CÔ
GÁI ĐỒ LONG - HỒI 34
Cùng
đi Côn-Luân
Kim Dung
Đoạn Từ-Đạt
day lại chỉ nhà sư mặt mày hung
tợn, có rất nhiều vết thẹo,
hai mắt hỏm sâu
nhưng rất
có thần nói thêm:
- Đây là
Chu đại ca, tên là Nguyên-Chương,
hiện đang tu ở chùa Hoàng-Giác,
hình thù xấu
xí nhưng
bụng dạ rất tốt.
Hoa-Vân vừa
cười vùa xen vào:
- Anh ấy là
Hoà thượng rất phong lưu vì
không phải tụng kinh niệm Phật mà
suốt ngày chỉ
ăn thịt,
uống rượu bằng thích.
Bất-Hối
thấy Nguyên-Chương xấu xí như
vậy, trong lòng thêm hãi sợ càng
núp sát vào sau
lưng Vô-Kỵ.
Nguyên-Chương vừa cười
vừa nói:
- Tôi là
hòa thương, tuy ăn thịt, nhưng không
thèm ăn thịt người như những
kẻ khác đâu, cô
em đừng
sợ mỗ.
Thanh-Hòa cũng
lên tiếng:
- Nồi thịt
bò của chúng ta đang nấu ở
trong chùa, chắc đã chín rồi.
Hoa-Vân đã
vội tiếp:
- Thôi, chúng
ta hãy trở về chùa đánh
chén đi. Cô em nầy để tôi
cõng cho.
Y vừa nói
vừa cõng Bất-Hối, rồi lớn
bước đi ngay. Vô-Kỵ thấy
những người ấy vui vẻ và
tốt
bụng trong lòng
cũng mừng thầm, liền đi theo
bọn họ. Đi được bốn
năm dặm, đã tới một cái
chùa, xuyên
qua đại điện, đã ngữi
được mùi thịt bò rất
thơm ngon. Ngô-Lương vội la:
- Thịt đã
chín rồi !
Từ-Đạt
nói:
- Chú em họ
Trương ở đây nghỉ ngơi,
để chúng tôi đi bưng thịt
bò ra cho ăn.
Vô-Kỵ với
Bất-Hối, ngồi sát nhau trên một
tấm thảm bồ đoàn ở giữa
đai điện.
Nguyên-Chương,
Từ-Đạt, Thanh-Hòa, Đặng-Dư,
mỗi người một tay bưng từng
bát, từng
chậu thịt
bò ra. Anh em Ngô-Lương, Ngô-Chính
thì xách tĩn rượu trắng
đi theo. Thế rồi,
mọi người
xúm quanh lại trước bàn thờ
ăn nhậu một cách sung sướng
vô cùng.
Hoa-Vân nói:
- Từ đại
ca, Vô-Kỵ, với Bất-Hối đã
đói bụng mấy ngày rồi, lúc
này hai đứa nó được
ăn thịt
bò, tất
nhiên đều sung sướng hơn
cả những người kia.
Hoa-Vân bỗng
lên tiếng:
- Từ đại
ca này, giáo quy của chúng ta điều
nào cũng tốt riêng có điều
cấm ăn thịt là hơi
hỏng thôi.
Vô-Kỵ nghe
nói, rùng mình kinh hãi thầm nghĩ:
- "Thì ra những
người này đều theo Minh-Giáo
cả. Quy luật của Minh-Giáo chỉ cho phép
ăn
rau đậu
và lễ Ma vương. Sao họ lại ăn
thịt bò như thế này ?"
Từ-Đạt
đáp:
- Yếu nghĩa
thứ nhứt của Minh-Giáo chúng
ta là phải hành thiện khứ ác,
ăn thịt như thế này
tuy không nên
phải thực, nhưng điều này
chỉ là điều cấm thứ yếu
thôi. Hiện giờ nơi đây,
không có
gạo, không có rau đậu, nếu chúng
ta không ăn thịt bò thì ngồi
chịu chết đói sao ?
Đặng-Dư
vỗ tay tán thành:
- Từ đại
ca sáng suốt và nói rất hợp
lý. Thôi, chúng ta ăn đi.
Trong lúc mọi
người đang cao hứng ăn nhậu,
bỗng nghe có tiếng chân người
đi tới, tiếp
theo có tiếng
gõ cửa.
Thanh-Hòa nhảy
phắt lên la lớn:
- Nguy tai ! Người
nhà của Trương viên ngoại tới
kiếm con bò chăng ?
Chàng vừa
nói dứt, đã nghe tiếng cửa
chùa bị có người đẩy
ra, và liền theo đó gia đinh vênh
váo đi
vào. Một trong hai tên đầy tớ
ấy lên tiếng trước:
- Giỏi lắm
! Thì ra con bò đực lớn
của Trương viên ngoại đã
bị các ngươi ăn trộm và
hiện
đang ăn
vụng ở nơi đây ! Chứng
cớ hẳn hòi, các ngươi
không còn chối cãi được
nữa đấy nhé
?
Nói xong, tên
ấy túm luôn ngực Nguyên-Chương
còn tên kia thì lớn tiếng mắng
chửi:
- Ngày hôm
nay tang chứng đầy đủ, xem các
người còn chạy chối đàng
nào. Ngày mai
chúng ta sẽ
đưa các ngươi lên quan, để
các nha sai đánh cho các ngươi
một trận đòn chí
chết mới
thôi.
Nguyên-Chương
vừa cười vừa đáp:
- Hai ngươi
nói bậy thật, sao hai ngươi dám
vu oan cho chúng ta ăn trộm con bò của
Trương
viên ngoại
? Ta là người tu hành, ngươi
đổ cho ta ăn thịt không sợ
mang tội ?
Tên ác
bộc chỉ vào bát và chậu thịt
bò, quát hỏi:
- Những
bát và chậu nầy không đựng
thịt bò thì còn thịt gì nữa
?
Nguyên-Chương
đưa mắt ra hiệu, rồi lại cười
hì hì đáp:
- Ai bảo là
thịt bò ?
Hai tên Ngô-Lương,
Ngô-Chính đi tới phía sau lưng
hai tên ác bộc, quát lớn một
tiếng, rồi
nắm chặt
hai cánh tay, khiến chúng không sao cử
động được.
Nguyên-Chương
rút một con dao găm ra, vừa cười
vừa nói:
- Không dám
nói dối hai vị đại ca, thịt
chúng tôi đang ăn đây là
thịt người, chớ không phải
thịt bò
! Hôm nay, chúng tôi đã để
cho hai vị thấy, đành phải ăn
nốt hai vị để diệt khẩu, chớ
biết làm
sao bây giờ ?
Vừa nói
dứt chàng đã xé toạt
áo của một tên ác bộc ra, và
đưa mũi dao lên khẽ cứa
qua một
cái, máu
tươi rỉ ra.
Tên ác
bộc ấy hãi sợ vô cùng,
vội quỳ xuống van lạy:
- Xin... quý
vị... tha...
Nguyên-Chương
vội lượm một nắm thịt bò
nhét luôn vào mồm hai tên ác
bộc và quát lớn:
- Nuốt ngay đi.
Hai tên ấy
không dám nhai, cứ vội nuốt trọng,
mặt nhăn nhó, trông thật tức
cười.
Nguyên-Chương
lại đi xuống bếp, lấy một nắm
lông bò lên, cũng nhét vào
mồm, bắt hai tên
ấy nuốt
như trước. Thấy hai tên ác
bộc đã cố nuốt hết nắm
lông bò ấy rồi, Nguyên-Chương
lại nói
tiếp:
- Hai ngươi
đi nói cho viên ngoại hay là chính
ta đã ăn trộm con bò đực
của ông ta và cũng
đã làm
thịt ăn mất trồi. Chúng ta vui lòng
mỗ bụng ra đối chất, xem ai ăn
thịt bò mà không
cạo sạch
lông ?
Nói xong chàng
lật ngược con dao, dùng sóng dao
lướt qua bụng tên nọ một cái.
Tên ấy vừa
cảm thấy
con dao lạnh buốt lướt qua bụng,
đã sợ hãi, thét lớn
một tiếng.
Anh em họ Ngô
ha hả cười, giơ chân lên
đá vào đít hai tên nọ
một cái thật mạnh. Hai tên nọ
bị đá
bắn ra ngoài điện, mọi người
mới yên trí ăn nhậu, vừa
cười vừa mắng chửi
hai tên ác
bộc, thường
ngày đã ỷ vào thế lực
của Trương viên ngoại hà hiếp
người lành. Lần nầy,
chúng sợ
bị mỗ bụng đối chất, nhứt
định chúng không dám nói cho
viên ngoại biết chuyện
chúng ta ăn
trộm bò đâu. Vô-Kỵ vừa
buồn cười vừa phục thầm
hành động của những người
đó, liền
nghĩ:
- "Mặt mũi
của hòa thượng họ Chu nầy
tuy khó coi, nhưng anh ta hành sự rất
nhanh nhẩu và
chế ngự
hai tên kia không cử động được
và cũng không nói lời nào
vào đâu được. Thủ
đoạn
của anh ta lợi
hại vô cùng."
Bọn Thanh-Hòa,
Đặng-Dư đã nghe Từ-Đạt
kể cho biết rồi, nên họ đều
rõ chuyện Vô-Kỵ hy
sinh tánh mạng
để cứu Bất-Hối, ai nấy
đều yêu mến Vô-Kỵ là
một thiếu niên hiệp nghĩa và
coi cậu như
một người bạn thân, cứ
tiếp mời rượu thịt luôn.
Mọi người uống đã ngà
ngà say.
Đặng-Dư
thở dài và nói:
- Người
Hán chúng ta bị bọn Mông-Cổ
đè nén đau khổ biết bao, hôm
nay còn làm cho
chúng ta không
có cơm ăn, hoàn cảnh thế này
làm sao sống được ?
Hoa-Vân vỗ
đùi tiếp lời:
- Chúng ta đã
thấy dân chúng ở phủ Phụng-Dương
nầy chết gần phân nửa. Theo
ý tôi thì
trên thiên
hạ nầy đâu đâu cũng thế
thôi, nếu cứ ngồi yên mà
chịu chết đói thà đi thí
mạng
với bọn
Thát-Đát còn hơn.
Từ-Đạt
cúng lớn tiếng nói:
- Ngày nay, mạng
người không bằng mạng chó,
mạng heo cũng như chú em và cô
em đây,
suýt tí
nữa thì bị chui vào bụng người
khác rồi. Khắp thiên hạ, có
không biết bao nhiêu
lương dân
trở thành bò dê, chúng ta là
đấng nam nhi đại trượng phu,
nếu lúc nầy không ra
tay cứu
mọi người thì còn gọi làm
sao được là anh hùng hào
kiệt nữa ?
Thanh-Hòa cũng
xen lời nói:
- Phải đấy
! Hôm nay chúng ta may mắn trộm một
con bò đực về ăn. Ngày
mai, chưa chắc
chúng ta sẽ
lấy trộm được như vậy
nữa.
Vả lại,
vô số anh hùng hào kiệt cũng
không đủ ăn đủ mặc như
ta, chẳng lẽ họ đi làm giặc
hết sao ?
Mọi người
càng nói càng tức giận, cứ
luôn mồm chửi bọn quan binh Mông-Cổ
hại người.
Nguyên-Chương
bèn lên tiếng nói:
- Chúng ta cứ
ở đây chửi đổng như
vậy, chẳng hay đã làm rụng được
cái lông nào của bọn
Mông-Cổ
chưa ? Nếu ai là người có
cốt khí đi giết quân Mông-Cổ
ngay có hơn là ngồi đây
chửi đổng
không ?
Thanh-Hòa, Đặng-Dư,
anh em họ Ngô, Hoa-Vân đều đồng
thanh la lớn:
- Đi ! Đi
!
Từ-Đạt
lại nói:
- Chu đại
ca, đại ca còn làm cái trò
hòa thượng nầy nữa không
? Chắc đại ca đã chán ghét
cái trò
ấy phải không ? Trong tất cả anh em
đây, anh là người lớn
tuổi, chúng tôi xin ủng hộ
anh làm thủ
lãnh.
Nguyên-Chương
không từ chối, liền đáp:
- Ngày hôm
nay chúng ta cùng đồng sinh cộng tử,
có phúc cùng hưởng, có
họa cùng gánh.
Mọi người
cùng cầm bát rượu lên uống
cạn, rút dao ra chém xuống mặt bàn
thật là hào khí
vô cùng.
Bất-Hối
cứ trợn tròn hai mắt nhìn
mọi người, không hiểu họ nói
những gì, trong lòng có vẻ
sợ hãi.
Còn Vô-Kỵ đang nghĩ:
- "Thái sư
phụ đã dặn ta luôn, là chớ
có làm quen với những người
trong Ma-Giáo, nhưng ta
thấy Ngộ-Xuân
đại ca và Từ đại ca đây
đều là người trong Ma-Giáo
cả, mà lại tốt bụng gấp
bọn Dãn-Tiệp,
Công-Viễn những đệ tử
của danh môn chánh phái gấp vạn
lần !"
Xưa nay Vô-Kỵ
vẫn kính phục Trương-Tam-Phong, nhưng
từ khi được từng trải
thì y nhận
thấy sự
nhận xét người trong Ma-Giáo của
thái sư phụ hơi thiên một chút.
Tuy vậy y vẫn
không dám
trái lời dạy bảo của thái
sư phụ. Nguyên-Chương lại nói:
- Người
hảo hớn đã nói là phải
làm. Lúc nầy chúng ta đều
no bụng cả rồi thì chúng ta phải
hành sự
ngay đi. Ngày hôm nay, nhà Trương
viên ngoại đang thiết tiệc đãi
bọn quan quân
Mông-Cổ,
chúng ta hãy đi tới đó
giết bọn giặc cướp nước
ấy trước.
Hoa-Vân đáp:
- Hay lắm ! Hay
lắm !
Nói xong y bèn
cầm dao đứng dậy, Từ-Đạt
vội cản lại:
- Khoan đã
!
Đoạn chàng
vào trong bếp lấy ra một tay nảy đựng
mười mấy cân thịt bò,
đưa cho Vô-Kỵ và
nói:
- Chú em họ
Trương còn ít tuổi nên không
thể nào theo chúng tôi để chém
giết bọn cướp
nước
được. Vậy chú em hãy đi
đi. Trước khi chia tay, chúng tôi
đã nghèo xác xơ, trong túi
không có
nửa phân bạc, chỉ có mấy
cân thịt bò nầy để tặng
chú em lên đường. Nếu
may ra
chúng tôi
không chết thì sau nầy chúng ta sẽ
được dịp gặp nhau, và sẽ
lại ăn một bữa thịt bò
thật no nữa.
Vô-Kỵ đỡ
lấy tay nảy thịt bò, đáp:
- Mong các vị
thành công đuổi được
bọn Mông-Cổ ra khỏi bờ cõi
để bá tánh đều có
bữa
cơm ăn.
Nguyên-Chương,
Từ-Đạt, Thanh-Hòa nghe Vô-Kỵ
nói đều rùng mình sờn
lòng và đồng
thanh đáp:
- Chú em họ
Trương nói rất phải. Chúng ta
sẽ tái ngộ một ngày gần đây.
Mọi người
rút khí giới và đi ra khỏi
chùa. Thấy bọn họ đi rồi, Vô-Kỵ
nghĩ thầm:
- "Lần nầy
họ đi giết quân Mông-Cổ, nếu
ta không vướng Bất-Hối thì
cũng theo họ ngay.
Họ chỉ có
bảy người, chắc không địch
lại kẻ địch quá đông đâu.
Rồi đây bọn Mông-Cổ với
tráng đinh
của nhà Viên ngoại sẽ đuổi
theo tới đây chém giết cho
kỳ sạch. Ta không ở lại
đây được".
Đoạn Vô-Kỵ
xách tay nải thịt bò, dắt Bất-Hối
ra khỏi chùa đó. Trong đêm
tối, hễ thấy
đường
là đi, hai đứa trẻ đi
được năm sáu dặm bỗng
thấy phía Bắc có ánh sáng
đỏ rực trời,
ngọn lửa
bốc lên rất mạnh.
Vô-Kỵ biết
là bọn Nguyên-Chương, Từ-Đạt
đã thành công, hiện giờ
có lẽ đang đốt nhà
Viên ngoại.
Vô-Kỵ mừng rỡ vô cùng.
Đêm hôm đó, hai đứa
lại ngủ trong rừng. Sáng sớm
hôm sau, cả
hai lại đi về phía tây. Suốt
dọc đường chịu đói,
chịu rét khổ sở khôn tả.
Cũng
may cha mẹ Bất-Hối
đều là những tay võ nên
con nhỏ cũng khỏe mạnh hơn người,
vì vậy đi
xa như thế
mà không hề sinh bệnh, thỉnh thoảng
cảm mạo sơ sài. Vô-Kỵ hái
thuốc sống
trong rừng
cho cô bé uống là khỏi ngay.
Hai đứa
nhỏ cứ ngày đi đêm nghỉ,
đi một chốc lại nghỉ một chốc
nên mỗi ngày chỉ đi được
độ hơn
hai mươi dặm. Chúng đi được
mười lăm, mười sáu
ngày mới tới biên giới
tỉnh
Hà-Nam. Lúc
ấy Hà-Nam cũng đang lâm vào
tình trạng mất mùa, xác người
chết đói nằm
ngổn ngang đầy
đường.
Vô-Kỵ đã
tự chế cung tên để bắn
chim và giết thú, nướng ăn
đỡ lòng. Cũng nhờ vậy,
bữa no
bữa đói,
hai đứa lại may mắn giữa
đường không gặp một quan quân
Mông-Cổ nào, cũng
không gặp
một nhân vật giang hồ nào. Còn
những tên gian đồ vô loại
thường, thì địch sao
nổi Vô-Kỵ.
Một hôm,
ở giữa đường Vô-Kỵ
gặp một ông già đang nói chuyện
phiếm, y bèn hỏi thăm
Tọa-Vọng-Phong
trên núi Côn-Luân ở đâu
thì ông già trợn trừng đôi
mắt, kinh hãi trả lời:
- Núi Côn-Luân
ở cách đây hàng mười
vạn dặm. Nghe nói hồi xưa, chỉ có
Đường-Tăng đi
thỉnh kinh mới
qua đó thôi. Cậu với cô
bé chẳng lẽ điên rồi hay
sao mà định đi đến đó
?
Nhà các
cháu ở đâu, mau mau đi về
đi.
Vô-Kỵ nghe
nói, nản chí vô cùng và nghĩ
thầm:
- "Núi Côn-Luân
xa như vậy, chắc không thể nào
đi đến nơi được. Ta
đành về núi Võ-Đang
gặp Thái
sư phụ trước rồi hãy quyết
định sau."
Nhưng y lại
sực nghĩ:
- "Người
ta đã nhờ vã mình lúc
hấp hối, thì dù đường
sá khó khăn đến đâu
mình cũng không
thể giữa
đường bỏ dở như thế
được. Đời sống của
mình rất ngắn ngủi, nếu trước
khi chết
mình không
đưa được Bất-Hối tới
nơi tới chốn thì thật là
không nên không phải với Kỷ
cô
nương."
Thế rồi,
y không nói chuyện với ông già
kia nữa, liền dắt tay Bất-Hối
đi luôn. Hai đứa đi
được
hơn mười ngày, quần áo
rách tả tơi, mặt mũi tiều tụy
khôn tả. Điều đó không
khiến
Vô-Kỵ phiền
não, y chỉ bực mình nhứt là
Bất-Hối cứ hỏi mẹ luôn,
mà hễ không thấy mẹ là
con bé lại
khóc lóc hàng nửa ngày.
Ngày nào
cũng vậy, y phải tốn biết bao hơi
sức mới khuyên Bất-Hối
nín khóc. Một hôm cả
hai tới
sông Trú-Mã, trời về cuối
thu sang đông, gió bấc rét mướt.
Hai đứa bé quần áo rách
rới, càng
không chịu nổi giá lạnh.
Vô-Kỵ liền
cởi chiếc áo rách của mình
cho Bất-Hối mặc. Bất-Hối thấy
vậy hỏi:
- Đại ca
không rét sao ?
Vô-Kỵ đáp:
- Anh không rét,
anh đang nóng lắm.
Nói xong,
chàng ta nhảy nhót vài cái cho đỡ
run. Bất-Hối lại nói:
- Anh đối
đãi với em tử tế quá,
anh cũng rét mà lại đưa áo
cho em mặc.
Đột nhiên
Bất-Hối biết nói như người
lớn. Vô-Kỵ ngạc nhiên vô
cùng. Đang lúc ấy bỗng
nghe phía sau
sườn núi có tiếng khí
giới va chạm và có tiếng chân
di động, kế Vô-Kỵ lại
nghe một thiếu
nữ la lớn:
- ác tặc,
mi đã trúng Tán-Môn-Đinh tẩm
độc của ta rồi. Mi càng chạy
nhanh bao nhiêu càng
chóng chết
bấy nhiêu.
Vô-Kỵ liền
kéo Bất-Hối nằm phục xuống
bụi lau ẩn núp. Hai người chưa
nằm yên đã thấy
một chàng
tuổi trạc ba mươi, thân hình vạm
vỡ, đang chạy tới.
Cách sau chàng
ta chừng mấy trượng, có một
thiếu nữ tay cầm song đao đuổi
theo. Người
đàn ông
chạy loạng choạng mấy bước,
đột nhiên ngã lăn ra mặt đất.
Thiếu nữ đuổi tới nơi
vừa cười
vừa nói:
- ác tặc,
ta bảo mi thế nào mi cũng chết bởi
tay cô nương có sai đâu ?
Chàng nọ
đột nhiên nhảy phắt lên, múa
song chưởng đánh vào ngực
thiếu nữ một cái. Thế
võ của
chàng ta phát ra trước khi chết
nên sức lực càng mạnh lạ
lùng. Thiếu nữ nọ bị đánh
trúng hai chưởng
vứt song đao ra xa rồi ngã lăn
ra đất. Chàng nọ thở hổn
hển, thò tay về
phía sau lưng,
rút mũi Đinh-Tán-Môn ra, hậm
hực nói:
- Đưa thuốc
giải cho tôi !
Thiếu nữ
đáp:
- Muốn giết
thì giết, ta nhứt định không
đưa thuốc giải.
Chàng nọ
nhặt luôn con dao, dí mũi dao vào cổ
nàng, tay phải thì cho vào túi khám
xét,
khám mãi
không gặp thuốc giải. Thiếu nữ
liền cười nhạt, nói:
- Lần nầy
sư phụ phái chúng tôi đi bắt
anh, chỉ trao ám khí độc mà không
trao thuốc giải.
Bây giờ
tôi bị anh kềm chế thì tôi
cũng không muốn sống nữa, còn
anh cũng chưa chắc
thoát chết
được đâu.
Chàng thanh niên
tức giận vô cùng, cầm mũi
đinh Tán-Môn có độc kia ném
vào vai thiếu nữ
và quát
lớn:
- Này cho cô
nếm mùi độc của Tán-Môn.
Cô là người trong phái Côn-Luân...
Chàng ta nói
chưa dứt thì chất độc trên
lưng đã bộc phát, người
anh mềm nhũn, anh ngã lăn
ra đất
nằm sóng sượt. Thiếu nữ
muốn bò dậy, nhưng vết thương
ở ngực quá nặng cũng khạc
ra một đống
máu tươi rồi ngồi phịch xuống.
Thế là,
một nam một nữ đều nằm
lăn ra bên lề đường, hô
hấp nặng nề như sắp chết. Từ
khi
chữa khỏi
cho bọn Dãn-Tiệp và Công-Viễn
rồi bị chúng trả ơn bằng cách
định giết mình mà
ăn thịt
Vô-Kỵ càng ngán người võ
lâm nên chàng ta cứ núp một
bên, ló đầu ra xem chớ
không dám
can thiệp cứu chữa cho hai người
ấy. Lát sau, nghe chàng thiếu niên
thở dài mấy
tiếng và
nói:
- Ngày hôm
nay Tô-Tập-Chi chết ở điếm
Trú-Mã nầy mà vẫn ân hận
vì không hiểu rõ mình
lỗi gì
với phái Côn-Luân của cô,
nên không nhắm mắt êm xuôi.
Chẳng hay Chiêm cô nương
có thể
nào cho tôi biết rõ nguyên nhân
chăng ?
Lời của
chàng lúc này không có vẻ
gì tức hận. Thiếu nữ nọ,
họ Chiêm tên là Xuân, cũng
biết thứ
ám khí có chất độc rất
lợi hại nàng sẽ cùng chàng
kia chết đến nơi, nên nản chí
và u
oán đáp:
- Ai bảo anh lén
xem sư phụ luyện kiếm ! Trong khi sư phụ
luyện pho Long Hình Nhứt Bút
kiếm thì
ai không được phép, dù là
đệ tử ruột đi nữa mà
lén xem cũng bị tội tức thì.
Huống
hồ anh là
người ngoài.
Tập-Chi kêu
lên một tiếng rồi nói tiếp:
- Khốn nạn
thật ! Đáng chết ! Đáng chết
!
Chiêm-Xuân
càng nổi giận, nói:
- Anh sắp chết
đến nơi mà còn cả gan mắng
sư phụ tôi phải không ?
Tập-Chi đáp:
- Tôi chửi
thì đã sao nào ? Chẳng lẽ
tôi chửi oan ? Tôi đi qua núi
Bạch-Ngưu thì ngẫu
nhiên thấy
sư phụ cô luyện kiếm. Lòng hiếu
kỳ thúc đẩy tôi mới
đứng lại xem một hồi. Tôi
đâu phải
là một người thông minh tài
trí tới mức chỉ đứng
xem một lúc mà đã học được
hết
pho kiếm pháp
đó ? Nếu quả thật tôi có
bản lãnh như thế thì mấy tên
đệ tử Côn-Luân đã
làm gì
nổi tôi nào ? Chiêm cô nương,
nói thật cho cô nương hay, sư phụ
của cô là
Thiên-Cầm
Tiên Sinh nhỏ nhen quá. Đừng
có nói là tôi chưa học được
một thế hay nửa
miếng của
pho kiếm ấy mà dù tôi có
học được đôi chút đi
nữa, tội của tôi cũng không
đến
nỗi chết
kia mà.
Chiêm-Xuân
lẵng lặng, lòng nghĩ thầm:
- "Sư phụ
mình cũng quá câu chấp. Thấy
anh Tập-Chi lén xem luyện kiếm liền
phái sáu sư
huynh ta đuổi
theo và bắt giết. Nếu không, ta
đâu đến nỗi toi mạng như
thế này ? Người nầy
nói là
y chưa học lóm võ công của sư
phụ chắc thật chớ không phải
bịa đặt đâu".
Tập-Chi lại
tiếp:
- Thế sư
phụ cô đưa ám khí bôi độc
cho các cô mà không đưa cho thuốc
giải phải không ?
Đấy, cô
xem, trong võ lâm có một trưởng
môn nào lại có thủ đoạn
hèn như thế không ? Đồ
khốn nạn...
Chiêm-Xuân
dịu giọng nói:
- Tô đại
ca, tiểu muội hại anh như vậy, trong lòng
bứt rứt vô cùng. Nhưng, bây
giờ tôi cũng
chết theo anh,
có lẽ là số kiếp chúng
ta như vậy. Chỉ tội nghiệp cho đại
tẩu, công tử và tiểu
thơ ở
nhà thôi. Tôi thật ăn năn quá.
Tập-Chi thở
dài nói:
- Hai năm trước,
nhà tôi đã chết vì đau
ốm, chỉ còn lại một đứa
con trai và một đứa con gái
thôi. Ngày
mai, chúng nó sẽ mồ côi, đã
không mẹ nay còn mất cha !
- Nhà anh còn
những ai nữa ? Có ai trông nom
hai đứa trẻ đó không ?
- Lúc nầy,
chúng đang được chị dâu
tôi trông nom. Tánh nết của chị
dâu tôi nóng nảy và
điêu ngoa.
Lúc nhà tôi còn sống, chị
dâu tôi còn nể nang phần nào.
Ôi ! Từ nay trở đi hai
đứa
trẻ sẽ khổ sở vô cùng.
Chiêm-Xuân
là người rất tốt bụng,
nghe Tập-Chi nói, ứa nước
mắt và khẽ đáp:
- Tất cả
mọi việc đều do em gây nên cả.
- Điều
nầy không thể trách cô được.
Cô thừa lệnh rất nghiêm của
sư phụ cô chớ cô có thù
gì
tôi đâu.
Sự thật tôi bị cô ném phải
ám khí có chất độc tôi
chết đã đành, hà tất
tôi còn đánh
cô một chưởng
và dùng ám khí ném lại cô
như thế. Bằng không nếu tôi
nói thật sự tình cho
cô hay, thì
cô là người nhân từ
chắc cô cũng chịu trông hộ hai
trẻ cho tôi.
- Tôi là
hung thủ đã giết anh, sao anh lại còn
bảo tôi là người nhân từ
?
- Tôi không
trách cô. Thực đấy ! Tôi
không trách cô đâu !
Lúc nãy
hai người đánh nhau trí mạng,
bây giờ hai người lại an
ủi nhau.
Nghe tới
đó Vô-Kỵ liền nghĩ thầm:
- "Hai người
nầy tâm địa đều hiền
lành cả, huống hồ nhà người
họ Tô lại còn hai đứa trẻ
mồ
côi không
ai nuôi nấng dạy bảo."
Đoạn, Vô-Kỵ
nghĩ tới đời sống cô
đơn của mình với Bất-Hối,
quả thật là gian truân khổ sở
vô cùng,
nên y liền đi ra khỏi bụi lau lên
tiếng hỏi:
- Chiêm cô
nương, thuốc độc bôi trên
Tán-Môn-Đinh kia là thứ thuốc
độc gì thế ?
Tập-Chi và
Chiêm-Xuân đột nhiên thấy từ
trong bụi lau có một thiếu niên và
một thiếu nữ
chui ra, ngạc nhiên
vô cùng. Lại nghe Vô-Kỵ hỏi, cô
càng kinh ngạc thêm. Vô-Kỵ nói
tiếp:
- Tại hạ
hơi biết chút y học, vết độc
thương của hai vị may ra có thể
chữa khỏi được, hồ
quí
cô nương
nói rõ thuốc đó thuộc loại
gì ?
Chiêm-Xuân
đáp:
- Thuộc loại
thuốc độc gì ? Tôi cũng
không được biết, chỉ thấy
vết thưng ngứa lắm mà
không đau
chút nào. Theo lời nói của
sư phụ tôi thì ai bị Tán-Môn-Đinh
ném trúng, chỉ
sống được
bốn tiếng đồng hồ là cùng.
Vô-Kỵ nói
tiếp:
- Để tôi
xem thử vết thương của hai vị
ra sao ?
Tập-Chi và
Chiêm-Xuân thấy Vô-Kỵ còn ít
tuổi, quần áo lại lam lũ, mặt
mũi tiều tụy, trông
như một tên
ăn xin vậy thì làm sao tin được
y có thể chữa khỏi cho mình.
Tập-Chi lại
nói:
- Hai chúng tôi
chết đến nơi rồi, cậu đừng
ở đây nói lôi thôi nữa.
Cậu làm ơn đi xa hộ chúng
tôi.
Vô-Kỵ không
trả lời, cứ việc cúi xuống
nhặt mũi Tán-Môn-Đinh đưa
lên mũi ngửi. Những
ngày gần
đây, hễ được rỗi
rãi là Vô-Kỵ giở cuốn
Độc Vật Đại Toàn của Nạn-Cô
ra nghiên
cứu, nên
rõ hết tất cả những độc
vật, độc dược trên đời.
Y ngửi mùi thơm thơm đó,
biết
ngay thuốc độc
bôi ám khí lấy ở một thứ
hoa độc tên là Thanh-Đà-La.
Thứ hoa nầy vốn dĩ
không có
độc tính; dù uống cả một
bát nước hoa đó cũng
không việc gì, nhưng chất ấy hòa
hợp với
máu tươi thì biến thành một
chất độc rất nặng, và mùi
đang tanh hôi biến thành mùi
thơm của
hoa Lan. Vô-Kỵ liền lên tiếng nói:
- ám khí
nầy bôi chất độc của hoa Thanh-Đà-La
đấy.
Chiêm-Xuân
không biết ám khí đó bôi
bằng thuốc độc gì, nhưng nàng
biết trong vườn hoa
của sư phụ
có trồng Thanh-Đà-La nên nàng
ngạc nhiên và hỏi:
- Sao cậu lại
biết ?
Vì nàng
biết hoa Thanh-Đà-La này là một
thứ hoa độc, xuất xứ ở
Tây-Vực chớ ở trong
Trung-Thổ nầy
hiếm lắm. Vô-Kỵ gật đầu
đáp:
- Tất nhiên
tôi có biết thì tôi mới
nói.
Nói xong, y dắt
tay Bất-Hối và bảo:
- Chúng ta đi
thôi !
Chiêm-Xuân
vội gọi lại:
- Chú em nếu
chú biết cách chữa thì làm
ơn cứu hai chúng tôi với.
Sự thật
Vô-Kỵ có lòng muốn cứu
hai người đó nhưng y sực
nghĩ tới bộ mặt hung ác của
Dãn-Tiệp
và Công-Viễn đang đòi ăn
thịt người, liền sờn lòng
quyết không chữa cho hai
người
nầy nữa. Tập-Chi cũng lên tiếng:
- Cậu em, vừa
rồi tại hạ có mắt mà không
biết Thái-Sơn, xin cậu đừng
trách cứ nữa nhé !
Vô-Kỵ nghe
hai người nói như vậy, nghĩ
ngợi giây lát rồi đáp:
- Thôi được,
để tôi chữa thử xem.
Nói xong, y liền
giơ tay ra điểm vào yếu huyệt
giữa ngực và hai bên vai của
Chiêm-Xuân để
cho nàng khỏi
đau đã, rồi lên tiếng nói:
- Chất hoa Thanh-Đà-La
nầy hễ gặp máu mới sinh ra
độc, nên dù có uống vào
trong bụng
cũng không
hề gì. Hai vị trước hết
hãy lấy mồm hút chất độc
ở vết thương ra, hút tới
khi
nào thấy
vết máu trong vết thương đã
tươi mới thôi !
Tập-Chi và
Chiêm-Xuân nghe vậy đều ngượng
ngập, nhưng họ nghĩ lại cứu
sống tánh mạng
quan trọng hơn
mà vết thương của người
nào cũng vậy, tự mình không
thể nào hút lấy được,
đành phải
lần lượt hút máu độc
lẫn cho nhau.
Vô-Kỵ kiếm
quanh đó lấy được hai vị
thuốc, bỏ vào mồm nhai nát rồi
rịt lên vết thương cho
hai người,
kế nói:
- Ba vị thuốc
nầy có thể khiến cho hơi độc
tạm thời không thể lâm nguy. Chúng
ta hãy tới
thị trấn
phía đàng kia, tôi sẽ đến
tiệm thuốc hốt vài thứ thuốc
để chữa độc thương cho
hai vị.
Vết thương
của hai người đang ngứa ngáy
khó chịu, sau khi rịt thuốc sống
của Vô-Kỵ vào
liền cảm
thấy mát mẻ dễ chịu ngay, đồng
thời cũng cảm thấy chân tay
không còn tê tái nữa.
Cả hai đồng
cảm ơn Vô-Kỵ luôn mồm đoạn
bẻ một cành cây làm gậy để
chống, rồi từ từ
tiến về
phía thành thị.
Trong khi đi đường,
Chiêm-Xuân hỏi Vô-Kỵ là học
trò của ai. Vô-Kỵ không muốn
nói rõ,
chỉ bảo
mình biết chữa từ hồi
nhỏ thôi.
Đi được
một lúc lâu, bốn người
tới Sa-Hà-Điếm, liền vào
khách điếm nghỉ ngơi. Vô-Kỵ
vội
viết một
toa thuốc bảo phổ kỵ đi hốt.
Cũng may, năm
đó tỉnh Hà-Nam chưa hề bị
thiên tai nên dân cư còn bát
cơm và manh áo
mặc. Mặc
dầu thỉnh thoảng cũng bị quan binh
Mông-Cổ tới quấy nhiễu, nhưng
ở thị trấn
Sa-Hà-Điếm
nầy các tiệm buôn bán vẫn
mở cửa như thường. Phổ
kỵ cầm toa thuốc của
Vô-Kỵ đi
hốt thuốc về, Vô-Kỵ liền đem
thuốc vào bếp sắc hộ, rồi
mang ra cho Chiêm-Xuân
và Tập-Chi
uống.
Bốn người
ở khách điếm đó luôn
ba ngày, ngày nào Vô-Kỵ cũng
thay đổi toa thuốc hay
thay thuốc rịt
bên ngoài.
Đến ngày
thứ tư, Tập-Chi và Chiêm-Xuân
đã lành mạnh như thường,
cả hai đều cám ơn
Vô-Kỵ khôn
tả. Họ hỏi Vô-Kỵ và Bất-Hối
định đi đâu thì Vô-Kỵ
liền cho biết là mình và
Bất-Hối
định lên Tọa-Vong-Phong trên núi
Côn-Luân.
Chiêm-Xuân
liền nói:
- Tô đại
ca, tánh mạng của chúng ta còn là
nhờ chú em nầy. Nhưng năm vị
sư huynh của tôi
còn đang
đi khắp nơi tìm kiếm đại
ca, như vậy việc nầy vẫn chưa kết
liễu đâu, chi bằng đại
ca đi cùng
chúng tôi lên núi Côn-Luân
một phen có hơn không ?
Tập-Chi nghe nói
kinh ngạc hỏi:
- Lên núi
Côn-Luân ?
Chiêm-Xuân
đáp:
- Phải, tôi
dẫn đại ca lên núi Côn-Luân
bái kiến sư gia và thưa rõ với
sư gia là đại ca chưa
học lóm
được một thế hay nửa
miếng Long Hình Nhất Bút kiếm. Nếu
được gia sư lượng thứ
cho, đại
ca không còn bị quấy nhiễu nữa.
Bằng không, hậu quả sẽ không
sao tưởng tượng
được.
Tập-Chi nghe nói,
trong lòng tức giận vô cùng,
hầm hực nói:
- Phái Côn-Luân
của cô nương hà hiếp người
ta quá lắm, tôi chỉ nhìn có
một cái thôi mà
suýt tý
nữa bị xuống âm phủ.
Chiêm-Xuân
với giọng nhu mì khuyên chàng:
- Tô đại
ca nên nghĩ hộ tiểu muội, việc nầy,
kể ra rất khó. Tôi nói cho gia sư
hay là đại ca
chưa học một
thế kiếm nào, chưa chắc gia sư
đã tin đâu. Tiểu muội bị
khiển trách cũng
không sao, nhưng
rủi năm vị sư huynh của tiểu muội
lỡ tay đã thương đại
ca thì tiểu muội
thật áy
náy vô cùng.
Hai người
vào chết ra sống cùng chung hoạn
nạn trong mấy ngày liền nên đã
nẩy nở tình
yêu, yêu
dấu lẫn nhau do đó Tập-Chi nghe Chiêm-Xuân
nói như vậy, bao nhiêu sự tức
tối
đều tiêu
tan.
Chàng lại
nghĩ:
- "Phái Côn-Luân
người nhiều thế mạnh, nếu
chúng cứ theo dõi mà quấy
nhiễu ta, không
sớm thì
chầy tánh mạng ta cũng sẽ bị
kết liễu".
Chiêm-Xuân
thấy Tập-Chi ngẩn người ra nghĩ
ngợi, liền nói tiếp:
- Đại ca
cứ đi cùng tôi một phen, nếu
đại ca có việc gì rất khẩn
cấp, thì chờ đi Côn-Luân
xong tiểu muội
sẽ giúp đại ca làm xong việc
đó.
Tập-Chi cả
mừng đỡ lời:
- Được,
cứ thế vậy. Nhưng không biết
tôn sư có chịu tin lời nói
đó không ?
- Xưa nay sư
phụ vẫn cưng em, nếu em cứ khăng
khăng van cầu thì chắc gia sư cũng
sẽ tha
thứ cho
anh.
Tập-Chi biết
là nàng đã có lòng yêu
mình, nên chàng cũng cảm thấy
cởi mở vô cùng, liền
nói với
Vô-Kỵ:
- Chú em, chúng
ta cùng lên núi Côn-Luân cả.
Chiêm-Xuân
cũng xen lời nói:
- Dãy núi
Côn-Luân dài hàng nghìn dặm
và có rất nhiều ngọn không
biết Tọa-Vong-Phong
ở nơi
nào. Mình cứ tới đó
đã rồi hỏi thăm thì thế
nào cũng sẽ kiếm ra được.
Ngày hôm
sau, Tập-Chi thuê một chiếc xe lớn
để cho Vô-Kỵ và Bất-Hối
ngồi, còn mình và
Chiêm-Xuân
cưởi ngựa. Đi tới thị
trấn lớn ở phía trước,
Chiêm-Xuân lựa mua mấy bộ quần
áo mới
cho Vô-Kỵ và Bất-Hối mặc. Hai
người tắm rửa và thay quần
áo xong, Tập-Chi thấy
Vô-Kỵ rất
anh tuấn và Bất-Hối cũng xinh đẹp
lạ lùng, đều vỗ tay khen ngợi.
Bắt đầu từ lúc
này trở
đi, hai đứa nhỏ mới khỏi
cảnh đi đường khổ sở,
ăn được ngon, ngủ kỹ, thân
thể cũng
khỏe mạnh
và béo tốt dần.
Càng đi,
tiết trời càng lạnh. Suốt dọc
đường nhờ Tập-Chi và
Chiêm-Xuân trông nom cho, vì
hai người
đều là những nhân vật
có tên tuổi trong võ lâm nên
đi suốt dọc đường được
bình
an. Khi tới
Tây-Vực, Vô-Kỵ mới hay thế
lực của phái Côn-Luân quả
thật hùng hậu nên bốn
người
đi đến đâu cũng không
bị ngăn cản.
Nhưng ở
miền Tây-Bắc nầy, cát vàng
rất nhiều và gió lạnh buốt
xương. Vô-Kỵ còn có thể
chịu nổi,
chớ Bất-Hối thì suốt ngày
run cầm cập. Không bao lâu, đã
tới eo núi Tam-Thánh
của dãy
núi Côn-Luân, rồi khi vào trong eo
núi, mọi người chỉ thấy
cỏ xanh mọc khắp nơi
có rất
nhiều hoa thơm cỏ lạ. Tập-Chi với
Vô-Kỵ đều không ngờ trong
cõi hoang vu giá lạnh
nầy lại
có cảnh đẹp nh động tiên.
Thì ra eo núi Tam-Thánh nầy bốn
bề đều có vách núi
ngăn cản
gió lạnh nên cảnh trong eo nầy mới
được tươi đẹp như
thế. Đồng thời, từ khi
Côn-Luân
Tam-Thánh Hà-Túc-Đạo lập môn
phái, trong bảy tám mươi năm trời,
đã tốn
không biết
bao hơi sức để chỉnh đốn
và còn sai đệ tử đi Giang-Nam,
Thiên-Trúc bứng đem
về những
hoa thơm cỏ lạ trồng cho thêm đẹp.
Chiêm-Xuân
đưa ba người tới Thiết-Cầm-Cư,
chỗ ở của Thiết-Cầm Hà-Thái-Xung.
Vừa vào
đến cửa
đã thấy các sư huynh đệ
của nàng có vẻ gay cấn vô
cùng. Những người đó
chỉ gật
đầu chào
nàng chớ không hề nói năng
gì cả.
Chiêm-Xuân
nghĩ thầm:
- "Không biết
đã xầy ra chuyện gì mà các
sư huynh đệ ta có vẻ gay cấn như
thế."
Đoạn nàng
kéo một người sư muội lại
gần hỏi:
- Sư phụ có
ở nhà không ?
Người
sư muội đó chưa kịp trả lời,
nàng đã nghe tiếng quát tháo
của Thái-Xung từ trong
nhà vọng
ra:
- Đồ vô
dụng, vô dụng ! Có việc gì bảo
các ngươi làm là không ai làm
nên trò trống gì cả !
Như vậy, ta
còn thâu các ngươi làm đệ
tử làm chi ?
Tiếp theo đó,
nàng lại nghe tiếng đập bàn
rất lớn, nàng khẽ nói với
Tập-Chi:
- Sư phụ em
đang nỗi giận, chúng ta không nên
vào yết kiến lúc nầy để
sáng mai xem sao.
Thái-Xung đột
nhiên lớn tiếng hỏi:
- Con Chiêm-Xuân
đâu ? Nó về chưa ? Tại sao nó
không vào gặp ta ? Nó lén lút
nói với ai
bên ngoài
thế ? Không biết nó có mang thủ
cấp của họ Tô về đây
không ?
Chiêm-Xuân
nghe sư phụ nói vậy biến sắc,
vội vào nội đường quỳ
xuống vái lạy và thưa:
- Đệ tử
xin bái kiến sư phụ.
Thái-Xung lại
hỏi:
- Ta sai con đi
làm việc đó, chẳng hay con làm
xong chưa ? Còn tên tiểu tặc họ
Tô đâu ?
Chiêm-Xuân
đáp:
- Người
họ Tô đang chờ đợi
ngoài kia để vào thỉnh tội với
sư phụ. Y nói chỉ là người
ngu
dốt, chỉ
tình cờ thấy sư phụ luyện
kiếm, nhưng kiếm pháp của bổn
phái tinh diệu vô cùng,
chẳng hiểu
gì hết và cũng không học được
nửa miếng.
Nàng theo sư
phụ lâu năm, biết tánh sư phụ
rất tự phụ vì thế nàng
cố ý nói Tập-Chi khen
ngợi võ
công của thầy để Thái-Xung
trong lòng cởi mở thì sẽ
vui vẻ mà tha tội cho Tập-Chi.
Nếu là
lúc thường mà nàng nói
vậy thì Thái-Xung trúng kế nàng
ngay. Nhưng hôm nay,
Thái-Xung đang
nóng nảy, nên nghe Chiêm-Xuân nói
vậy, chỉ dùng giọng mũi hừ
một tiếng
và nói:
- Việc này
con đã làm xong, đáng khen lắm.
Con hãy giam tên họ Tô vào thạch
thất ở phía
hậu sơn để
mai mốt ta sẽ xử y sau.
Chiêm-Xuân
thấy sư phụ đang nổi giận, không
dám van lơn nữa, vâng lời
ngay rồi nàng lại
hỏi thăm:
- Thưa sư phụ,
năm vị sư mẫu đều mạnh
giỏi cả ? Để con vào trong vái
lạy.
Thì ra Thái-Xung
có vợ và nàng hầu, tất
cả năm người. Y cưng nhất
người thiếp thứ năm.
Muốn cầu
sư phụ tha tội cho Tập-Chi, Chiêm-Xuân
định vào nhờ sư mẫu nói
giúp.
Ngờ đâu
nàng vừa nói xong, Thái-Xung tỏ
vẻ rầu rĩ, thở dài một
tiếng và đáp:
- Con vào thăm
cô Năm đi, cô ấy đang đau
nặng. Cũng may con về kịp mới
được gặp mặt
cô ta.
Chiêm-Xuân
ngạc nhiên hỏi lại:
- Cô Năm
đau ra sao, chẳng hay bệnh gì thế,
thưa sư phụ.
Thái-Xung thở
dài đáp:
- Nếu biết
là bệnh gì thì may mắn lắm
rồi. Ta mời bảy thầy lang tên
tuổi đến khám bệnh mà
thầy nào
cũng không biết cô ta bệnh gì.
Một người đẹp như hoa như
ngọc mà sưng... Hà !
thôi, không
nói nữa...
Y vừa nói
vừa lắc đầu lia lịa rồi
tiếp:
- Ta thâu bấy
nhiêu đồ đệ mà không
một tên nào là hữu dụng.
Bảo chúng đi
Trường-Bạch-Sơn
kiếm nhân sâm, mà gần hai tháng
rồi chưa đứa nào trở
về. Bảo chúng đi
kiếm Tuyết-Liên,
Thủ-Ô về chữa cho cô Năm
mà những tên đó đều
về tay không cả.
Chiêm-Xuân
nghĩ thầm:
- "Từ đây
đi tới núi Trường-Bạch
xa hàng vạn dặm, đi trong bao nhiêu lâu
làm sao mà về
kịp được.
Dù có
tới núi Trường-Bạch cũng
chưa chắc tìm đưc những củ
nhân sâm thật già. Còn
Tuyết-Liên
và Thủ-Ô là những thứ
thuốc rất quí báu có thể
cải tử hồi sinh, kiếm cả đời
chưa
chắc đã
thấy, nhứt thời đi tìm
kiếm thì làm sao mà ra.
Sư phụ yêu
tiểu thiếp đó còn hơn cả
tính mạng mình, nay bà ta mắc bệnh
nặng và bất trị thì
tất nhiên
ông ta phải nổi giận mà mắng
lây những người khác."
Thái-Xung lại
nói tiếp:
- Ta đã
dùng nội lực để thăm kinh
mạch của cô Năm thì thấy không
có triệu chứng gì khác
lạ. Hừ,
nếu cô Năm mà không khỏi thì
ta sẽ giết hết cả những thầy
lang trên thiên hạ nầy.
Chiêm-Xuân
chờ Thái-Xung nói xong, liền nói
theo:
- Con xin phép
sư phụ vào thăm cô Năm.
- Được,
để sư phụ dẫn con vào.
Chiêm-Xuân
vừa bước vào phòng đã
ngửi thấy sặc mùi thuốc. Nàng
bèn vén màn lên, thấy
mặt cô Năm
sưng vù tựa như Trư Bát Giái
vậy, hai mắt sâu hõm, xung quanh mắt
sưng đến
mí, mắt
không sao mở lên được,
hơi thở rất nặng. Cô Năm
là một giai nhân tuyệt đẹp, bằng
không Thái-Xung
đâu đến nỗi say mê nàng
như vậy, nhưng lúc này nàng đau
ốm, mặt mũi
trở nên
xấu xí, cả Chiêm-Xuân cũng
phải thương tiếc thầm.
Thái-Xung lại
bảo Chiêm-Xuân:
- Con ra bảo những
thầy lang băm ấy vào coi mạch lại
xem sao.
Nhưng, vú
già hầu hạ trong phòng đã
lẹ làng đi ra. Một lát sau, Chiêm-Xuân
nghe tiếng
xích kêu
"loon coon", tiếp theo đó là bảy
thầy lang mặc áo dài đi vào,
chân đều bị xiềng
xích sắt
quấn chặt vào nhau. Người nào
người nấy mặt mũi tiều
tụy, thần sắc đau khổ.
Thì ra bảy
người nầy đều là những
thầy lang có tên tuổi ở các
tỉnh Tứ-Xuyên, Vân-Nam,
Cam-Túc... Thái-Xung
sai đệ tử đi các nơi nửa
thỉnh nửa bắt cóc đem lên
núi Côn-Luân.
Bảy vị
danh y đó mỗi người phát
biểu một ý kiến, có người
bảo cô Năm bị phù, có người
bảo cô
Năm bị trúng tà. Nhưng các toa
thuốc của họ đã viết đem
đi hốt thuốc cho cô Năm
uống đều
không làm cho bệnh cô Năm thuyên
giảm tí nào trái lại, người
của cô Năm càng
ngày càng
sưng vù thêm, nên Thái-Xung nổi
giận xiềng chặt bọn họ lại và
bảo:
- Nếu họ
không chữa khỏi bệnh cho cô Năm,
thì ta sẽ chôn sống họ theo trong mộ
của cô
Năm.
Bảy thầy
lang đó đã nghĩ hết phương
pháp mà không sao chữa cho cô
Năm thuyên giảm.
Họ cũng
biết không thể nào sống sót
mà trở về quê quán nếu
cô Năm có bề gì, nên mỗi
lần
họ vào
thăm bệnh xong trở ra ngoài là
bàn tán về toa thuốc nầy, về
toa thuốc kia và lớn
tiếng tranh luận,
ông nầy công kích ông kia, vu cho nhau
đã làm cho căn bệnh của cô
Năm
nặng thêm
chớ không ai chịu lỗi về mình
cả.
Lần nầy
cũng vậy, vừa xem mạch xong là
họ ra ngoài lại cãi vã nhau. Thái-Xung
vừa lo,
vừa giận,
vừa lớn tiếng mắng chửi
họ. Nhờ vậy, bảy lang y đó
mới không cãi vã nhau nữa.
Chiêm-Xuân
thấy vậy liền nghĩ tới Vô-Kỵ,
nàng bèn thưa với Thái-Xung:
- Thưa sư phụ
con ở Hà-Nam có đưa về
đây một vị lang y, tuổi tuy còn
nhỏ nhưng mát tay,
thế nào
cũng giỏi hơn những lang y kia nhiều.
Thái-Xung cả
mừng nói:
- Sao con không
nói sớm cho thầy hay ! Mau mời
ông ta vào đây đi !
Thì ra, mỗi
khi một danh y mời tới là Thái-Xung
đối xử rất cung kính, nhưng
khi danh y đó
trở nên
lang băm thì y trở mặt.
Chiêm-Xuân
ra ngoài khách sảnh đưa Vô-Kỵ
vào. Vừa thấy mặt, Vô-Kỵ
nhận ngay ra
Thái-Xung là
người trong bọn năm xưa đã
lên núi Võ-Đang và bức
tử cha mẹ mình nên y
tức giận
thầm. Nhưng Thái-Xung không nhận ra y
vì đã cách bốn năm năm
rồi, vả lại tướng
mạo và
thân hình của Vô-Kỵ đã
thay đổi rất nhiều. Vô-Kỵ là
một thiếu niên mười bốn
mười
lăm tuổi,
gặp Thái-Xung mà không thèm chấp
tay thi lễ còn liếc mắt nhìn về
phía khác.
Nhưng lúc
nầy vì phải nhờ đến
Vô-Kỵ nên y cũng không chấp
nhất, bèn hỏi Chiêm-Xuân:
- Con nói đưa
thầy lang vào, vậy thầy lang ấy đâu
?
Chiêm-Xuân
đáp:
- Chú em nầy
là thầy lang đấy ! Tuy nhỏ tuổi
nhưng y học của chú ấy rất cao,
có lẽ giỏi hơn
cả các
vị danh y kia nhiều.
Có vẻ
không tin, Thái-Xung chỉ dùng giọng
mũi hừ một tiếng. Chiêm-Xuân
lại nói:
- Đệ tử
bị trúng phải chất độc của
hoa Thanh-Đà-La may nhờ chú em này
chữa khỏi.
Thái-Xung nghe
nói cũng giật mình và nghĩ
thầm:
- "Trúng phải
chất độc của Thanh-Đà-La mà
không có thuốc giải độc của
ta thì người trúng
độc thể
nào cũng chết. Thằng nhỏ nầy
chữa khỏi được chất
độc đó kể cũng lạ thật"
Đoạn y ngắm
Vô-Kỵ một hồi rồi hỏi:
- Thiếu niên
kia, cậu biết chữa bịnh thật à
?
Nghĩ đến
cảnh cha mẹ mình đã chết một
cách thê thảm nay lại thấy bộ
mặt của Thái-Xung
hung ác, Vô-Kỵ
càng ghét y. Nhưng vốn là người
lương thiện, xa nay thù ai cũng vậy,
chỉ
một thời
gian ngắn thôi, bằng không, khi nào
cậu chịu chữa bệnh cho Hiểu-Phù
và bọn
Dãn-Tiệp.
Cậu biết rõ phái Côn-Luân cũng
có liên can tới cái chết của
cha mẹ nhưng cậu
không thể
bắt chước Hồ-Thanh-Ngưu, thấy
chết không cứu, nên rốt cuộc
cậu đã cứu chữa
cho Tập-Chi và
Chiêm-Xuân. Cũng như lúc nầy
chẳng hạn, cậu nghe Thái-Xung nói mình
như một đứa
con nít, trong lòng tuy không vui, nhưng cậu
vẫn gật đầu nhận chữa.
Vô-Kỵ vừa
bước chân vào trong phòng đã
ngửi thấy mùi kỳ lạ xông
lên mũi nhưng một lát
sau cậu đã
thấy mùi kỳ lạ ấy phai lạt
dần, rồi giây phút sau lại nồng
lên như trước. Y ngạc
nhiên vô
cùng, bèn tiến tới giường
cô Năm, ngắm nhìn mặt cô ta một
hồi, kế nắm tay thăm
mạch rồi
đột nhiên lấy một cây kim vàng
ra chăm luôn vào bộ mặt sưng vù
của nàng.
Thái-Xung kinh
hãi, vội quát hỏi:
- Cậu làm
gì thế ?
Y vừa quát
vừa giơ tay định kéo Vô-Kỵ
lại, nhưng Vô-Kỵ đã rút
mũi kim kia ra. Có một
điều lạ
là mặt Cô Năm không có nước
vàng hay máu mủ gì rỉ ra cả.
Thái-Xung để một tay ở
phía sau lưng
Vô-Kỵ, định điểm vào yếu
huyệt của cậu, nếu y thấy nàng
thiếp của y lâm
nguy. Sau y thấy
cô Năm vẫn nằm yên, nên thâu
tay lại. Vô-Kỵ đưa mũi kim lên
mũi ngửi,
gật đầu
mấy cái. Lúc nầy, Thái-Xung mới
thấy có chút ít hy vọng, và
lên tiếng hỏi:
- Cậu... cậu
em... xem bệnh của tiện nội có hy vọng
chữa khỏi không ?
Y là tôn
trưởng của một môn phái,
mà chịu Vô-Kỵ là cậu em như
thế, kể ra cũng nể Vô-Kỵ
vô cùng.
Vô-Kỵ không
trả lời, bỗng cúi mình chui
luôn vào gầm giường cô
Năm xem xét một hồi rồi
lại mở
cửa sổ ngó ra ngoài vườn
hoa. Thấy cử chỉ của Vô-Kỵ,
Thái-Xung cũng ngạc nhiên
vô cùng.
Vô-Kỵ lại nhảy qua cửa sổ,
thưởng thức các thứ
hoa thơm cỏ lạ ngoài vườn.
Cô
Năm ưa trồng
hoa, nên trong vườn đó đều
trồng những thứ hoa rất quý.
Một lát
sau, Vô-Kỵ gật đầu mấy cái,
hình như đã nghĩ ra được
phơng pháp cứu chữa, rồi
quay trở
vào trong phòng, và trả lời
Thái-Xung:
- Bệnh này
có thể chữa khỏi, nhưng tôi
không muốn chữa. Chiêm cô nương,
chúng ta đi ra
thôi.
Chiêm-Xuân
vội khuyên:
- Chú em họ
Trương, nếu chú chữa khỏi
bệnh cho cô Năm thì phái Côn-Luân
này, từ già chí
trẻ, đều
chịu ơn đức của chú vô
cùng.
Vô-Kỵ chỉ
vào mặt Thái-Xung, đáp:
- Thiết-Cầm
tiên sinh đây cũng là người
đã bức tử cha mẹ tôi,
như vậy, tôi chữa bịnh cho
người
của ông làm gì !
Thái-Xung nghe
Vô-Kỵ nói vậy, giật mình kinh ngạc
và vội hỏi:
- Chú em quí
tính danh là gì ? Lệnh tôn và
lệnh đường là ai ?
Vô-Kỵ đáp:
- Tôi họ
Trương, phụ thân tôi đệ tử
thứ năm của phái Võ-Đang.
Thái-Xung rùng
mình nghĩ thầm:
- "Thế ra thiếu
niên này là con trai của Trương-Thúy-Sơn
!"
Đoạn, y
bèn vái chào Vô-Kỵ và nói
tiếp:
- Hồi lệnh
tôn còn sống cùng tại hạ kết
giao rất thân. Từ khi lệnh tôn
tự sát qua đời tới
giờ,
tại hạ vẫn
thương tiếc luôn...
Muốn nhờ
vả Vô-Kỵ cứu chữa cho người
hầu thiếp cưng của mình, Thái-Xung
mới nói láo
như vậy. Chiêm-Xuân
cũng nói giúp sư phụ:
- Sau khi lệnh
tôn và lệnh đường quá
cố, gia sư đã khóc mấy ngày
và thường nói với chúng
tôi rằng:
"Trương ngũ hiệp là bạn tri kỷ
nhất trong đời của gia sư đấy."
Vô-Kỵ bán
tín bán nghi, nhưng xưa nay tính cậu
không hay nhớ dai những mối thù
hận, nên
ngẫm nghĩ
giây lát, liền đáp:
- Phu nhân không
phải mắc bệnh quái dị gì đâu.
Bà bị rắn độc Kim-Ngân Huyết-xà
cắn đấy.
Thái-Xung với
Chiêm-Xuân đồng thanh hỏi:
- Kim-Ngân Huyết-xà
?
|