho nhau. 
Vô-Kỵ kiếm quanh đó lấy được hai vị thuốc, bỏ vào mồm nhai nát rồi rịt lên vết thương cho
hai người, kế nói: 
- Ba vị thuốc nầy có thể khiến cho hơi độc tạm thời không thể lâm nguy. Chúng ta hãy tới
thị trấn phía đàng kia, tôi sẽ đến tiệm thuốc hốt vài thứ thuốc để chữa độc thương cho hai vị.
Vết thương của hai người đang ngứa ngáy khó chịu, sau khi rịt thuốc sống của Vô-Kỵ vào
liền cảm thấy mát mẻ dễ chịu ngay, đồng thời cũng cảm thấy chân tay không còn tê tái nữa.
Cả hai đồng cảm ơn Vô-Kỵ luôn mồm đoạn bẻ một cành cây làm gậy để chống, rồi từ từ
tiến về phía thành thị. 
Trong khi đi đường, Chiêm-Xuân hỏi Vô-Kỵ là học trò của ai. Vô-Kỵ không muốn nói rõ,
chỉ bảo mình biết chữa từ hồi nhỏ thôi. 
Đi được một lúc lâu, bốn người tới Sa-Hà-Điếm, liền vào khách điếm nghỉ ngơi. Vô-Kỵ vội
viết một toa thuốc bảo phổ kỵ đi hốt. 
Cũng may, năm đó tỉnh Hà-Nam chưa hề bị thiên tai nên dân cư còn bát cơm và manh áo
mặc. Mặc dầu thỉnh thoảng cũng bị quan binh Mông-Cổ tới quấy nhiễu, nhưng ở thị trấn
Sa-Hà-Điếm nầy các tiệm buôn bán vẫn mở cửa như thường. Phổ kỵ cầm toa thuốc của
Vô-Kỵ đi hốt thuốc về, Vô-Kỵ liền đem thuốc vào bếp sắc hộ, rồi mang ra cho Chiêm-Xuân
và Tập-Chi uống. 
Bốn người ở khách điếm đó luôn ba ngày, ngày nào Vô-Kỵ cũng thay đổi toa thuốc hay
thay thuốc rịt bên ngoài. 
Đến ngày thứ tư, Tập-Chi và Chiêm-Xuân đã lành mạnh như thường, cả hai đều cám ơn
Vô-Kỵ khôn tả. Họ hỏi Vô-Kỵ và Bất-Hối định đi đâu thì Vô-Kỵ liền cho biết là mình và
Bất-Hối định lên Tọa-Vong-Phong trên núi Côn-Luân. 
Chiêm-Xuân liền nói: 
- Tô đại ca, tánh mạng của chúng ta còn là nhờ chú em nầy. Nhưng năm vị sư huynh của tôi
còn đang đi khắp nơi tìm kiếm đại ca, như vậy việc nầy vẫn chưa kết liễu đâu, chi bằng đại
ca đi cùng chúng tôi lên núi Côn-Luân một phen có hơn không ? 
Tập-Chi nghe nói kinh ngạc hỏi: 
- Lên núi Côn-Luân  ? 
Chiêm-Xuân đáp: 
- Phải, tôi dẫn đại ca lên núi Côn-Luân bái kiến sư gia và thưa rõ với sư gia là đại ca chưa
học lóm được một thế hay nửa miếng Long Hình Nhất Bút kiếm. Nếu được gia sư lượng thứ
cho, đại ca không còn bị quấy nhiễu nữa. Bằng không, hậu quả sẽ không sao tưởng tượng
được. 
Tập-Chi nghe nói, trong lòng tức giận vô cùng, hầm hực nói: 
- Phái Côn-Luân của cô nương hà hiếp người ta quá lắm, tôi chỉ nhìn có một cái thôi mà
suýt tý nữa bị xuống âm phủ. 
Chiêm-Xuân với giọng nhu mì khuyên chàng: 
- Tô đại ca nên nghĩ hộ tiểu muội, việc nầy, kể ra rất khó. Tôi nói cho gia sư hay là đại ca
chưa học một thế kiếm nào, chưa chắc gia sư đã tin đâu. Tiểu muội bị khiển trách cũng
không sao, nhưng rủi năm vị sư huynh của tiểu muội lỡ tay đã thương đại ca thì tiểu muội
thật áy náy vô cùng. 
Hai người vào chết ra sống cùng chung hoạn nạn trong mấy ngày liền nên đã nẩy nở tình
yêu, yêu dấu lẫn nhau do đó Tập-Chi nghe Chiêm-Xuân nói như vậy, bao nhiêu sự tức tối
đều tiêu tan. 
Chàng lại nghĩ: 
- "Phái Côn-Luân người nhiều thế mạnh, nếu chúng cứ theo dõi mà quấy nhiễu ta, không
sớm thì chầy tánh mạng ta cũng sẽ bị kết liễu". 
Chiêm-Xuân thấy Tập-Chi ngẩn người ra nghĩ ngợi, liền nói tiếp: 
- Đại ca cứ đi cùng tôi một phen, nếu đại ca có việc gì rất khẩn cấp, thì chờ đi Côn-Luân
xong tiểu muội sẽ giúp đại ca làm xong việc đó. 
Tập-Chi cả mừng đỡ lời: 
- Được, cứ thế vậy. Nhưng không biết tôn sư có chịu tin lời nói đó không ? 
- Xưa nay sư phụ vẫn cưng em, nếu em cứ khăng khăng van cầu thì chắc gia sư cũng sẽ tha
thứ cho anh. 
Tập-Chi biết là nàng đã có lòng yêu mình, nên chàng cũng cảm thấy cởi mở vô cùng, liền
nói với Vô-Kỵ: 
- Chú em, chúng ta cùng lên núi Côn-Luân cả. 
Chiêm-Xuân cũng xen lời nói: 
- Dãy núi Côn-Luân dài hàng nghìn dặm và có rất nhiều ngọn không biết Tọa-Vong-Phong
ở nơi nào. Mình cứ tới đó đã rồi hỏi thăm thì thế nào cũng sẽ kiếm ra được. 
Ngày hôm sau, Tập-Chi thuê một chiếc xe lớn để cho Vô-Kỵ và Bất-Hối ngồi, còn mình và
Chiêm-Xuân cưởi ngựa. Đi tới thị trấn lớn ở phía trước, Chiêm-Xuân lựa mua mấy bộ quần
áo mới cho Vô-Kỵ và Bất-Hối mặc. Hai người tắm rửa và thay quần áo xong, Tập-Chi thấy
Vô-Kỵ rất anh tuấn và Bất-Hối cũng xinh đẹp lạ lùng, đều vỗ tay khen ngợi. Bắt đầu từ lúc
này trở đi, hai đứa nhỏ mới khỏi cảnh đi đường khổ sở, ăn được ngon, ngủ kỹ, thân thể cũng
khỏe mạnh và béo tốt dần. 
Càng đi, tiết trời càng lạnh. Suốt dọc đường nhờ Tập-Chi và Chiêm-Xuân trông nom cho, vì
hai người đều là những nhân vật có tên tuổi trong võ lâm nên đi suốt dọc đường được bình
an. Khi tới Tây-Vực, Vô-Kỵ mới hay thế lực của phái Côn-Luân quả thật hùng hậu nên bốn
người đi đến đâu cũng không bị ngăn cản. 
Nhưng ở miền Tây-Bắc nầy, cát vàng rất nhiều và gió lạnh buốt xương. Vô-Kỵ còn có thể
chịu nổi, chớ Bất-Hối thì suốt ngày run cầm cập. Không bao lâu, đã tới eo núi Tam-Thánh
của dãy núi Côn-Luân, rồi khi vào trong eo núi, mọi người chỉ thấy cỏ xanh mọc khắp nơi
có rất nhiều hoa thơm cỏ lạ. Tập-Chi với Vô-Kỵ đều không ngờ trong cõi hoang vu giá lạnh
nầy lại có cảnh đẹp nh động tiên. Thì ra eo núi Tam-Thánh nầy bốn bề đều có vách núi
ngăn cản gió lạnh nên cảnh trong eo nầy mới được tươi đẹp như thế. Đồng thời, từ khi
Côn-Luân Tam-Thánh Hà-Túc-Đạo lập môn phái, trong bảy tám mươi năm trời, đã tốn
không biết bao hơi sức để chỉnh đốn và còn sai đệ tử đi Giang-Nam, Thiên-Trúc bứng đem
về những hoa thơm cỏ lạ trồng cho thêm đẹp. 
Chiêm-Xuân đưa ba người tới Thiết-Cầm-Cư, chỗ ở của Thiết-Cầm Hà-Thái-Xung. Vừa vào
đến cửa đã thấy các sư huynh đệ của nàng có vẻ gay cấn vô cùng. Những người đó chỉ gật
đầu chào nàng chớ không hề nói năng gì cả. 
Chiêm-Xuân nghĩ thầm: 
- "Không biết đã xầy ra chuyện gì mà các sư huynh đệ ta có vẻ gay cấn như thế." 
Đoạn nàng kéo một người sư muội lại gần hỏi: 
- Sư phụ có ở nhà không ? 
Người sư muội đó chưa kịp trả lời, nàng đã nghe tiếng quát tháo của Thái-Xung từ trong
nhà vọng ra: 
- Đồ vô dụng, vô dụng ! Có việc gì bảo các ngươi làm là không ai làm nên trò trống gì cả !
Như vậy, ta còn thâu các ngươi làm đệ tử làm chi ? 
Tiếp theo đó, nàng lại nghe tiếng đập bàn rất lớn, nàng khẽ nói với Tập-Chi: 
- Sư phụ em đang nỗi giận, chúng ta không nên vào yết kiến lúc nầy để sáng mai xem sao. 
Thái-Xung đột nhiên lớn tiếng hỏi: 
- Con Chiêm-Xuân đâu ? Nó về chưa ? Tại sao nó không vào gặp ta ? Nó lén lút nói với ai
bên ngoài thế ? Không biết nó có mang thủ cấp của họ Tô về đây không ? 
Chiêm-Xuân nghe sư phụ nói vậy biến sắc, vội vào nội đường quỳ xuống vái lạy và thưa: 
- Đệ tử xin bái kiến sư phụ. 
Thái-Xung lại hỏi: 
- Ta sai con đi làm việc đó, chẳng hay con làm xong chưa ? Còn tên tiểu tặc họ Tô đâu ? 
Chiêm-Xuân đáp: 
- Người họ Tô đang chờ đợi ngoài kia để vào thỉnh tội với sư phụ. Y nói chỉ là người ngu
dốt, chỉ tình cờ thấy sư phụ luyện kiếm, nhưng kiếm pháp của bổn phái tinh diệu vô cùng,
chẳng hiểu gì hết và cũng không học được nửa miếng. 
Nàng theo sư phụ lâu năm, biết tánh sư phụ rất tự phụ vì thế nàng cố ý nói Tập-Chi khen
ngợi võ công của thầy để Thái-Xung trong lòng cởi mở thì sẽ vui vẻ mà tha tội cho Tập-Chi.
Nếu là lúc thường mà nàng nói vậy thì Thái-Xung trúng kế nàng ngay. Nhưng hôm nay,
Thái-Xung đang nóng nảy, nên nghe Chiêm-Xuân nói vậy, chỉ dùng giọng mũi hừ một tiếng
và nói: 
- Việc này con đã làm xong, đáng khen lắm. Con hãy giam tên họ Tô vào thạch thất ở phía
hậu sơn để mai mốt ta sẽ xử y sau. 
Chiêm-Xuân thấy sư phụ đang nổi giận, không dám van lơn nữa, vâng lời ngay rồi nàng lại
hỏi thăm: 
- Thưa sư phụ, năm vị sư mẫu đều mạnh giỏi cả ? Để con vào trong vái lạy. 
Thì ra Thái-Xung có vợ và nàng hầu, tất cả năm người. Y cưng nhất người thiếp thứ năm.
Muốn cầu sư phụ tha tội cho Tập-Chi, Chiêm-Xuân định vào nhờ sư mẫu nói giúp. 
Ngờ đâu nàng vừa nói xong, Thái-Xung tỏ vẻ rầu rĩ, thở dài một tiếng và đáp: 
- Con vào thăm cô Năm đi, cô ấy đang đau nặng. Cũng may con về kịp mới được gặp mặt
cô ta. 
Chiêm-Xuân ngạc nhiên hỏi lại: 
- Cô Năm đau ra sao, chẳng hay bệnh gì thế, thưa sư phụ. 
Thái-Xung thở dài đáp: 
- Nếu biết là bệnh gì thì may mắn lắm rồi. Ta mời bảy thầy lang tên tuổi đến khám bệnh mà
thầy nào cũng không biết cô ta bệnh gì. Một người đẹp như hoa như ngọc mà sưng... Hà !
thôi, không nói nữa... 
Y vừa nói vừa lắc đầu lia lịa rồi tiếp: 
- Ta thâu bấy nhiêu đồ đệ mà không một tên nào là hữu dụng. Bảo chúng đi
Trường-Bạch-Sơn kiếm nhân sâm, mà gần hai tháng rồi chưa đứa nào trở về. Bảo chúng đi
kiếm Tuyết-Liên, Thủ-Ô về chữa cho cô Năm mà những tên đó đều về tay không cả. 
Chiêm-Xuân nghĩ thầm: 
- "Từ đây đi tới núi Trường-Bạch xa hàng vạn dặm, đi trong bao nhiêu lâu làm sao mà về
kịp được. 
Dù có tới núi Trường-Bạch cũng chưa chắc tìm đưc những củ nhân sâm thật già. Còn
Tuyết-Liên và Thủ-Ô là những thứ thuốc rất quí báu có thể cải tử hồi sinh, kiếm cả đời chưa
chắc đã thấy, nhứt thời đi tìm kiếm thì làm sao mà ra. 
Sư phụ yêu tiểu thiếp đó còn hơn cả tính mạng mình, nay bà ta mắc bệnh nặng và bất trị thì
tất nhiên ông ta phải nổi giận mà mắng lây những người khác." 
Thái-Xung lại nói tiếp: 
- Ta đã dùng nội lực để thăm kinh mạch của cô Năm thì thấy không có triệu chứng gì khác
lạ. Hừ, nếu cô Năm mà không khỏi thì ta sẽ giết hết cả những thầy lang trên thiên hạ nầy. 
Chiêm-Xuân chờ Thái-Xung nói xong, liền nói theo: 
- Con xin phép sư phụ vào thăm cô Năm. 
- Được, để sư phụ dẫn con vào. 
Chiêm-Xuân vừa bước vào phòng đã ngửi thấy sặc mùi thuốc. Nàng bèn vén màn lên, thấy
mặt cô Năm sưng vù tựa như Trư Bát Giái vậy, hai mắt sâu hõm, xung quanh mắt sưng đến
mí, mắt không sao mở lên được, hơi thở rất nặng. Cô Năm là một giai nhân tuyệt đẹp, bằng
không Thái-Xung đâu đến nỗi say mê nàng như vậy, nhưng lúc này nàng đau ốm, mặt mũi
trở nên xấu xí, cả Chiêm-Xuân cũng phải thương tiếc thầm. 
Thái-Xung lại bảo Chiêm-Xuân: 
- Con ra bảo những thầy lang băm ấy vào coi mạch lại xem sao. 
Nhưng, vú già hầu hạ trong phòng đã lẹ làng đi ra. Một lát sau, Chiêm-Xuân nghe tiếng
xích kêu "loon coon", tiếp theo đó là bảy thầy lang mặc áo dài đi vào, chân đều bị xiềng
xích sắt quấn chặt vào nhau. Người nào người nấy mặt mũi tiều tụy, thần sắc đau khổ. 
Thì ra bảy người nầy đều là những thầy lang có tên tuổi ở các tỉnh Tứ-Xuyên, Vân-Nam,
Cam-Túc... Thái-Xung sai đệ tử đi các nơi nửa thỉnh nửa bắt cóc đem lên núi Côn-Luân.
Bảy vị danh y đó mỗi người phát biểu một ý kiến, có người bảo cô Năm bị phù, có người
bảo cô Năm bị trúng tà. Nhưng các toa thuốc của họ đã viết đem đi hốt thuốc cho cô Năm
uống đều không làm cho bệnh cô Năm thuyên giảm tí nào trái lại, người của cô Năm càng
ngày càng sưng vù thêm, nên Thái-Xung nổi giận xiềng chặt bọn họ lại và bảo: 
- Nếu họ không chữa khỏi bệnh cho cô Năm, thì ta sẽ chôn sống họ theo trong mộ của cô
Năm. 
Bảy thầy lang đó đã nghĩ hết phương pháp mà không sao chữa cho cô Năm thuyên giảm.
Họ cũng biết không thể nào sống sót mà trở về quê quán nếu cô Năm có bề gì, nên mỗi lần
họ vào thăm bệnh xong trở ra ngoài là bàn tán về toa thuốc nầy, về toa thuốc kia và lớn
tiếng tranh luận, ông nầy công kích ông kia, vu cho nhau đã làm cho căn bệnh của cô Năm
nặng thêm chớ không ai chịu lỗi về mình cả. 
Lần nầy cũng vậy, vừa xem mạch xong là họ ra ngoài lại cãi vã nhau. Thái-Xung vừa lo,
vừa giận, vừa lớn tiếng mắng chửi họ. Nhờ vậy, bảy lang y đó mới không cãi vã nhau nữa. 
Chiêm-Xuân thấy vậy liền nghĩ tới Vô-Kỵ, nàng bèn thưa với Thái-Xung: 
- Thưa sư phụ con ở Hà-Nam có đưa về đây một vị lang y, tuổi tuy còn nhỏ nhưng mát tay,
thế nào cũng giỏi hơn những lang y kia nhiều. 
Thái-Xung cả mừng nói: 
- Sao con không nói sớm cho thầy hay ! Mau mời ông ta vào đây đi ! 
Thì ra, mỗi khi một danh y mời tới là Thái-Xung đối xử rất cung kính, nhưng khi danh y đó
trở nên lang băm thì y trở mặt. 
Chiêm-Xuân ra ngoài khách sảnh đưa Vô-Kỵ vào. Vừa thấy mặt, Vô-Kỵ nhận ngay ra
Thái-Xung là người trong bọn năm xưa đã lên núi Võ-Đang và bức tử cha mẹ mình nên y
tức giận thầm. Nhưng Thái-Xung không nhận ra y vì đã cách bốn năm năm rồi, vả lại tướng
mạo và thân hình của Vô-Kỵ đã thay đổi rất nhiều. Vô-Kỵ là một thiếu niên mười bốn mười
lăm tuổi, gặp Thái-Xung mà không thèm chấp tay thi lễ còn liếc mắt nhìn về phía khác.
Nhưng lúc nầy vì phải nhờ đến Vô-Kỵ nên y cũng không chấp nhất, bèn hỏi Chiêm-Xuân: 
- Con nói đưa thầy lang vào, vậy thầy lang ấy đâu ? 
Chiêm-Xuân đáp: 
- Chú em nầy là thầy lang đấy ! Tuy nhỏ tuổi nhưng y học của chú ấy rất cao, có lẽ giỏi hơn
cả các vị danh y kia nhiều. 
Có vẻ không tin, Thái-Xung chỉ dùng giọng mũi hừ một tiếng. Chiêm-Xuân lại nói: 
- Đệ tử bị trúng phải chất độc của hoa Thanh-Đà-La may nhờ chú em này chữa khỏi. 
Thái-Xung nghe nói cũng giật mình và nghĩ thầm: 
- "Trúng phải chất độc của Thanh-Đà-La mà không có thuốc giải độc của ta thì người trúng
độc thể nào cũng chết. Thằng nhỏ nầy chữa khỏi được chất độc đó kể cũng lạ thật" 
Đoạn y ngắm Vô-Kỵ một hồi rồi hỏi: 
- Thiếu niên kia, cậu biết chữa bịnh thật à ? 
Nghĩ đến cảnh cha mẹ mình đã chết một cách thê thảm nay lại thấy bộ mặt của Thái-Xung
hung ác, Vô-Kỵ càng ghét y. Nhưng vốn là người lương thiện, xa nay thù ai cũng vậy, chỉ
một thời gian ngắn thôi, bằng không, khi nào cậu chịu chữa bệnh cho Hiểu-Phù và bọn
Dãn-Tiệp. Cậu biết rõ phái Côn-Luân cũng có liên can tới cái chết của cha mẹ nhưng cậu
không thể bắt chước Hồ-Thanh-Ngưu, thấy chết không cứu, nên rốt cuộc cậu đã cứu chữa
cho Tập-Chi và Chiêm-Xuân. Cũng như lúc nầy chẳng hạn, cậu nghe Thái-Xung nói mình
như một đứa con nít, trong lòng tuy không vui, nhưng cậu vẫn gật đầu nhận chữa. 
Vô-Kỵ vừa bước chân vào trong phòng đã ngửi thấy mùi kỳ lạ xông lên mũi nhưng một lát
sau cậu đã thấy mùi kỳ lạ ấy phai lạt dần, rồi giây phút sau lại nồng lên như trước. Y ngạc
nhiên vô cùng, bèn tiến tới giường cô Năm, ngắm nhìn mặt cô ta một hồi, kế nắm tay thăm
mạch rồi đột nhiên lấy một cây kim vàng ra chăm luôn vào bộ mặt sưng vù của nàng.
Thái-Xung kinh hãi, vội quát hỏi: 
- Cậu làm gì thế ? 
Y vừa quát vừa giơ tay định kéo Vô-Kỵ lại, nhưng Vô-Kỵ đã rút mũi kim kia ra. Có một
điều lạ là mặt Cô Năm không có nước vàng hay máu mủ gì rỉ ra cả. Thái-Xung để một tay ở
phía sau lưng Vô-Kỵ, định điểm vào yếu huyệt của cậu, nếu y thấy nàng thiếp của y lâm
nguy. Sau y thấy cô Năm vẫn nằm yên, nên thâu tay lại. Vô-Kỵ đưa mũi kim lên mũi ngửi,
gật đầu mấy cái. Lúc nầy, Thái-Xung mới thấy có chút ít hy vọng, và lên tiếng hỏi: 
- Cậu... cậu em... xem bệnh của tiện nội có hy vọng chữa khỏi không ? 
Y là tôn trưởng của một môn phái, mà chịu Vô-Kỵ là cậu em như thế, kể ra cũng nể Vô-Kỵ
vô cùng. 
Vô-Kỵ không trả lời, bỗng cúi mình chui luôn vào gầm giường cô Năm xem xét một hồi rồi
lại mở cửa sổ ngó ra ngoài vườn hoa. Thấy cử chỉ của Vô-Kỵ, Thái-Xung cũng ngạc nhiên
vô cùng. Vô-Kỵ lại nhảy qua cửa sổ, thưởng thức các thứ hoa thơm cỏ lạ ngoài vườn. Cô
Năm ưa trồng hoa, nên trong vườn đó đều trồng những thứ hoa rất quý. 
Một lát sau, Vô-Kỵ gật đầu mấy cái, hình như đã nghĩ ra được phơng pháp cứu chữa, rồi
quay trở vào trong phòng, và trả lời Thái-Xung: 
- Bệnh này có thể chữa khỏi, nhưng tôi không muốn chữa. Chiêm cô nương, chúng ta đi ra
thôi. 
Chiêm-Xuân vội khuyên: 
- Chú em họ Trương, nếu chú chữa khỏi bệnh cho cô Năm thì phái Côn-Luân này, từ già chí
trẻ, đều chịu ơn đức của chú vô cùng. 
Vô-Kỵ chỉ vào mặt Thái-Xung, đáp: 
- Thiết-Cầm tiên sinh đây cũng là người đã bức tử cha mẹ tôi, như vậy, tôi chữa bịnh cho
người của ông làm gì ! 
Thái-Xung nghe Vô-Kỵ nói vậy, giật mình kinh ngạc và vội hỏi: 
- Chú em quí tính danh là gì ? Lệnh tôn và lệnh đường là ai ? 
Vô-Kỵ đáp: 
- Tôi họ Trương, phụ thân tôi đệ tử thứ năm của phái Võ-Đang. 
Thái-Xung rùng mình nghĩ thầm: 
- "Thế ra thiếu niên này là con trai của Trương-Thúy-Sơn !" 
Đoạn, y bèn vái chào Vô-Kỵ và nói tiếp: 
- Hồi lệnh tôn còn sống cùng tại hạ kết giao rất thân. Từ khi lệnh tôn tự sát qua đời tới giờ,
tại hạ vẫn thương tiếc luôn... 
Muốn nhờ vả Vô-Kỵ cứu chữa cho người hầu thiếp cưng của mình, Thái-Xung mới nói láo
như vậy. Chiêm-Xuân cũng nói giúp sư phụ: 
- Sau khi lệnh tôn và lệnh đường quá cố, gia sư đã khóc mấy ngày và thường nói với chúng
tôi rằng: "Trương ngũ hiệp là bạn tri kỷ nhất trong đời của gia sư đấy." 
Vô-Kỵ bán tín bán nghi, nhưng xưa nay tính cậu không hay nhớ dai những mối thù hận, nên
ngẫm nghĩ giây lát, liền đáp: 
- Phu nhân không phải mắc bệnh quái dị gì đâu. Bà bị rắn độc Kim-Ngân Huyết-xà cắn đấy.
Thái-Xung với Chiêm-Xuân đồng thanh hỏi: 
- Kim-Ngân Huyết-xà  ?
 

[ Home | Truyện Ngắn | Truyện Tiểu Thuyết | Truyện Kiếm Hiệp | Truyện Trạng ]

SaigonInfo.com